Ý kiến thăm dò

Bạn đánh giá thế nào về cổng thông tin điện tử huyện Thiệu Hóa

Truy cập

Hôm nay:
908
Hôm qua:
1178
Tuần này:
908
Tháng này:
41000
Tất cả:
2881786

BÁO CÁO KẾT QUẢ KIỂM KÊ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THIỆU HÓA NĂM 2015

Đăng lúc: 28/08/2017 (GMT+7)
100%

BÁO CÁO KẾT QUẢ KIỂM KÊ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THIỆU HÓA NĂM 2015

ỦY BAN NHÂN DÂN

HUYỆN THIỆU HÓA


Số: 67/BC - UBND

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Thiệu Hóa, ngày 4 tháng 11 năm 2015

BÁO CÁO

KẾT QUẢ KIỂM KÊ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ

TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THIỆU HÓA NĂM 2015


Căn cứ Luật Di sản Văn hóa ngày 29 tháng 6 năm 2001và Luật sửa đổi, bổsung một sốđiều của Luật Di sản Văn hóa ngày 18 tháng 6 năm 2009;

Căn cứ Nghị định 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản Văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản Văn hóa;

Căn cứ Thông tư 04/2010/TT-BVHTTDL ngày 30/6/2010 của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch quy định việc kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể và lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể để đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia;

Thực hiện Kế hoạch 27/KH-UBND ngày 9/5/2011 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hoá về việc tổ chức triển khai công tác kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn toàn tỉnh;

Thực hiện Kế hoạch 812/KH-SVHTTDL ngày 18/5/2012 của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc kiểm kê Di sản Văn hóa phi vật thể trên địa bàn Tỉnh; Công văn số 591/SVHTTDL-DSVH ngày 10/3/2015 của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc phối hợp kiểm kê Di sản văn hóa phi vật thể;

Ủy ban nhân dân huyện Thiệu Hóa phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch triển khai thực hiện kiểm kê Di sản văn hoá phi vật thể trên địa bàn toàn huyện với 230 thôn, làng thuộc 28 xã, thị trấn. Sau khi tiến hành tổng kiểm kê, Ủy ban nhân dân huyện báo cáo kết quả như sau:

I. KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN THIỆU HÓA

1. Vị trí địa lý, kinh tế, xã hội:

Nằm ở khu vực đồng bằng của tỉnh Thanh Hóa, huyện Thiệu Hóa có diện tích là 17.547.52ha; dân số là 178.107 người (theo thống kê điều tra năm 2009). Phía Bắc tiếp giáp với huyện Yên Định, phía Nam tiếp giáp với huyện Đông Sơn, phía Tây giáp với hai huyện Triệu Sơn và Thọ Xuân, phía Đông giáp huyện Hoằng Hóa và Thành phố Thanh Hóa.

Thiệu Hóa được cấu tạo bởi phù sa trải trên một bề rộng nghiêng dần về phía Đông Nam, rìa phía Bắc và Tây Bắc là các dải đất cao từ 8m-15m được cấu tạo bằng phù sa cổ. Trong cái bằng phẳng như rất nhiều khu vực xung quang, vẫn bắt gặp những khoãng đồi núi mờ xa hoặc rải rác quang quất. Những đồi núi sót như núi Bằng Trình (còn gọi là núi Trịnh, Thái Bình - Thiệu Hợp), núi Đọ (còn gọi là núi Tràn – Thiệu Tân), núi Nuông (còn gọi là Khuyển Ngọa Sơn – núi chó nằm, Thiệu Long), núi Là (Thiệu Tiến) và núi Mấu (2 ngọn núi đá gần nhau thuộc Thiệu Ngọc, Thiệu Vũ, Thiệu Thành, Thiệu Tiến) hầu hết đều có độ cao trung bình từ 150-200m so với mặt nước biển, được cấu tạo bằng đá phun trào, đá vôi, cát kết và đá phiến. Đồi núi cùng với địa hình dốc nghiêng đã tạo ra thuận lợi trong việc xây dựng các công trình thủy nông tự chảy hoặc làm cho nước dễ tiêu rút. Nhiều khu vực do quá trình hình thành phải trãi qua thời gian dài nâng lên hoặc lún xuống, phù sa sông Mã và sông Chu không bồi đắp kịp nên đã tạo ra nhiều vùng thấp trũng. Trãi qua hàng ngàn năm, nhân dân Thiệu Hóa bỏ ra biết bao công sức để tạo nên hàng trăm kilômét đê đại hà, đê quai, đê con trạch dọc theo các triền sông, nhưng ngoài phần hạn chế tác hại do lũ lụt gây ra con người đã góp phần ngăn cản quá trình bồi đắp phù sa cho các vùng thấp trũng, để đến nay vẫn còn tới 3.000ha dễ bị mất trắng trước mưa bão thuộc các xã Thiệu Duy, Thiệu Thịnh, Thiệu Hợp, Thiệu Quang, Thiệu Long, Thiệu Giang, Thiệu Nguyên và một số vùng cục bộ rải rác ở các xã hữu ngạn sông Chu, xấp xỉ 100ha.

Trừ một vài khu vực ở Thiệu Hợp, Thiệu Thịnh khi con sông Chu chỉ còn 3km nữa thì gặp sông Mã, đã phải chảy xuyên qua một khối đá vôi biến tính còn ở nhiều khu vực khác, các sông Mã, sông Chu, sông Cầu Chầy đổi dòng liên tục, để lại nhiều đoạn sông chết ngoằn ngoèo lâu dần thành các hồ bán nguyệt hoặc vành khăn.

Ở phía ngoài đê, nhiều dải phù sa màu mỡ được bồi đắp có khi còn nhô cao hơn cả đất ở phía nội đồng, chỉ bị ngập nước khi lũ lớn. Nhưng nhìn chung các bãi bồi ven sông thường thấp, chỉ trồng được hoa màu vào mùa khô. Như vậy trên địa bàn Thiệu Hóa việc tiêu úng và chống rửa trôi vẫn là vấn đề đáng quan tâm.

Đồng bằng Thiệu Hóa có đủ các loại đất như phú sa cổ, phù sa mới bồi đắp, cát, sét. Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh, người ta chia chúng làm hai hệ chính:

- Đất phù sa hình thành trên trầm tích không bồi tụ hàng năm.

- Đất Feralit phát triển trên hình đồi núi.

Theo số liệu thống kê mới nhất, toàn huyện huyện có 10.565,7ha đất nông nghiệp với 10.289,08 ha đất canh tác hàng năm. Ngoài ra còn co 101.13ha đất lâm nghiệp; 291,10ha mặt nước nuôi trồng thủy sản; 1.543,17ha đất thổ cư; 2185,02ha đất chưa sử dụng, trong đó có 298,91ha đất có khả năng lâm nghiệp. Trước đây các xã ven sông Cầu Chầy có nhiều cánh rừng tự nhiên.

Do nằm trong khu vực dân cư đông đúc nên mức độ tàn phá cảnh quan ở đây diễn ra mạnh mẽ khiến cho cấu trúc và đặc trưng của vùng bị biến đổi khá sâu sắc.

Các kiến trúc nhân tạo như kênh, mương, đê điều và các công trình xây dựng khác đã làm cho địa hình không còn nguyên trạng như ban đầu. Vả lại, đây là khu vực sẽ tập trung các đầu mối kinh tế, các điểm quần cư lớn nên quỹ đất giành cho canh tác sẽ còn giảm đi rất mạnh, do đó cần đầu tư nhiều vào thâm canh, cải tạo đất và xây dựng các tập đoàn cây hợp lý.

Đặc trưng của khí hậu Thiệu Hóa biểu hiện khá rõ yếu tố khí hậu nhiệt đới: có một mùa đông lạnh và khô; các ngày đầu xuân ẩm ướt, âm u do thiếu nắng cộng với mưa phùn và sương mù kéo dài; mùa mưa đến muộn hơn các nơi với nhiều ngày khô nóng do gió Tây Nam tạo nên. Mỗi năm có tới 1.500 giờ nắng cho nên lượng bức xạ hàng tháng đều dương, cơ bản có lợi cho vật nuôi và cây trồng. Nhưng thiệt hại nhất là bão lụt và khô hạn, luôn là mối đe dọa tiềm ẩn cho sản xuất nông nghiệp và đời sống con người. Chỉ cần có lượng mưa từ 200-250mm là đủ gây úng lụt cho 1/3 diện tích gieo trồng của toàn huyện.

Nhận xét về khí hậu của khu vực, sách Đại Nam Nhất Thống Chí đã viết “tháng giêng và tháng hai gió Đông Bắc, khí trời hơi lạnh. Tháng ba và tháng tư gió Đông Nam, khí nóng bắt đầu sinh. Tháng năm và tháng sáu gió nồm thổi mạnh phần nhiều nòng nực. Tháng bảy và tháng tám, thường có gió Tây Nam, thỉnh thoảng mưa rào hoặc mưa lũ hoặc có bảo. Khoãng thời gian Thu sang Đông thường có gió lạnh hoặc mưa dầm, lại hay có bão nhỏ (tục ngữ nói: tháng chín bão rươi, tháng mười bão cá). Tháng một và tháng chạp gió bất chợt rét. Cuối tiết đại hàn khí trời sang xuân, sấm bắt đầu dậy”.

Chế độ thủy văn trên địa bàn Thiệu Hóa khá phong phú với 5 sông lớn nhỏ chảy qua.

Sông Mã phát nguyên từ vùng tây bắc có chiều dài 522 km, trong đó có 245km chảy qua Thanh Hóa. Sông vượt qua nhiều vùng rừng núi có địa hình phức tạp, nguồn nước nhiều, tốc độ dòng chảy cao, diện tích lưu vực tới 9000km2. Khi vào tới địa bàn Thiệu Hóa, sông mã chảy trên một dạng địa hình mặt bằng chiếm ưu thế, độ cao tương đối không lớn, độ chia cắt rất yếu vì điều cơ bản là địa hình Thiệu Hóa vốn là một bán bình nguyệt cũ mới được nâng lên. Thêm vào đó là lượng mưa ở đây giảm đi nhiều so với vùng thượng lưu. Hai đặc điểm này đã khiến cho mạng lưới sông ngòi kém phát triển tại lưu vực sông mã. Hạ lưu sông Mã độ dốc lại nhỏ, lòng sông mở rộng nên nước chảy không mạnh vì phía trung và thượng lưu nước lũ ác liệt đã ảnh hưởng đến nước lũ ở hạ lưu rõ rệt. Mùa lũ nước đổ dồn rất mạnh, nước lên nhanh và thường gây ra lụt. Bước sang tháng 10, tháng 11 mực nước và lưu lượng của các sông xuống thấp, dòng chảy nhỏ nhất xuất hiện vào tháng 3 chỉ chiếm 2,4 -2,6% lưu lượng dòng chảy cả năm.

Sông Chu ngắn hơn sông Mã nhưng diện tích lưu vực cũng tới 3000km2 và mật độ sông suối cũng tăng hơn nhờ băng qua khu vực mưa nhiều. Từ Bái Thượng trở xuống, sông Chu chảy qua vùng đồng bằng có độ cao mặt đất thay đổi từ 15 - 90m rồi nhập vào sông mã ở Doanh Xá (ngã ba Giàng), cách cửa sông 25,5km. Lượng nước sông Chu chiếm khoãng 1/4 lượng nước sông Mã. Nước lũ trên sông Chu cũng xảy ra khá ác liệt. Trên các phụ lưu chính, nơi địa hình mới được nâng cao, mưa nhiều và chảy trên những vùng phiến nham ít thấm nước. Đê sông Chu bắt đầu từ phía trên Thọ Xuân nhưng chỉ đắp bên hữu ngạn. Từ Thọ Xuân xuống, đê đắp cả hai bên.

Sông cầu Chày (Ngọc Chùy Giang) là một sông nhỏ ở đồng bằng nhưng vì nằm ở trung tâm mưa lớn gần làng Chánh nên lũ rất mạnh. Trong khi đó lòng sông lại hẹp, cửa sông bị nước sông Mã ứ sang cho nên dễ sinh ra úng lụt. Sông Cầu Chày dài 87,5km xưa nổi tiếng là có nhiều chướng khí:

“Cầu Chày chó lội đứt đuôi,

Ngựa lội đứt vó trôi xuôi Vực Vàng”

Trên địa phận Thiệu Hóa có 2 sông nhỏ nữa. Sông Dừa bắt nguồn từ Như Xuân chảy dọc phía Nam của huyện và sông Mậu Khê xuất phát từ núi Vạc (Thiệu Ngọc) chảy qua cầu Kịt (Thiệu Long) đổ vào sông Chu ở cống Chấn Long (còn gọi là cống Nạp, hay cống Mười cửa – Thiệu Hợp). Nước của các sông này đều có độ khoáng nhỏ, hàm lượng hữu cơ thấp, nghèo phù sa, ít biến đổi theo thời gian. Tuy nhiên đó lại là những tài sản vô cùng quý giá, làm thỏa mãn về nước sinh hoạt và đáp ứng những đòi hỏi về tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp.

Nguồn tài nguyên chính của Thiệu Hóa chủ yếu là vật liệu xây dựng (đá vôi, đá xây dựng, cát) phân bố ở Thiệu Ngọc, Thiệu Vũ, Thiệu Tiến, Thiệu Hợp, Thiệu Hưng, Thiệu Đô. Trữ lượng lớn về đất sét đủ cung cấp cho sản xuất gạch ngói cũng là một tiềm năng có nhiều hứa hẹn.

Lưu vực sông mã, sông Chu và các dãi núi sót phân bố ở đôi bờ hai con sông từ thời cánh tân đã có con người sinh sống. Dấu vết của người vượn cũng như những công cụ của họ đã tìm thấy ở núi Đọ (Thiệu Tân), núi Nuông (Tiên Nông – Thiệu Long).

Núi Đọ tọa lạc ở hữu ngạn sông Chu, nơi hợp lưu của sông Chu - sông Mã có độ cao 159m, sườn dốc thoải 20-250. Loại đá tạo nên núi Đọ là đá kết thực hạt mịn, màu xanh xám và khá cứng nên khi ghè đẽo tuy khó nhưng dễ tạo ra cạnh rất sắc, phù hợp với việc chế tạo công cụ thời Nguyên Thủy. Trên sườn núi Đọ, ở độ cao 30-40m còn có nhiều đá bazan gốc.

Người Nguyên Thủy ở núi Đọ, núi Nuông đã dùng đá đẽo đá. Ngoài việc tạo ra loại rìu từ đá bazan, các công cụ gần hình rìu, họ còn tạo ra các mãnh tước để dùng tỏng việc cắt gọt và các hạch đá, các công cụ chặt thô. Họ sống chủ yếu bằng hái lượm và săn bắn. Hàng ngày từng bầy người tụ tập với nhau đi nhặt ốc ven sông Chu, hái quả và đào củ trong núi rừng xung quanh. Cuộc sống của họ cứ thế trãi qua hàng vạn năm, cứ sinh sôi nảy nở và sáng tạo. Mở đầu thời đại đồng thau ven đôi bờ sông Mã, sông Chu lớp cư dân cồn Chân Tiên nằm sát phía đông nam núi Đọ đã trở thành cốt lõi đầu tiên trong việc hình thành bộ Cữu Chân trong Nhà nước Văn Lang. Người cồn Chân Tiên dã từng đạt tới trình độ cao trong kỹ thuật mài, tạo ra các loại rìu mài vát một bên; làm được nhiều đồ gốm nung (nồi, vò, bát, đĩa), chế tạo bàn xoay, có trang trí hoa văn và chiều chì lưới.

Từ văn hóa cồn Chân Tiên, người dân Thiệu Hóa đã bước vào nền văn hóa Đông Sơn với các chứng tích tìm thấy ở Thiệu Dương.

Tại đây, ngoài rìu đồng được con người sử dụng để khai phá đất đai, đã có thêm những công cụ bằng đồng, bằng sắt như lưỡi cày, lưỡi liềm, mai, thuổng và đặc biệt là lưỡi cày cánh bướm. Tại Thiệu Dương trong một đợt khai quật thu được 11 lưỡi cày loại này cùng với nhiều xương và đầu trâu, 2 chiếc liềm đồng. Những công cụ bằng đồng và nguồn sức kéo trên cho phép họ mở rộng diện tích trồng trọt trên quy mô lớn, làm cho nông nghiệp có bước phát triển. Đã xuất hiện nghề đánh cá với các lưỡi câu có ngạnh. Các thợ đá chuyển sang chế tác đồ trang sức. Nghề đan lát đã xuất hiện với các kiểu đan lóng mốt, lóng đôi, lóng nia, lóng thúng. Thợ làm nhà, thợ đóng thuyền và làm công cụ và đồ dùng bằng gỗ ngày càng nhiều. Các dọi xe chỉ bằng gốm và dấu tích vải tìm thấy trong các mộ ở Thiệu Dương chứng tỏ nghề dệt đã có mặt. Nghề gốm đã cho ra lò nhiều sản phẩm có độ nung cao, được trang trí hoa văn tinh tế. Nghề đúc đồng phát triển cực thịnh, làm được nhiều loại vũ khí và đồ dùng (mũi lao, mũi tên, rìu, dao găm, kiếm, giáo, lưỡi cày, lưỡi đục, kim khâu, ấm đồng, thạp đồng, trống đồng, đồ trang sức, lục lạc).

Chính hạt nhân cồn Chân Tiên và sau đó là Thiệu Dương đã tạo nên sự hình thành đô thị Tư Phố với những hoạt động buôn bán sôi nổi, đầu mối giao thông thủy bộ của cả vùng từ năm 111 trước công nguyên. Tư phố ngự trị giữa ngã ba sông M㠖 sông Chu đã trở thành đầu mối gắn kết các tụ điểm dân cư Thiệu Dương, Đông Sơn, núi Nấp, núi Sỏi, Hoàng Lý, Hoằng Quỳ. Nó cũng thúc đẩy nghề nông, nghề làm vườn, nghề chăn nuôi, nghề đánh cá, nghề gốm, nghề dệt và nghề rèn sắt phát triển.

Cũng chính từ trung tâm này đã nuôi dưỡng những cừ súy, thủ lĩnh người Việt hùng cứ ở hương thôn để phát triển thành những hào trưởng cự tộc có ảnh hưởng lớn trong vùng như Dương Đình Nghệ ở Dương Xá (làng Giàng-Thiệu Dương), Lê Lương ở Bối Lý (Thiệu Trung) hoặc tỏa rạng đến tận kẻ Sập, Kẻ Mía-vùng quê của Lê Hoàn sau này. Kinh tế và văn minh sớm phát triển đã tu luyện nên một tiết độ sứ họ Dương, một Hoàng đế họ Lê trong buổi bình minh của nền độc lập dân tộc.

Trãi qua hàng ngàn năm lịch sử và nhiều lần xê dịch vị trí, địa giới, thay đổi tên gọi, đến giữa năm 1999, toàn huyện Thiệu Hóa có 193.000 nhân khẩu, với 44.909 hộ, mật độ dân số trung bình 1.143 người, thuộc loại cao nhất Thanh Hóa. Có tới 85% số hộ sống bằng nghề nông, còn lại hoạt động trong các lĩnh vực khác như thủy sản, dịch vụ, công nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp, và các ngành nghề khác. Bên cạnh một số xã dưới 1000 hộ như Thiệu Tân (687), Thiệu Minh (872), Thiệu Thịnh (922)…

Trong quá khứ, nghề đúc đồng ở Thiệu Hóa phát triển khá sớm và liên tục. Theo truyền thuyết, từ thời lý, dòng họ Vũ ở giáp Bối Lý đã đưa nghề đúc đồng vào làng Trà Đông – còn gọi là Chè Đúc. Sản phẩm chính của nghề đúc đồng ở đây là tượng, chuông và đồ dùng gia đình. Lúc đầu chỉ có một vài gia đình theo đuổi nghề này, dần dần lan rộng ra cả làng, do đó có khả năng cung cấp cho nhu cầu tiêu dùng của cả tỉnh. Chợ Chè ở Trà Đông trở thành chợ bán đồ đồng, thu gom nguyên liệu. Làng Rỵ bên cạnh được thu hút vào guồng máy của làng Chè Đúc (bán sản phẩm, cung cấp nguyên liệu). làng Dà, làng Bồ thì bán than Lim. Làng Nưa thì đưa tre, gỗ, nứa đến làng nghề.

Ở một góc độ nào đó, nghề chế biến thực phẩm ngày nay ở Thiệu Hóa cũng có nguồn gốc từ xa xưa. Kẻ Go là làng đã từng nổi tiếng về chế biến gạo và nấu bánh đúc (bánh đúc chợ Go, tày to Kẻ Lào. Bánh đúc chợ Go, trâu bò chợ Bản). Hồng Đô thì nổi tiếng về dệt lụa tơ (đẹp nhất là nhiễu Hống Đô, mênh mông bể sở, bãi ngô Kẻ Phùng). Lai Duệ chuyên sản xuất lục đũi bằng loại tơ tinh bạch và tốt. Kẻ Ràng – Dương Xá đan cót nứa. Kẻ Vồm-Đại Khánh chuyên đồ gốm (đít kẻ Vồm, mồm Kẻ Trịnh). Ngoài ra trong huyện còn làm được loại giấy chế từ câu trường lục, trắng và dai bền hơn giấy làm từ vỏ cây dó.

Nhưng rõ ràng hơn cả, Thiệu Hóa vẫn là một huyện thuần nông. Các nghề thủ công dù ra đời sớm hay muộn thì sản phẩm vẫn hướng vào cây lúa. Trong cuộc sống và quá trình vật lộn với thiên nhiên, nhân dân đôi bờ sông Chu đã luôn gặp phải những trắc trở chẳng riêng gì vùng Thiệu Tiến, Thiệu Thành:

“Khúc sông bên lở, bên bồi

Bên lở thì đói, bên bồi thì no”.

“Lộng Giang, Biểu Đức, Phác Đồng.

Trong 3 làng ấy còn mong nổi gì”.

Thiệu Hóa là vùng có những khu dân cư đông đúc và những đồng lúa mênh mông (đình Phù Nguyên, điền Yên Xá), những phiên chợ tấp nập bán mua, trên bến dưới thuyền chợ Đu (Thiệu Chính), chợ Trổ (Hậu Hiền), chợ Vạc (Thiệu Đô), chợ Go (Thiệu Châu), chợ Rỵ, chợ Chè (Thiệu Trung), chợ Vạn (Thiệu Hưng). Đến nay có tới 21/28 xã, thị trấn có chợ.

Cũng do là một huyện thuần nông nên hệ thống giao thông vận tải ở Thiệu Hóa chưa thật sự phát triển. Mặc dù toàn bộ số xã, thị trấn trong huyện đã có đường ô tô đến trung tâm xã, nhưng tỉnh lộ - huyện lộ đáng kể chỉ có tuyến Thanh Hóa – Rịa (Nho Quan, Ninh Bình) và ngã ba Chè đi Thiệu Toán. Đoạn đê từ làng Châu Trướng xuống ngã ba Đầu đến Thiệu Thịnh dài khoãng 10km thuộc tuyến đường đê sông Mã. Có lẽ ngày xưa, việc đi lại bằng đường thủy được sử dụng nhiều hơn. Trên sông Mã sâu rộng, thuyền bè trọng tải lớn có thể đi lại dễ dàng. Tuyến sông Chu từ ngã ba Giàng đến Chẩn Xuyên (Thiệu Ngọc), Bến Quản Xá (Thiệu Hợp), Xử Nhân (Thiệu Duy), Vãn Hà (Thiệu Hưng). Từ Chẩn Xuyên trở xuống, lòng sông bằng phẳng và rộng rãi, thuyền bè ra vào dễ dàng, đặc biệt là bến Vãn Hà. Khách đi trên sông đông nhất là người Nam Định. Ngay trên sông Cầu Chầy, thuyền bè có thể đi lại dễ dàng từ Ngã ba Châu Trướng ngược lên Ngã ba Bông ra Lèn, lên Cẩm Thủy, xuống Hàm Rồng hoặc ngược Hải Quật, Bái Ân, Cầu Si tới Cầu Lim lên Hoạt.

Cơ sở và mạng thông tin liên lạc trên địa bàn đã phủ khắp huyện và 26 xã đã có trạm bưu điện và 28/28 xã, thị trấn có trạm truyền thanh.

Trong tương lai, tiềm năng thiên nhiên và tài năng của con người Thiệu Hóa sẽ được phát huy mạnh mẽ để đưa quê hương sớm cập bến bờ của hạnh phúc, ấm no xây dựng một huyện đạt chuẩn nông thôn mới.

2. Văn hóa - xã hội và truyền thống yêu nước thương dân:

Lương Giang – Thụy Nguyên vốn là địa bàn cư trú của người Việt cổ. Từ đầu công nguyên đến thế kỷ thứ X, lớp cư dân bao quang vùng Tư Phố đã tiếp xúc và thu nhận được từ nền văn hóa Hán nhiều tinh hoa để tạo ra một ngôn ngữ Việt đồng bằng có nhiều dị biệt so với tiếng Việt do lớp cư dân ở vùng thượng du đang tồn giữ. Từ môi trường sinh thái, điều kiện xã hội đã dẫn đến sự phân chia tiếng Việt cổ thành hai nhánh Kinh-Mường. Lương Giang-Thụy Nguyên là một địa bàn đã chứng kiến quá trình biến đổi ấy. Cùng với sự chia tách ngôn ngữ là sự du nhập của Phật giáo vào địa phương.

Chùa Hương Nghiêm là một chứng tích sinh động cho nhận định này. Theo Kiền Ni Sơn Hương Nghiêm Tự Bi Minh dựng tháng giêng năm 1125 thì có nhiều khả năng chùa được xây dựng từ trước thế kỷ X vì khi Lê Đại Hành đi tuần du đến Ngũ huyện Giang thấy chùa chiền đã đổ nát, liền cho xây đắp tu bổ lại. Rồi tiếp đến Lý Thái Tông ghé thăm cảnh chùa, thấy cột kèo dã gãy hẳn cũng bỏ sức trùng tu. Năm 1087, Thiền sư Đạo Dung cháu của Trần quốc Bộc xạ Lê Lương lại xin cho sửa sang cao rộng. Năm 1091, có hai chàng Phó ký lang họ Thiều và họ Tô tâu xin lại khoảng ruộng của tiên tổ là quan Bộc Xạ. Vua xét tâu bèn trả lại giáp Bối Lý cho họ Lê. Đến mùa thu năm ấy, Lý Thường Kiệt cho chuộc lại đất, lập bia đá để chia ruộng cho hai giáp, chia đôi đầm A Lôi cho giáp Bối Lý, giáp Viên Đàm. Năm 1122, Thiền sư Đạo Dung về thăm cảnh cũ thấy nhân vật tuy đã đổi dời nhưng nước non vẫn như xưa, đền đài vẫn còn đó. Sư lập tức sai thợ giỏi đo đạc, trùng tu lại chùa. Trên đá chênh vênh tượng Phật uy nghiêm; mái hiên can thoáng mát; cửa ngõ thênh thang. Bên trái có một tòa lầu nguy nga, trong treo chuông lớn. Bên phải dựng tấm bia đá ghi chép công lao, ngõ hầu mong ngàn năm không mai một. Tường vách bao quanh, cách xa trần giới. Cỏ hoa tươi tốt ngạt ngào khói hương.

Nay nền cũ của chùa Hương Nghiêm vẫn còn ở Phủ Lý – Thiệu Trung, tục gọi là chùa Rỵ. Tương truyền khi đó lại có chùa Trịnh Nghiêm – tục gọi là chùa Go cấu trúc quy mô lớn rộng hơn, nên dân chúng có câu: chùa Go là chị, chùa Rỵ là em.

Chùa Thái Bính dựng trên núi Bằng Trình – một ngon núi đứng sững, đối diện với núi Bàn A, trước mặt trông ra sông mã. Núi nhỏ mà đẹp. Phía sau chùa có động đá, chạy thông suốt chênh chếch từ tây sang đông. Thiền sư Như Ngọ đã dựng tháp đá, am đá trong chùa.

Từ thời Trần, ở Thiệu Hóa không còn cảnh từ thị thành thôn ấp, đến sông núi khe ngòi, chùa nổi lên san sát, mái ngói xanh tiếp trời. Vì Nho Giáo đã có một vị trí khá vững chắc ở địa phương. Chính ngay mãnh đất Bối Lý nơi có chùa Hương Nghiêm đã sản sinh ra Lê Văn Hưu, người giành học vị bảng nhãn khoa thi năm 1247. Năm “Nhâm Thân Thiệu Long thứ 15 (1272) Hàn lâm viện Học sĩ kiêm Quốc sử viện Giám tu Lê Văn Hưu vâng lệnh soạn Đại Việt sử ký từ Triệu Vũ Đế đến Lý Chiêu Hoàng gồm 30 quyển, dâng lên, vua xuống chiếu khen ngợi”. Nhà sử học Lê Văn Hưu xứng đáng là đại thủ bút đời Trần và ông tổ của nền sử học Việt Nam.

Thời Trần, giáp Bối Lý còn sản sinh ra Đào Tiêu, đỗ Trạng nguyên khoa Thái học sinh năm Ất Hợi (1275) và Lê Quát, đỗ Thái học sinh đời vua Trần Minh Tông. Sang thời Lê, giáp Bối Lý (đổi gọi là Phủ Lý) vẫn giữ được truyền thống khoa bảng cử nghiệp của mình với 5 vị đại khoa. Một số làng khác như Đại Bối, Vãn Hà, Lam Sơn cũng trở thành những làng có truyền thống hiếu học, danh sách cụ thể như sau:

- Trần Văn Thiện, người Phủ Lý (Thiệu Trung), đỗ đồng Tiến sĩ khoa Quý Mùi (1463), làm đến hình bộ Thượng thư.

- Lê Quảng Dụ, người Lỗ Hiền (Thiệu Tâm), đỗ Hoàng giáp khoa Ất Mùi (1475) làm đến Án sát Ngự sử, đi sứ nhà Minh.

- Vũ Trật, người Lỗ Hiền (Thiệu Tâm), đỗ Hoàng giáp khoa Ất Mùi (1487), làm đến Giám sát Ngự sử.

- Lê Đình Quát, người Kim Hoạch (Thiệu Phúc), đỗ đồng Tiến sĩ khoa Canh Tuất (1490), làm đến Đô ngự sử.

- Trần Hữu Nho, người Cổ Đô (Thiệu Đô), đỗ Hoàng giáp khoa Canh Tuất (1490)

- Nguyễn Dục, người Phùng Cầu (Thiệu Thịnh), đỗ Tiến sĩ khoa Canh Tuất (1490).

- Lê Văn Hiến, người Đại Bối (Thiệu Giao), dỗ Hoàng giáp khoa Mậu Thìn (1508), làm đến Hữu thị lang.

- Hoàng Doãn Vũ, người Đại bối (Thiệu Giao), đỗ đồng Tiến sĩ khoa Mậu Thìn (1508), làm đến Hữu thị lang.

- Lê Bá Khang, người Phủ Lý (Thiệu Trung), đỗ đồng Tiến sĩ khoa Tân Mùi (1511), làm đến Tham chính.

- Nguyễn Quang Minh, người Vãn Hà (Thiệu Hưng), đỗ đồng Tiến sĩ Khoa Mậu Thìn (1628), làm đến Lại bộ tả thị lang tước Mỹ Lộc hầu, đã từng sang sứ nhà Minh.

- Lê Biện, người Phủ Lý (Thiệu Trung), đỗ Hoàng giáp khoa Tân Mùi (1631) làm đến Lại khoa đô cấp sự trung tước cẩm nham tử.

- Trương Quang Tiến, sau đổi là Luận Đạo, người Kim Hoạch (Thiệu Phúc), đỗ đồng Tiến sĩ khoa Canh Thìn(1640), làm đến Đông các Hiệu thư tước Mai lâm tử.

- Trịnh Văn Tuấn, người Tuấn Kiệt (Thiệu Phú), đỗ đồng Tiến sĩ lúc 56 tuổi, khoa Canh Thìn (1640), làm đến Hàn lâm hiệu thảo.

- Phạm Kiêm Toàn, người Địa Linh (Thiệu Tâm), đỗ đồng Tiến sĩ khoa Quý Mùi (1643), làm đến Thượng thư bộ binh twocs Thụy quận công.

- Vũ Kiêm, người Phủ Lý (Thiệu Trung), đỗ đồng Tiến sĩ khoa Bính Tuất (1646), làm đến Tham chính Sơn Tây.

- Trịnh Cao Đệ, người Vãn Hà (Thiệu Hưng), đỗ đồng Tiến sĩ khoa Canh Dần (1650), làm đến Tự khanh tước Lễ phái hầu.

- Nguyễn Quán Nho, người Vãn Hà (Thiệu Hưng), đỗ đồng Tiến sĩ khoa Đinh Mùi (1667), làm đến Lại bộ Thượng thư, đi sứ nhà Thanh. Ông nổi tiếng là người khoan hậu, có nhiều đóng góp với quê hương trong việc làm đường, xây cầu, tạo ra nếp thuấn phong mỹ tục.

- Nguyễn Đồng Lâm, người Ngọc Hoạch (Thiệu Phúc) đỗ đồng Tiến sĩ khoa Canh dẫn (1710) làm đến Giám sát Ngự sử.

- Lê Như Kỳ, người Yên Xá (Thiệu Duy), đỗ đồng Tiến sĩ khoa Mậu Thìn (1718), làm đến Hình bộ tả thị lang.

- Nguyễn Đức Hoành, người Nguyễn Xá (Thiệu Tâm), đỗ đồng Tiến sĩ khoa Giáp Thìn (1724) , làm đến Đô ngự sử.

- Trịnh Đồng Giai, người Ngọc Hoạch (Thiệu Phúc), đỗ đồng Tiến sĩ khoa Tân Sửu (1721) làm đến Hàn Lâm viên Đãi chế.

- Nguyễn Lệnh Tân, người Phù Lê (Thiệu Thịnh) đỗ đồng Tiến sĩ khoa Quý Mùi (1763), làm đến Đông các đại học sĩ.

- Dưới triều Nguyễn, Thiệu Hóa chỉ có 4 bậc đại khoa:

- Trần Lê Hiệu, người Phủ Lý (Thiệu Trung) đỗ đồng Tiến sĩ khoa Nhâm Ngọ (1822), làm đến Lang trung.

- Đỗ Khải, người Bằng Trình (Thiệu Hợp), đỗ phó bảng khoa Kỷ Dậu (1849).

- Lê Thế Quán, người Bái Giao (Thiệu Giao), đỗ phó bảng khoa Nhâm Dần (1892), làm đến đồng Tri phủ.

- Đỗ Xuân Phong, người Đoán Quyết (Thiệu Phúc), đỗ phó bảng khoa Quý Sửu (1913), làm đến Tri huyện Đức Phổ.

Ngoài 28 vị khoa kể trên, trong thời Nguyễn còn có 35 vị cử nhân: Lê Văn Luyện (Đại Bối – 1807), Hoàng Đức Nhân (Thọ Tân – 1813), Trần Lê Hiệu (sau đỗ đồng Tiến sĩ – 1891), Lê Quốc Thạc (Phùng Cầu – 1819), Trần Văn Tự (Phủ Lý – 1819), Đỗ Công Nho (Bái Giao – 1828), Lý Đăng Khoa (Đại Bối – 1831), Lê Thế Quán (sau đỗ phó bảng – 1840), Trần Văn Mỹ (Phủ Lý – 1843), Lê Khánh (Mật Vật – 1847), Đỗ Khải (sau đỗ phó bảng – 1848), Nguyễn Văn Duyên (Đoán Quyết – 1850), Lê Như Đễ (Yên Xá – 1950), Nguyễn Doãn Toại (Phùng Cầu – 1850), Nguyễn Hữu Duyên (Đại Bối – 1855), Hoàng Công Định (Phùng Cầu – 1858), Lê Duy Tự (Đại Bối – 1867), Lê Văn Thân (Phúc Lộc – 1867), Lê Duy Tiến (Chẩn Xuyên- 1867), Lê Duy Giản (anh Lê Duy Tự - 1867), Dương Văn Nhã ( Dương Xá – 1868), Nguyễn Đình Long (Yên Trường – 1870), Bùi Văn Hựu (Phù Nguyên – 1873), Lê Thiện Thi (con Lê Thế Quán - 1873), Phan Đình Tiến (Minh Linh – 1876), Lê Khắc Tạo (Bái Giao – 1879), Nguyễn Thọ Vực (Quảng Thi – 1879), Lê Hữu Vĩnh (Đại Bối – 1882), Nguyễn Tích (Đại Bối – 1891), Nguyễn Duy Thanh (Viên Quang hoặc Nguyệt Quang -1900), Lê Tuấn (Yên lạc – 1903), Lê Nguyên Vĩ (chấu Lê Quốc Thạc, em họ Lê Xuân Mai, Phùng Cầu 1906), Lê Xuân Mai (Phùng Cầu – 1909), Hoàng Tiến Cửu (Ngô Xá – 1912), Đỗ Xuân Phong (sau đỗ phó bảng 1913), Nguyễn Huy (Hổ Đàm – 1915).

Truyền thống hiếu học đến nay vẫn được nhân dân Thiệu Hóa phát huy. Toàn bộ 28 xã, thị trấn đều có trường phổ thông cấp II và lớp mẫu giáo. Có tới 19 xã giữ vững nhà trẻ và trên phạm vi toàn huyện có có 4 trường phổ thông cấp III đặt tại Thiệu Hưng, Thiệu Quang, Thiệu Đô, Thiệu Vận. Ngoài hàng ngàn người có trình độ đại học còn có hàng chục người đạt vị phó tiến sĩ, tiến sĩ ở trong nước và ngoài nước. Các làng Vãn Hà, Phùng Cầu, Phủ Lý vẫn tiếp nối được truyền thống cử nghiệp ngày xưa.

Thiên chúa giáo truyền vào Thiệu Hóa từ thế kỷ XIX, chủ yếu ở các làng dọc bờ sông Chu, nay thuộc các xã Thiệu Thịnh, Thiệu Vũ và một họ lẻ ở Thiệu Thành và 2 nhà thờ với 1726 giáo dân. Trong sự nghiệp cách mạng và hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ cũng như trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng bào theo Thiên chúa giáo ở Thiệu Hóa đã có nhiếu đóng góp, hy sinh về của cải và tính mạng, tích cực tham gia xây dựng quê hương giàu đẹp.

Thiệu Hóa có nhiều dòng họ sống xen kẽ trong các làng xóm. Đông hơn cả họ Lê, họ Nguyễn, họ Trịnh, họ Hoàng, cùng với các họ khác như (Bùi, Phan, Phạm, Dương, Đào, Minh, Đỗ, Ngô, Tạ, Mai, Trương, Trần…) hàng ngàn năm qua đã chung lưng đấu cật trên mãnh đất này và dòng họ nào cũng có đóng góp tài trí, vật lực cho quê hương. Dù lớn hay nhỏ, dòng họ nào cũng giữ cho mình truyền thống tưởng lệ đến công lao của tổ tiên và những bậc tiền bối có công với quê hương, đất nước. Đây là một mỹ tục đáng khích lệ vì trãi qua bao nhiêu năm tháng nó đã trở thành một tín ngưỡng dân gian. Ở Thiệu Hóa ngày xưa, hầu như làng nào cũng có đền miếu, phủ nghè, để quanh năm hương khói. Nhiều đền thờ ở địa phương đã trở thành quốc miếu như đền thờ Lê Văn Hưu ở Thiệu Trung, đền Nguyễn Quán Nho, đền thờ Đinh Lễ ở Thiệu Hưng. Bên cạnh đó là hàng chục đền miếu khác thờ các nhân thần, thiên thần ở Mật Vật, Vãn Hà, Lỗ Tự.

Hội hè, đình đám ra đời sớm và có nhiều nét độc đáo, hầu hết đều có trò diễn. Trò Ngô với 3 phường Ngô ở Bằng Trình (Thiệu Hợp), Chí Cường (Thiệu Quang) và làng Chuộc (Thiệu Tiến) – nằm trong hệ trò Văn Vương đến nay địa phương còn câu: “thứ nhất pháo Ngò, thứ nhì trò Chuộc”. Lại có hát chèo chãi, múa đèn chạy chữ ở Thiệu Quang. Làng Chuộc còn có nghề múa rối cổ diễn lại tích Lê Lợi đánh giặc, Lê Lợi chém Liễu Thăng, Đào viên kết nghĩa, phụng Nghi đình. Nhiều làng xóm khác ở Thiệu Hóa đều lập ra các phường hát tuồng, hát chèo hoạt động thường xuyên.

Kho tàng ca dao, tục ngữ của Thiệu Hóa thực sự là một tài sản vô giá của nền văn học dân gian Việt Nam. Vùng đất đầy những khắc nghiệt nhưng cũng chứa đựng biết bao tình cảm thân thương. Núi cao, sông rộng, nhà tranh, cầu gỗ… tất cả đi vào ca dao như những cung bậc trữ tình:

- Núi Vồm trước mặt cao cao

Nhác trông chốn ấy khác nào động tiên.

- Núi Hoa Phong gió trong như quạt

Nước Lương Giang bóng ngọt như gương.

Đất Doanh trông thể như giường

Quí thiêng đông đúc, trời sương dịu dàng.

- Ra về én bắc, nhạn đông

Hai hàng châu lệ đẫm sông Cầu Chầy.

- Ra về em những nhớ mong

Hai hàng châu lệ đẫm sông Cầu Chầy.

- Vọng đài bến cũ cờ giong

Um tùm cây đứng xa trông mịt mờ.

Nhà tranh thôn nhỏ lặng lờ

Chuông chùa văng vẳng đâu bờ bên kia

Chông chênh bãi nổi trâu quỳ

Tựa ghềnh ngư phủ chiều về ngóng mây.

- Đông kinh có bức địa đồ

Có sông tắm mát, có hồ Ngọc Châu.

Trước làng thì có bãi dâu

Đằng sau voi ngựa đứng chầu về nam.

Những xóm làng thân thương ấy còn lưu truyền trong thiên hạ bởi những con người đã sinh ra và trưởng thành từ mãnh đất ấy. Bên cạnh những con người văn võ song toàn (Đồng Mỹ văn Tiến sĩ, võ Quận công) là những người một lòng yêu quý quê hương:

- Ai về Vãn Hà mà coi

Coi ông quan Thượng mang voi làm đường.

Nhiều khi chỉ là những sự kiện, những đặc trưng riêng của một vùng như Thiệu Hợp cũng được khái quát vào tục ngữ (Họ Lê đắp đàng, họ Hoàng làm quan) hoặc giả chỉ là một số vật dụng nơi khác thường (Chiêng, Chàm, trống Họ, mõ Phù Nguyên). Đặc biệt, nhiều loại đặc sản và nghề nghiệp cũng được tục ngữ ghi nhận:

- Củi Phùng Cầu, cỏ lau Mật Vật

- Bạc Phú Lai, khoai Vãn Hà.

- Nhất tơ làng Hồng, nhất bông làng Vạc.

- Lúa làng Giàng ai đong cho hết

Gái làng Trịnh ai biết cho thông.

Có thể coi truyện phương Hoa do cử nhân Nguyễn Văn Duyên, người Đoán Quyết (Thiệu Phúc) sáng tác vào khoảng giữa thế kỷ XIX cũng thấy nhân cốt từ trong dân gian. Phương Hoa – con gái viên quan Ngự sử Trần Điện, quê Lôi Dương và Cảnh Yên – con trai quan Thượng thư Trương Đài, quê ở Thuần Lộc trãi bao tang tóc và oan trái, gia đình mới được minh oan, xum họp, Phương Hoa là một áng truyện nôm khá phổ cập và được nhân dân địa phương rất trân trọng.

Bằng tình yêu tha thiết quê hương, đất nước, từ bao đời nay nhân dân Thiệu Hóa đã xây dựng cho mình một truyền thống yêu nước và tinh thần chiến đấu quật cường, viết nên những trang sử hết sức tự hào.

Trong những năm đầu thế kỷ I, Hán Quang Vũ cử Nhâm Diên sang làm Thái thú Cửu Chân. Chính viên Thái thú này dã cấu kết với sĩ phu người Hán mở trường dạy học, truyền bá tư tưởng nho gia trên vùng đất Thanh Hóa lúc bấy giờ. Đây cũng là thời điểm cuộc khởi nghĩa Quận Giao Chỉ do hai anh em Trưng Trắc, Trưng nhị lãnh đạo. Ngay từ những ngày đầu của phòng trào, thủ lĩnh Đô Dương (Thiệu Dương) dã phối hợp với Chu Bá lãnh đạo nhân dân Cửu Chân vùng dậy hưởng ứng, chiếm được thành Tư Phố.

3. Lịch sử hình thành và tên gọi:

Thiệu Hóa ngày nay được cấu thành hai vùng đất thuộc huyện Quân Ninh và huyện Tư Phố trong quận Cửu Chân. Dấu tích thành Tư Phố - trị sở của quận và lỵ sở của huyện hiện vẫn còn tại làng Giàng (Dương Xá – Thiệu Dương) – điểm hội tụ đầu mối giao thông thủy bộ của khu vực.

Sang thời Lý - Trần, các huyện trên đổi tên là Lương Giang và Cửu Chân. Đến thời Lê, các tên gọi Thụy Nguyên và Đông Sơn được lần lượt thay thế.

Sở dĩ Quân Ninh được gọi là Lương Giang vì có sông Lương – tên gọi cũ của sông Chu. Đến thế kỷ XV, vào đầu thời Lê Thuận Thiên (1428), do là nơi phát tích của nhà Lê nên triều đình đem đất này đặt làm Tây Kinh và đổi tên huyện Thụy Ứng. Khi Lê Hồng Đức định bản đồ, cho huyện lỵ vào phủ Thiệu Thiên, lấy lại tên cũ là Lương Giang. Đời Đoan Khánh (1505-1509) đổi gọi là huyện Thụy Nguyên, Lỵ sở đặt tại Yên Lãng tổng Phú Hà (nay là xã Phú Yên- Thọ Xuân). Thời Nguyễn, dưới triều Gia Long, huyện lỵ dời về Mật Vật (nay thuộc xã Thiệu Phúc) rồi Bằng Trình tổng Phùng Cầu (sau đổi là Phùng Thịnh, nay Bằng Trình thuộc xã Thiệu Hợp). Dưới triều Minh Mệnh đóng hẳn ở Kiến Trung (Vãn Hà, tổng Mật Vật, nay thuộc xã Thiệu Hưng). Cũng dưới thời Nguyễn, vào năm 1815 phủ Thiệu Thiên đổi gọi là Phủ Thiệu Hóa, kiêm nhiếp 8 huyện (Quãng Bằng, Thạch Thành, Thụy Nguyên, Yên Định, Lôi Dương, Vĩnh Lộc, Đông Sơn, Cẩm Thủy). Từ 44 xã, 13 tổng, 17 trang, 1 sở, 6 trại, 13 phường thời Lê, đến đây huyện Thụy Nguyên có 8 tổng (Phùng Cầu, Mật Vật, Phù Chẩn, Thử Cốc, Phú Hà, Yên Trường, Quãng Thi, Ngọc Lặc) với 117 xã, trang.

Năm Thành Thái thứ 12 (1900), huyện Thụy Nguyên cắt tổng Ngọc Lặc, Yên Trường, Quãng Thi để lập châu mới thuộc vùng núi mang tên là Ngọc Lặc; chuyển tổng Phú Hà sang Lôi Dương để lập huyện Thọ Xuân; đồng thời nhận về tổng Lôi Dương của Thọ Xuân đặt làm tổng Xuân Lai; hai tổng Vận Quy, Đại Bối và một phần của tổng Thạch Khê của huyện Đông Sơn. Từ tên huyện Thụy Nguyên đã chuyển gọi là Phủ Thiệu Hóa gồm 8 tổng – trong đó 4 tổng thuộc hữu ngạn Sông Chu là Xuân Lai, Xuân Phong, Vận Quy, Đại Bối và 4 tổng tả ngạn là Thử Cốc, Phù Chẩn, Mật Vật, Phùng Cầu.

Cách mạng tháng tám thành công, toàn bộ tổng Thử Cốc được chuyển về huyện Thọ Xuân. Ngoài việc bỏ đơn vị hành chính cấp trung gian là tổng, nhà nước còn đổi phủ Thiệu Hóa thành huyện Thiệu Hóa với 12 xã (Huy Toán, Đại Đồng, Minh Quang, Thái Bình, Đại Bái, Ngọc Vũ, Thành Công, Tân Dương, Vạn Hà, Chùy Giang, Duy Tân, Quang Thịnh).

Tháng 3 - 1953, 12 xã trên được chia thành 31 xã như sau:

a. Các xã thuộc tổng Phùng Thịnh cũ gồm:

1. Xã Thiệu Duy: Đầm Xá (Đông Mỹ), Yên Xá, Khánh Hội, Cự Khánh, Phú Điền, Đông Hòa, Xử Nhân

2. Xã Thiệu Nguyên: Phú Nguyên (12 xóm)

3. Xã Thiệu Hợp: Bằng Trình (Trịnh), Chấn Long (Nạp), Quản Xá, Thắng Long.

4. Xã Thiệu Thịnh: Phùng Cầu, Nhuệ Thôn, Đương Phong.

b. Các xã thuộc tổng Mật Vật cũ gồm:

5. Xã Thiệu Phúc: Đoán Quyết Thượng, Đoán Quyết Hạ (Choán), Mật vật (Mật Thôn, Kim Hoạch), Hoạch Phúc (Vạc), Vĩ Thôn (Si)

6. Xã Thiệu Phú: Đỉnh Tân, Tra Thôn, Vĩnh Điện, Tuấn Kiệt (Thuận Tôn), Ngọc Tỉnh, Phú Thịnh.

7. Xã Thiệu Hưng: Vãn Hà (Kiến Hưng), Chí Cẩn, Dương Hòa.

8. Xã Thiệu Long: Đông Lỗ, Quán Trổ (Phú Lai), Phong Phú, Tiên Nông, Minh Đức (Kịt), Thành Đạt, Hưng Long.

9. Xã Thiệu Quang: Chí Cường, (Tử), Nhân Cao (Ngói), Châu Trướng (Nồi), Cồn Cát (Mới).

10. Xã Thiệu Công: Lợi Thượng (Bái), Xuân Quan (Sen), Oanh Kiều, Nhân Mỹ (Vược), Phác Đồng.

c. Các xã thuộc tổng Xuân Lai cũ gồm:

11. Xã Thiệu Thành: Biểu Dức (Bèo), Thành Sơn (Mấu), Thành Thượng (Đoài Thượng), Thành Đông (Đoài Đông hoặc Nhồi), Thành Giang (Lộng Giang hoặc Lòng) Thành Thiện (Thiện Giáo).

12. Xã Thiệu Ngọc: Chẩn Xuyên (Lỗ Chấn), Tân Bình (Bình Ngô và Ngọc Đới), Ngọc Sơn (Vạc), Ngọc Thiện (Trại Vạc), Ba Cồn, Xóm Mới.

13. Xã Thiệu Vũ: Lam Vĩ (vả hoặc Quan Cai), Yên Lộ (Kẻ Lổ), Cẩm Vân (Hoa Vân), Đạt Giáo, Tân Giáo.

14. Xã Thiệu Tiến: Phúc lộc (Chuộc), Quan Trung (Là).

d. Xã hợp nên do một phần tổng Đa Lộc và Hải Quật huyện Yên Định:

15. Xã Thiệu Giang: Đường Lâm, Vân Điền, Cổ Bi, An Thượng, Đa Lộc, Trung Đường.

e. Các xã thuộc tổng Đại Bối cũ gồm:

16. Xã Thiệu Tân: Trần xá (Chàn, Đông xá, Tòng Tân).

17. Xã Thiệu Giao: Đại Bái, Bái Giao.

18. Xã Thiệu Vân: Vân Tập (Vân Liễu), Phúc Hòa (Cầu Kệ), Đại Lý, Cổ Ninh (Cổ Định), Hiền Lâm, Đồng Me (tách từ Thiệu Tân).

19. Xã Thiệu Khánh: Phú Ân (Đọ), Đại Khánh (Vồm), Dinh Xá (Doanh Xá, Chành), Thanh Dương (Giàng hến).

20. Xã Thiệu Dương: Dương Xá Nội (Ràng), Dương Xá Ngoại.

g. Các xã thuộc tổng Vận Quy cũ:

21. Xã Thiệu Viên: Viên Nội, Viên Ngoại, Phú Thứ (Vân Đài), Nguyệt Quang.

22. Xã Thiệu Lý: Mỹ Lý, Nguyệt Lãng, Hổ Đàm.

23. Xã Thiệu Vận: Vận Quy (Vận), Lạc Đô (Khoai), Quy Xá (Nguộn).

24. Xã Thiệu Trung: Phủ Lý (Trung, Nam, Bắc-Rỵ), Trà Đúc (Chè)

25. Xã Thiệu Đô: Hồng Đô (Hồng, Mỹ Đô), Cổ Đô (Vạc), Trà Thượng.

26. Xã Thiệu Châu: Đắc Châu (Chòm), Phú Văn (Họ), Yên Tân (Go) Thọ Sơn (Núi).

h. Các xã thuộc tổng Xuân Lai, Xuân Phong cũ gồm:

27. Xã Thiệu Chính: Đu, Thái, Cá Lược, Thiều, Đông, Trung, Cao Xá.

g. Trước đay cón một số thôn đứng đầu là chưc Dân (Hòa, Thái Khang)

28. Xã Thiệu Hòa: Thái Khang, Thái Hòa, Khoai (Mật), Thái Dương, Tối Thuần.

29. Xã Thiệu Minh: Ngô Xá (Kẻ Ngô, Ngô Thượng, Ngô Hạ), Hà Thanh, (ngày nay gồm 4 thôn hà Thanh, Đồng Minh, Đồng Chí, Đồng Bào).

30. Xã Thiệu Tâm: Hậu Hiền (Trỗ với Tam Đồng: Tâm, Thanh, Tiến và Tứ Thái: Lai, Sơn, Ninh, Bình).

31. Xã Thiệu Toán: Mao Xá, Khổ Kỷ (Cầu Kè), Kỳ, Điện, Cỗ, Thung Dung.

Do nhu cầu mới của xã hội và đứng trước một hoạch định lớn về vai trò pháo đài của cấp huyện, ngày 5-7-1977, Hội đồng Chính phủ đã ra Quyết định số 177/CP về việc giải thể huyện Thiệu Hóa: 15 xã nằm trong vùng tả ngạn sông Chu sáp nhập vào Yên Định, lập ra huyện mới mang tên Thiệu Yên, 16 xã còn lại ở hữu ngạn sông Chu sáp nhập vào Đông Sơn, lập ra huyện Đông Thiệu (năm 1982 đổi theo tên cũ là Đông Sơn).

Sau 20 năm chung vai sát cánh trong đại gia đình Thiệu Yên và Đông Sơn, ngày 18-11-1996, huyện Thiệu Hóa được tái lập bởi Nghị định số 72/CP của Chính phủ. Ngày 1-1-1997, mọi hoạt động trở lại như Thiệu Hóa của hai chục năm trước đây và đến ngày 29/2/2012 Căn cứ Nghị quyết 05/NQ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính các huyện Hoàng Hóa, Thiệu Hóa, Đông Sơn và Quảng Xương để mở rộng địa giới hành chính thành phố Thanh Hóa và thành lập các phường thuộc thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, huyện Thiệu Hóa còn lại 16.068,38 ha diện tích tự nhiên, 152.782 nhân khẩu và 28 đơn vị hành chính, bao gồm 27 xã và 1 thị trấn sau: Thiệu Toán, Thiệu Chính, Thiệu Hòa, Thiệu Minh, Thiệu Tâm, Thiệu Viên, Thiệu Lý, Thiệu Vận, Thiệu Trung, Thiệu Đô, Thiệu Châu, Thiệu Tân, Thiệu Giao, Thiệu Ngọc, Thiệu Vũ, Thiệu Tiến, Thiệu Thành, Thiệu Công, Thiệu Phúc, Thiệu Phú, Thiệu Long, Thiệu Giang, Thiệu Duy, Thiệu Nguyên, Thiệu Hợp, Thiệu Thịnh, Thiệu Quang và thị trấn Vạn Hà.

II. KẾT QUẢ KIỂM KÊ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THIỆU HÓA:

Sau hơn 4 tháng tiến hành công tác tổng kiểm kê trên địa bàn huyện Thiệu Hóa. Đến nay, đã có 28/28 xã, thị trấn hoàn thành việc kiểm kê di sản văn hoá phi vật thể theo Kế hoạch số 27/KH-UBND, ngày 9/5/2011 của UBND tỉnh Thanh Hóa và Kế hoạch số 812/KH-SVHTTDL ngày 18/5/2012 của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Cuộc kiểm kê đã thu được 284 phiếu của 21 xã, thị trấn. Kết quả toàn huyện có 35 di sản thuộc 6 loại hình tồn tại ở 20 xã, thị trấn. Trong đó có 25 di sản còn lưu giữ nguyên gốc và duy trì tốt; 3 di sản có nguy cơ mai một; 7 di sản đã bị mai một. Cụ thể như sau:

1. Loại hình: Gồm có 6 loại hình.

1.1. Nghệ thuật trình diễn dân gian: Có 8 di sản; trong đó có 07 di sản còn lưu giữ nguyên gốc phát huy tốt giá trị; 01 di sản đã bị mai một.

1.2. Lễ hội truyền thống: Có 4 di sản; trong đó cả 4 di sản còn đang lưu giữ và phát huy tốt giá trị.

1.3. Nghề thủ công truyền thống: Có 7 di sản; trong đó 3 di sản đang còn lưu giữ và duy trì; 3 di sản có nguy cơ mai một; 01 di sản đã bị mai một.

1.4. Tri thức dân gian: Có 9 di sản, trong đó cả 9 di sản lưu giữ nguyên gốc.

1.5. Ngữ văn dân gian: Có 2 di sản, trong đó cả 2 di sản đã bị mai một.

1.6. Tập quán xã hội: Có 5 di sản; trong đó có 2 di sản còn lưu giữ nguyên gốc; 3 di sản đã bị mai một.

2. Tên gọi Di sản theo loại hình:

2.1. Di sản văn hóa phi vật thể còn tồn tại, phát triển: Tổng số 25 di sản, cụ thể như sau:

a. Nghệ thuật trình diễn dân gian: Số lượng 7 di sản:

- Múa, hát các làn điệu chèo các thôn Nguyên Hưng, Nguyên Thịnh, Nguyên Phú, Nguyên Sơn, Nguyên Lý, Nguyên Thắng, Sơn Thịnh.. thuộc xã Thiệu Nguyên và thôn Phác Đồng xã Thiệu Công.

- Sử dụng các nhạc cụ dân tộc cá nhân ông Nguyễn Văn Thoan, Nguyễn Văn Sửu, Mai Xuân Quế thôn Nguyên Thịnh, thôn Nguyên Lý xã Thiệu Nguyên.

- Múa trống cung đình thôn Phác Đồng xã Thiệu Thành

- Hát đối thôn Phác Đồng xã Thiệu Công

- Hát Chầu văn thôn Phác Đồng xã Thiệu Công

- Đánh Bài điếm thôn Lam Vỹ xã Thiệu Vũ

- Múa đèn chạy chữ làng Nhân Cao xã Thiệu Quang

b. Lễhội truyền thống: Số lượng 4 di sản.

- Lễ hội làng Khánh Hội xã Thiệu Duy; lễ hội Đình - Đền làng Đắc Châu xã Thiệu Châu; lễ hội làng Bái Giao xã Thiệu Giao; lễ hội làng Đa Lọc, lễ hội làng Đường Lâm xã Thiệu Giang; lễ hội làng truyền thống xã Thiệu Trung.

- Lễ tế Thành Hoàng Làng, làng Phú Lai xã Thiệu Long; lễ tế làng Trí Cẩn thị trấn Vạn Hà.

- Lễ rước kiệu thôn Đương Phong xã Thiệu Thịnh; lễ rước kiệu làng Kiến Hưng thị trấn Vạn Hà.

- Lễ du xuân cầu phúc làng Dương Hòa thị trấn Vạn Hà

c. Nghềthủcông truyền thống: Số lượng 3 di sản gồm.

- Nghề đúc đồng truyền thống làng Chè (trà Đông) xã Thiệu Trung

- Nghề ươm tơ dệt nhiễu làng Hồng Đô xã Thiệu Đô

- Nghề sản xuất bánh đa làng Đắc Châu xã Thiệu Châu

d. Tri thức dân gian: Số lượng 9 di sản

- Thuốc chữa rắn cắn thôn Nguyên Tân xã Thiệu Nguyên, thôn Sơn Thịnh xã Thiệu Châu; thôn Sơn Quý xã Thiệu Châu; thôn 5 xã Thiệu Vận; thôn 4 xã Thiệu Viên.

- Thuốc Nam – Bắc gia truyền thôn Quý 2 xã Thiệu Chính; thôn Châu Giang xã Thiệu Châu; thôn 4 xã Thiệu Vận; thôn 7, thôn 9 xã Thiệu Lý; thôn 2 xã Thiệu Tân.

- Thuốc trị mụn cơm, mịn cóc thôn Sơn Thịnh xã Thiệu Châu

- Thuốc trị kiết lỵ thôn Sơn Quý xã Thiệu Châu

- Thuốc trị lang ben thôn Châu Giang xã Thiệu Châu

- Thuốc chữa hóc xương thôn 5 xã Thiệu Vận

- Cao dán bỏng gia truyền thôn 5 xã Thiệu Trung

- Trao vía thôn 5 xã Thiệu Vận; thôn Yên Lộ xã Thiệu Vũ

- Khoán quai bị làng Lam Vỹ xã Thiệu Vũ

e. Tập quán xã hội: Số lượng 2 di sản.

- Kêu vía, cúng cơm bà mụ thôn 5 xã Thiệu Viên

- Đánh vía, chuộc vía thôn 2 xã Thiệu Tân

2.2. Di sản văn hóa phi vật thể có nguy cơ mai một: Tổng số 3 di sản

- Nghề mây tre đan làng Thọ Sơn xã Thiệu Châu; làng Thành Đông xã Thiệu Thành.

- Nghề sản xuất đậu phụ làng Phú Văn xã Thiệu Châu

- Nghề sản xuất bánh đúc làng Thọ Sơn xã Thiệu Châu

2.3 Di sản văn hóa phi vật thể đã bị mai một: Tổng số lượng 7 di sản

a. Nghệ thuật trình diễn dân gian: Số lượng 01 di sản

- Trò chơi, rước Pháo Ngò làng Ngò xã Thiệu Minh

b. Nghềthủcông truyền thống: Số Lượng 01 di sản.

- Nghề tróc, đóng thảm bẹ ngô xã Thiệu Thịnh

c. Ngữ văn dân gian: Số lượng 2 di sản

- Truyện cổ tích làng Thành Sơn xã Thiệu Thành

- Hát ghẹo, vè, hát đối làng Ngo xã Thiệu Minh

d. Tập quán xã hội: Số lượng 3 di sản

- Tục bắt Cuốc cúng Dương Tam Kha làng Thành Đạt xã Thiệu Long

- Thờ cúng thần thành hoàng làng thôn 1 xã Thiệu Viên

- Tục ăn trạ làng Minh Đức xã Thiệu Long

3. Đánh giá thực trạng chung:

Trong quá trình khảo sát, điền dã, kiểm kê tại các thôn, làng, xã trên địa bàn huyện Thiệu Hóa cho thấy:

Những di sản được trao truyền theo thế hệ trong cộng đồng thôn, làng, xã, gia đình đã và đang duy trì tốt tại các thôn, làng, xã của huyện Thiệu Hóa, đây là món ăn tinh thần và là nét đẹp văn hoá riêng của người dân nơi đây còn gìn giữ được cho đến ngày nay như: hát các làn điệu chèo cổ xã Thiệu Nguyên; múa đèn chạy chữ xã Thiệu Quang, múa trống cung đình xã Thiệu Thành; lễ hội truyền thống ở các xã Thiệu Châu; Thiệu Trung; Thiệu Duy; Thị trấn Vạn Hà; lễ tế thành thành hoàng của các xã Thiệu Long, thị trấn Vạn Hà; các bài thuốc tri thức dân gian chữa rắn cắn Thiệu Tân, Thiệu Nguyên, Thiệu Châu; thuốc Nam – Bắc gia truyền của xã Thiệu Chính, Thiệu Châu, Thiệu Vận, Thiệu Lý; các nghề thủ công truyền thống đúc đồng xã Thiệu Trung, Ươm tơ dệt nhiễu xã Thiệu Đô …

Bên cạnh những Di sản còn tồn tại, đã và đang được bảo vệ tốt thì có một số di sản có nguy cơ bị mai một; Do điều kiện lịch sử, kinh tế, xã hội và sự phát triển của khoa học công nghệ thông tin đã tác động đến đời sống của người dân, mà di sản đã dần bị quên lãng; không có thế hệ trẻ để trao truyền, lớp nghệ nhân và những người thực hành hoặc biết đến cũng bị cuộc sống mưu sinh và xu hướng của nền kinh tế thị trường cuốn theo, trong cộng đồng dân cư làng, xã đã từng tồn tại di sản đó; Đa số các nghệ nhân tuổi cao, sức yếu, lại không có người tâm huyết, yêu thích học để truyền lại như: Trò chơi, rước Pháo Ngò làng Ngò xã Thiệu Minh; nghề sản xuất mây tre đan, bánh đúc xã Thiệu Châu …

Một số ít di sản đã bị mai một, vì mưu sinh cuộc sống, người dân không còn có thời gian giành cho những trò chơi, trò diễn dân gian và cứ thế di sản đã dần bị quên lãng. Trong cộng đồng dân cư làng, xã đã từng tồn tại di sản đó, nghệ nhân còn ít và những người biết đến, họ chỉ còn nhớ đã từng được chơi và gọi được tên như: tục ăn trạ xã Thiệu Long, nghi lễ thờ thành hoàng làng xã Thiệu Viên; truyền cổ tích xã Thiệu Thành, hát ghẹo, vè, hát đối làng Ngo xã Thiệu Minh…

III. NỘI DUNG MỘT SỐ DI SẢN TIÊU BIỂU:

1. Di sản văn hóa phi vật thể còn tồn tại, phát triển: Tổng số 25 di sản.

1.1. Nghệ thuật trình diễn dân gian: Số lượng 7 di sản

* Múa hát các làn điệu chèo cổ:

- Quá trình ra đời: Di sản văn hóa phi vật thể, nghệ thuật trình diễn múa, hát các làn điệu chèo đã có từ xa xưa, không ai rõ mốc thời gian có từ bao giờ, chỉ biết rằng truyền từ đời này sang đời khác tồn tại đến ngày nay tại xã Thiệu Nguyên và xã Thiệu Công.

- Hiện trạng: Di sản văn hóa phi vật thể, múa hát chèo cổ, được các nghệ nhân trong làng từ xa xưa tuyền lại, từ đời này sang đời khác. Cho đến nay đội văn nghệ của làng, thôn vẫn thường xuyên tập luyện các tiết mục, sao cho ngày càng sinh động và sát thực, thể hiện ý nghĩa tầm quan trọng của thế hệ trẻ ngày hôm nay và mãi mãi mai sau, luôn thể hiện lòng yêu quê hương, đất nước.

- Số nghệ nhân hiện có: 25 người; độ tuổi từ 65 tuổi 80 tuổi

Tiêu biểu một số nghệ nhân như:

+ Ông Lê Sỹ Hùng, thôn Liên minh xã Thiệu Công

+ Bà Trịnh Thị Cảnh, thôn Liên minh xã Thiệu Công

+ Bà Trịnh Thị Nam thôn Lợi Thượng, xã Thiệu Công

+ Bà Nguyễn Thị Loan, thôn Nguyên Lý xã Thiệu Nguyên

+ Bà Nguyễn Thị Đạc, thôn Nguyên Thành, xã Thiệu Nguyên

+ Bà Nguyễn Thị Hương, thôn Nguyên Thành, xã Thiệu Nguyên

- Số lượng người thực hành: 50 người

- Số học viên hiện nay: Chưa có các lớp truyền dạy.

- Phương thức truyền dạy: Truyền miệng, trao truyền trong cộng đồng

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành: Nghệ thuật trình diễn dân gian hát chèo là một loại hình kết hợp nhiều thể loại như: kịch, hát, múa được biểu hiện qua lời nói, gọng hát, cách diễn xuất của người diễn viên, kết hợp hài hòa phù hợp với tính cách của từng nhân vật.

Hát chèo là một bộ môn nghệ thuật được phối hợp nhiều loại hình nghệ thuật. Trong những năm sau cách mạng tháng tám năm 1945 nghệ thuật hát chèo ở các xã Thiệu Nguyên, Thiệu Công mới chỉ là thành lập các phường chèo nhỏ lẻ hát tại các đình, nghè trong những ngày lễ tết trong năm, đến những năm thập kỷ 60 và 80 các phường chèo được thành lập thành đội văn nghệ của xã. Từ đó các nghệ nhân được đi tập huấn tại tỉnh về sáng tác các hoạt cảnh và dàn dựng.

Quá trình thực hành, đầu tiên là nắm vững và phân tích được kịch bản, sau đó phân vai cho từng diễn viên để học thuộc, tiếp đến các diễn viên đối lời thoại với nhau và ghép vai diễn với từng cảnh, từng màn của vai diễn sau đó tiến hành ghép nhạc cho từng diễn viên, từng làn điệu, từng màn kịch và toàn vở diễn. Quá trình thực hành được phân ra các kỹ năng khác nhau như:

+ Kỹ năng nói, đối thoại phát âm phải rõ ràng phù hợp với vai diễn và tính cách của nhân vật.

+ Kỹ năng hát: hát phải rõ ràng tròn vành rõ chữ, đúng nhịp, phách cao độ, trường độ

+ Kỹ năng diễn xuất: phải nhập vai và phù hợp tính cách nhân vật

+ Kỹ năng múa: múa phải đúng với làn điệu, phù hợp với lời hát và phải đồng đều

+ Trang phục: phải phù hợp với tính cách nhân vật và của vai diễn.

* Sử dụng các loại nhạc cụ dân tộc.

- Quá trình ra đời: Song song với sự ra đời và phát triển của nghệ thuật hát máu các làn điệu chèo, thì việc sử dụng gìn giữ và phát triển các loại nhạc cụ dân tộc cũng bắt nguồn từ khi mới hình thành các phường hát và cùng đội văn nghệ phục vụ trong các ngày lễ tết tại đình, chùa, nghè trong làng, lúc đó các làn điệu chủ yếu là tự biên, tự diễn, băng nhạc chủ yếu là năng khiếu tự phát chưa được học bài bản.

- Hiện Trạng: Vẫn còn lưu giữ và phát huy giá trị. Số nghệ nhân hiện có: 7 người; độ tuổi từ 60 tuổi đến 70 tuổi

Tiêu biểu như:

+ Ông Nguyễn Văn Thoan, thôn Nguyên Thịnh, xã Thiệu Nguyên

+ Ông Nguyễn Văn Sửu, thôn Nguyên Thịnh, xã Thiệu Nguyên

+ Ông Mai Xuân Quế, thôn Nguyên Thịnh, xã Thiệu Nguyên

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành: Bằng năng khiếu, điêu luyện của các ngón tay sự nhạy bén của tai nghe các nhạc công đã cảm nhận một cách rõ nét về nhịp, phách cao độ, trường độ và giọng của người hát để phối hợp với người hát một cách tốt nhất.

Sử dụng các loại nhạc cụ dân tộc, đầu tiên đòi hỏi phải có năng khiếu, có kỹ năng, có lập trường tư tưởng vững vàng và có đạo đức tốt.

Ban đầu phải làm quen với các loại nhạc cụ, để biết loại nào dùng cho thể loại nào, làn điệu nào, sau đó tiến hành luyện các ngón tay cho thật lưu loát, thuần thục, tiếp theo là đọc nhạc: Chính là làm quen với chữ nhạc, đọc phải như hát, biết đọc các ký hiệu chép nhạc, làm quen với các loại tiết tấu, tập gõ thanh, phách, song loan, trống con.

Luyện cao độ: Đọc đúng tên và đúng nốt nhạc;

Luyện tiết tấu: Gõ đúng tiết tấu của bài hát

Tập đọc từng câu: Đọc nhạc kết hợp với gõ phách

Khi các kỹ năng kia đã thuần thục mới tiến hành hướng dẫn các nốt nhạc trên phím đàn, cách cầm đàn và cách sử dụng dây đàn;

Tiếp theo ghép nhạc vào bài hát, lúc đầu tìm những bài hát dễ để tập, tập từng câu một, thuộc câu này mới chuyển sang câu khác cho đến khi hết bài sau đó ghép toàn bộ bài hát.

* Múa trống cung đình.

- Quá trình ra đời: Ra đời từ xa xưa không ai nhớ rõ mộc thời gian cụ thể, loại hình múa trống cung đình do cộng đồng dân cư thôn Phác Đồng xã Thiệu Thành thực hiện:

- Hiện trạng: Múa trống cung đình, được các cụ cao niên trong làng hướng dẫn cho một số thanh niên và các cô giáo đến nay đội văn nghệ của câu lạc bộ liên thế hệ vẫn còn lưu giữ và tái hiện lại trong dịp tổ chức hội làng.

- Số nghệ nhân hiện có: 20 người; độ tuổi từ 45 tuổi đến 70 tuổi

Tiêu biểu như:

+ Bà Ngô Thị Quy, thôn Thành Đồng, xã Thiệu Thành

+ Bà Mai Thị Oanh, thôn Thành Đồng, xã Thiệu Thành

+ Ông Lê Huy Trọng, thôn Thành Đồng, xã Thiệu Thành

+ Ông Nguyễn Văn Cư, thôn Thành Đồng, xã Thiệu Thành

+ Bà Nguyễn Thị Lý, thôn Thành Đức, xã Thiệu Thành

+ Bà Ngô Thị Phượng, thôn Thành Đức, xã Thiệu Thành

- Số người thực hành: 25 người

- Số học viên hiện nay: 25 người

- Phương thức truyền dạy: Truyền miệng, trào truyền từ người này sang người khác

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành: Múa trống cung đình, đội múa có khoãng 14 đến 16 người vào các vai diễn

Trên sân khấu đội văn nghệ được chia thành 2 hàng đứng 2 bên cánh gà, trống cái da bò đặt trên giá để giữa sân khấu, người đánh trống chỉ huy đội múa theo nhịp trống, múa hoàn toàn bằng nhạc trống, trống chiêng, thanh la, tất cả phải hòa nhịp, các vai diễn múa theo kiểu hài hước trên sân khấu làm cho người xem cảm thấy thích thú.

Múa trống cung đình là màn kịch hài hết sức hấp dẫn đối với người xem, các nhân vật trong vở diễn làm cho người dân có cảm nhận về thần linh xuất hiện để đuổi ác trừ gian phù hộ độ trì cho dân làng được mạnh khỏe và bình an, làm ăn phát đạt.

* Múa đèn chạy chữ.

- Quá trình ra đời: Di sản văn hóa phi vật thể, múa đèn chạy chữ, hát chèo chãi cổ, được các nghệ nhân trong làng từ xa xưa tuyền lại, từ đời này sang đời khác không rõ từ bao giờ. Cho đến nay đội văn nghệ của làng Nhân Cao vẫn thường xuyên tập luyện các tiết mục, sao cho ngày càng sinh động và sát thực, thể hiện ý nghĩa tầm quan trọng của thế hệ trẻ ngày hôm nay và mãi mãi mai sau, luôn thể hiện lòng yêu quê hương, đất nước, lòng thành kính với các vị thành hoàng, tổ tiên đã có công xây dựng và thành lập làng Nhân Cao ngày nay.

- Hiện trạng: Vẫn còn lưu giữ và duy trì tập luyện.

+ Số nghệ nhân hiện có là: 15 người, độ tuổi từ 60 tuổi đến 80 tuổi

Tiêu biểu như:

+ Bà Nguyễn Thị Thủy, làng Nhân Cao, xã Thiệu Quang

+ Ông Nguyễn Đăng Luân, làng Nhân Cao, xã Thiệu Quang

+ Ông Nguyễn Hữu Duyệt, làng Nhân Cao, xã Thiệu Quang

+ Bà Hoàng Thị Lượng, làng Nhân Cao, xã Thiệu Quang

+ Ông Đàm Văn Sừ, làng Nhân Cao, xã Thiệu Quang

- Số lượng người thực hành: 50 người

- Số học viên hiện nay: chưa mở lớp truyền dạy

- Phương pháp truyền dạy: Truyền miệng

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành: Múa đèn chạy chữ, hát chèo chãi cổ, đội hình có 12 cô gái, trang phục như nhau, bên trong mặc áo cánh trắng, váy dài chấm gót chân, bên ngoài mặc áo dài 5 thân, một dãi khăn xanh dài thắt ngang hông, tay cầm quạt, trên đầu đội một dĩa đèn có 7 ngọn nến, khi nhạc lưu thủy nổi lên bắt đầu ra biểu diễn hát, múa và xếp chữ. Được chia thành 2 tiết mục hát chèo chãi cổ và múa đèn chạy chữ:

Tiết mục hát chèo chãi cổ gồm có 4 bài:

- Bài 1: Hát giáo chãi có câu “Kính trình làng nước lẳng lặng mà nghe trống” lời hát trên muốn nói mời các vị quan khách, dân làng tới dự lễ hội.

- Bài 2: Hát múa quạt

Cuối đầu bãi trước thanh minh

Dẫn theo sự tích soạn thành một chương

Câu thơ trên muốn nói trước cung đình phải tôn kính, các vị anh minh.

- Bài 3: Hát chèo thuyền: Thuyền ta mắc cạn rồi đây, xin làng buông lái cầm dây kéo thuyền, vừa chèo thuyền vừa hát xen lẫn các lời hát nói đối thoại như một ca dao.

- Bài 4: Hát giáo chân sào

Bác mẹ nường truyền cả mui cao, cho anh ghé chút chân sào được chăng

Những lời hát chèo chãi cổ trên nhằm ca ngợi công ơn đức thánh cả và thành hoàng làng, cầu cho quốc thái dân an, dân làng được nhân khang, vật thịnh.

Tiết mục múa đèn chạy chữ gồm có 5 phần:

- Múa hát giáo đèn “Đèn tội nay lưu truyền kế thế….thắp đèn rạng cả bốn phương mời tất cả mọi người đến để chứng kiến ngọn đèn đã soi sáng tất cả mọi nơi.

- Hát chúc: Chúc quốc gia trường la, chúc thánh thọ vô cương, chúc thánh đế thọ tăng thêm thọ.

- Hát mới: Hằng nga cung cấu quảng ngân, xin mới nàng xuống giương gian ngự đồng. ý mời các nàng tiên xuống cùng múa hát.

- Hát mừng…..và cuối cùng là múa đèn chạy chữ.

+ Xếp chữ nhất: Hát nói ý nghĩa của xếp chữ nhất

(Nhất như: Nhất tỉnh tiết, nhất đoan trang, nay mừng phúc lộc thọ trường thiên niên…)

+ Xếp chữ Nhị: nhị la Nhị như đồng tâm, nhất như nhị nhị như nhất giả

+ Xếp chữ Tam: Tam là tam cương thống kỷ, nay làng ta mở hội khai xuân

+ Xếp chữ Tứ: Tứ đức là tứ đức tình thâm.

+ Xếp chữ Ngũ: Ngũ là ngũ phúc lâm môn.

Xếp chữ nhất, nhị, tam, tứ và ngũ theo chữ Hán và diễn xuất từng diệu múa chạy theo hình cung, cuối cùng tất cả múa lượn vòng tròn nằm người xuống lật người và lăn đèn kết thành bông hoa 5 cánh từ từ chuyển thành hàng ngang nhìn lên án thờ thành, hai tay nâng đĩa đèn xuống lạy ba lạy rồi đi vào.

Ý nghĩa của múa đèn chạy chữ ca ngợi ánh sáng của ngọn đèn dẫn đường cho thi sỹ, nông, công thương cùng nhau thành đạt, chúc quốc gia hưng thịnh đạt, chúc vua sống lâu, chúc dân làng bình an, đoàn kết trên dưới một lòng giữ gìn nếp sống văn minh tốt đẹp của tổ tiên.

* Đánh bài điếm.

- Qúa trình ra đời: Ra đời từ xa xưa, chưa xác định được thời gian cụ thể được cộng đồng và các tầng lớp nhân dân trong Làng duy trì và tổ chức vào các dịp ngày Lễ, ngày tết hàng năm

+ Hiện trạng: Số lượng nghệ nhân hiện có: 05 người gồm; độ tuổi từ 60 tuổi đến 70 tuổi

+ Ông Lê Tiến Hải, thôn Lam Vỹ, Thiệu Vũ, Thiệu Hóa, Thanh Hóa

+ Ông Lê Đăng Cói, thôn Lam Vỹ, Thiệu Vũ, Thiệu Hóa, Thanh hóa

+ Ông Nguyễn Văn Tú, thôn Lam Đạt, Thiệu Vũ, Thiệu Hóa, Thanh Hóa

+ Ông Lê Tiến Nam, thôn Lam Vỹ, Thiệu Vũ, Thiệu Hóa, Thanh Hóa

+ Ông Nguyễn Văn Nhiên, thôn Lam Đạt, Thiệu Vũ, Thiệu Hóa, Thanh Hóa

- Số lượng người thực hành: 30 người

- Số học viên hiện nay 15 người

- Phương thức truyền dạy: Tiếp thu thực hành trực tiếp qua từng ván bài

+ Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành các sản phẩm vật chất, tinh thần được tạo ra trong quá trình thực hành di sản:

Quân bài có kích cỡ hình chữ nhật, mỗi điếm có một trống con để người đánh bài dùng làm hiệu lệnh.

- Nếu ăn thì gõ vào mặt trống một tiếng “Tung’’

- Không ăn thì gõ vào tang trống một tiếng “Cắc’’

- Nghe chưa rõ thì gõ “ Tung cắc’’

- Phỏng thì gõ “tung tung’’ hai tiếng

- Thập thành thì gõ ba tiếng “tung, tung, tung’’

- Ù thì gõ một hồi vào mặt trống

- Ù liền thì gõ hai hồi vào mặt trống

- Ù liền tam thắng thì gõ ba hội vào mặt trống

Ai ù liền tam thắng thì ban tổ chức thưởng một phần quà. Mở đầu ván bài trung quân rao:

- Trình 5 điếm xong chưa, xin nổi trống lên để tôi đưa cây bài đầu:

- Nếu cả 5 điếm xong rồi thì chung cả 5 điếm đều gõ một hồi trống, trường hợp có điếm chưa xong thì các điếm khác đã xong nổi trống ngũ liên để thúc dục

- Khi tất cả các điếm đã xong thì trung quân lấy cây bài đầu của điếm các và rao

- Bốn điếm xong rồi ngài ra cây này là cây bát sách

- Nếu có điếm nào ăn thì họ gõ “Tung’’ người trung quân sẽ đem cho điếm đó, còn nếu đều gõ “cắc’’ thì trung quân rút bài nọc lên rao:

- Bốn điếm không xơi ngỏ nọc cây này là cây mất khăn “ nghe chư rõ’’

- Nếu có tiếng gõ “tung cắc’’ thì trung quân rao lại

- Mất khách là thất văn

Khi ăn khi phõng cứ thế diễn ra cho hết ván bài. Bài điếm có cái hay, cái hấp dẫn được người xem là ở người hát trung Quân ( người chạy bài ) người này phải có tài ứng đáp, không nói thực tên cây bài, mà dùng hình ảnh, đặc điểm của cây bài ấy vận ngay một câu thơ lục bát dí dỏm để hát lên ví dụ như : Nếu bắt được cây nhị vạn thì trung quân hát lên rằng :

“ Trước sau nào thấy bóng người

Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông’’

Ngài ra cây này là cây nhị vạn

Hoặc khi bốc nọc lên được cây ngũ sách, không xướng ngũ sách mà hát rằng:

“ Buồn trông cửa bể chiều hôm

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa’’ sau đó mới xướng

Hay ngõ nọc cây này là cây ngũ sách, hay khi bốc nọc lên trung quân hát

“ Người ta cầm cuốc cuốc vào

Còn anh thi lại cầm cào cào ra’’

Ngài phõng cây này là cây “lục vạn’’

Nếu có tiếng gõ “tung cắc’’ thì trung quân nhắc lại “Lục vạn’’

Kết thúc mỗi ván bài điếm nào thắng thi ghi lại, hết một ngày ai ù nhiều thì có phần thưởng của ban tổ chức

- Các sản phẩm vật chất, tinh thần được tạo ra trong quá trình thực hành di sản văn hóa phi vật thể:

Đây là một trò chơi lành mạnh trong các ngày tết, hoặc Lễ hội nó thu hút được đông đảo mọi tầng lớp nhân dân đến xem

- Không gian văn hóa liên quan:

Đây là trò chơi ngoài trời vì vây đòi hỏi ban tổ chức phải tổ chức phải có loa đài phục vụ, băng zôn tuyên truyền, công tác bảo vệ an ninh trật tự

* Hát Chầu Văn.

- Quá trình ra đời: Ra đời từ xa xưa, chưa xác định được thời gian thực hiện.

- Hiện trạng: Số lượng nghệ nhân hiện có: 05 người; độ tuổi từ 55 tuổi đến 80 tuổi

Tiêu biểu:

+ Ông Thiều Đàm, thôn Phác Đồng, xã Thiệu Công.

+ Bà Trần Thị Lâm, thôn Thành Hưng, xã Thiệu Công.

+ Bà Thiều Thị Trường, thôn Phác Đồng, xã Thiệu Công.

+ Bà Nguyễn Thị Duyên, thôn Phác Đồng, xã Thiệu Công.

+ Bà Thiều Thị Hòa, thôn Phác Đồng, xã Thiệu Công.

- Số lượng người thực hành: 16 người.

- Các nguồn lực khác tham gia bảo vệ: 50 người

- Phương thức truyền dạy: Truyền miệng

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành các sản phẩm vật chất, tinh thần được tạo ra trong quá trình thực hành nghệ thuật trình diễn dân gian hát Chầu Văn:

Hát Chầu Văn có từ xa xưa từ việc thờ Thánh Mẫu. Để cho dễ nhớ người dân đã chuyển thể sang những bài văn lục bát, sau này thành những lời ca trong điệu Chầu Văn. Hát Chầu Văn thường là hát đơn, chỉ là một người hát được sử dụng trong các cuộc thi hát và diễn văn nghệ ở thôn Phác Đồng, Thành Hưng, Lợi Thượng, Xuân Quan xã Thiệu Công.

Lời hát trong hát Chầu Văn được phổ từ thơ ca dân gian, đôi khi vay mượn trong cả các tác phẩm văn học và thường theo thể lục bát. Các bài Chầu văn thường sắp xếp như một câu chuyện để ca ngợi Đảng, quê hương đất nước, con người đồng đất Thiệu Công “ Quê ta ơn Đảng, Phác Đồng đổi mới”. Bởi vậy giai điệu Chầu Văn có một sức quyến rũ đặc biệt. Dập dìu trên nền nhịp phách, lúc ẩn lúc hiện, nhiều làn điệu mang đậm tính trữ tình, như dáng vẻ của những gì ngọt ngào, mềm mại, thân thương đi vào lòng người dân quê hương.

Hiện nay các bài hát Chầu Văn tiếp tục được lưu giữ và trình diễn, được nhân dân Phác Đồng, thành Hưng, Lợi Thượng, Xuân Quan xã Thiệu Công sử dụng trong các cuộc thi văn nghệ ở thôn, xã đặc biệt là trong các cuộc sinh hoạt văn nghệ ở các câu lạc bộ Người cao tuổi, hội phụ nữ, hội nông dân.

* Hát đối.

- Qúa trình ra đời: Ra đời từ xa xưa, chưa xác định được thời gian thực hiện.

- Hiện trạng:

+ Số lượng nghệ nhân hiện có: 04 người; độ tuổi từ 60 tuổi đến 70 tuổi

Tiêu biểu như:

1. Bà:Thiều Thị Quạt, thôn Phác Đồng, xã Thiệu Công.

2. Bà: Lê Thị Nhẫn, thôn Thành Hưng, xã Thiệu Công.

3. Bà: Nguyễn Thị Duyên, thôn Phác Đồng, xã Thiệu Công.

4. Bà: Nguyễn Thị Xuân , thôn Thành Hưng, xã Thiệu Công.

Do người dân lao động ở quê vốn có cuộc sống vất vả, quanh năm suốt tháng lúc nào họ cũng ra đồng cấy cày. Chính trong hoàn cảnh đó để cho tâm hồn được thoải mái xua đi những vất vả mệt nhọc, người dân ở đây đã sáng tạo ra hình thức sinh hoạt nghệ thuật đối đáp.

Mở đầu lời hát đối đáp có thể là người con gái hoặc người con trai tùy vào nội dung của lời hát đối đáp. Chủ yếu liên quan đến công việc đồng áng của họ như “khay ngô đồng, bầu rượu, trầu cánh phượng”. Thường thì người con trai đáp lại lời người nữ để dò ý của đối phương xem có đồng ý hay không. Hai người hỏi qua đáp lại khi đã tâm đầu ý hợp thì bài hát đối đáp đó kết thúc.

Khi đêm đã khuya, tuy tình chưa cạn, lời chưa hết nhưng cuộc hát cũng phải chuyển sang hát thề, hát tiễn:

“ Em về thưa với mẹ thầy

Có cho anh cưới tháng này anh lo

Anh về nuôi lợn cho to

Trầu cau sắm đủ, thầy me cho cưới liền”

Qua những cuộc hát đối đáp nam nữ, qua những câu giao duyên, nhiều đôi trai tài gái sắc có dịp làm quen, thử tài nhau, cảm mến nhau rồi yêu thương, nên vợ nên chồng.

1.2. Lễ hội truyền thống: Số lượng 4 di sản.

* Hội làng truyền thống.

- Quá trình ra đời: Lễ hội làng truyền thống ở các làng, xã trên địa bàn huyện Thiệu Hóa phần lớn ra đời từ khi nào ít người biết đến; nếu có biết cũng chỉ là ước khoảng thời gian như: lễ hội làng truyền thống xã Thiệu Trung vào khoảng thế kỷ thứ 14; lễ hội làng Bái Giao xã Thiệu Giao có khoảng vào thời Lý, Trần. Hiện nay, các lễ hội làng truyền thống trên địa bàn toàn huyện đều được sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, Chính quyền địa phương, sự đồng tình ủng hộ của nhân dân nhằm giữ gìn, phát huy và duy trì tổ chức hằng năm, tồn tại ở một số xã như: Thiệu Châu, Thiệu Giang, Thiệu Duy, Thiệu Giao, Thiệu Trung.

- Hiện trạng: Phần lớn các lễ hội vẫn được giữ gìn bào tồn và phát huy tốt giá trị.

+ Số lượng nghệ nhân hiện có: 50 người, độ tuổi từ 50 tuổi đến 80 tuổi

Tiêu biểu một số người như:

+ Phạm Huy Nông, thôn 1, xã Thiệu Trung

+ Nguyễn Xuân Đoái, thôn 4, xã Thiệu Trung

+ Lê Văn Hãn, thôn 5, xã Thiệu Trung

+ Trần Thị Lư, thôn 4, xã Thiệu Trung

+ Lê Đình Dong, thôn 4 làng Bái Giao, Thiệu Giao

+ Lê Đình Bùi, thôn 1 làng Bái Giao, Thiệu Giao

+ Hàn Xuân Nhơn, làng Đa Lọc, xã Thiệu Giang

+ Hàn Xuân Ngọn, làng Đa Lọc, xã Thiệu Giang

+ Lê Chính Suất, làng Đường Thôn, xã Thiệu Giang

+ Lê Thị Thủa, làng Đường Thôn, xã Thiệu Giang

+ Lê Thế Dực, làng Đường Thôn, xã Thiệu Giang

+ Lê Đăng Khanh, thôn Sơn Thịnh, xã Thiệu Châu

+ Nguyễn Trọng Phú, thôn Châu Ngọc, xã Thiệu Châu

+ Lê Trọng Trường, thôn Châu Sơn, xã Thiệu Châu

+ Phùng Bá Thạnh, thôn Châu Ngọc, xã Thiệu Châu

+ Nguyễn Trọng Quân, thôn Châu Ngọc, xã Thiệu Châu

+ Lê Như Ượm, thôn Khánh Hội, xã Thiệu Duy

+ Lê Như Vượng, thôn Khánh Hội, xã Thiệu Duy

+ Lê Thế Phớt, thôn Khánh Hội, xã Thiệu Duy

- Số lượng người thực hành: 60 người

- Số học viên hiện nay: Chưa mở lớp

- Phương thức truyền dạy: Trao truyền trong cộng đồng

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành hội làng truyền thống xã Thiệu Trung: Hàng năm khi mùa xuân đến, cũng là lúc nông nhàn, nhân dân nơi đây lại náo nức chuẩn bị cho lễ hội làng mùng 10 tháng 2 âm lịch, một lễ hội làm ấm tình làng nghĩa xóm. Dưới thời phong kiến, các triều đại Đinh – Lê - Lý tôn sùng đạo phật thì ở địa phương cũng đã xuất hiện chùa thờ Phật. Chứng tỏ rằng Đạo Phật cũng đã du nhập và phát triển ở đây. Đến triều Trần một triều đại luôn chú ý đến việc học hành, chọn hiền tài theo giáo lý nho học thì vùng Kẻ Dị - Kẻ Chè này có Lê Văn Hưu, cháu đời thứ 7 của bộc xạ tướng công Lê Lương mở đầu cho học đạo nho, đỗ bản nhãn khoa Đinh Mùi (1247) đã mỡ đầu cho truyền thống hiếu học thi cử ở Thiệu Trung nói riêng và Thanh Hoá nói chung. Một vùng quê văn hiến có chùa Hương Nghiêm cổ kính, đền thờ Khổng Minh Không, ông tổ của nghề đúc đồng. Nơi đây cũng có nhiều hiền tài đi theo con đường nho học đổ đạt trong các khoa thi. Thiệu Trung từ xa xưa đã là vùng đất trù phú là trung tâm văn hoá, kinh tế của một vùng, nền văn hoá Đạo Phật, Đạo nho cùng song song phát triển. Đạo Phật có chùa thờ Phật, Đạo nho có đình thờ thành hoàng, thờ các danh tướng có công. Quê hương Kẻ Dị - Kẻ Chè xưa và Thiệu Trung ngày nay, vào thế kỷ thứ XIV có trạng nguyên Đào Tiêu có công, khi qua đời có phong phúc thần, dân làng lập đình thờ ông trước chùa Hương Nghiêm, tên gọi Đình Cả có bài vị sắc phong. Không chỉ vậy nơi đây còn có các miếu.

Miếu nhị thờ Thiên Phúc Phủ quân thần vị

Miếu tam thờ Đại Hành Phủ thần thần vị

Miếu tứ thờ Thái Tổ Phủ thần thần vị

Miếu Ngũ thờ Lão Phu Bạch Y Mẫu nhi thiên hạ

Miếu Trà Đông thờ Thiều Sỹ Quốc Nam triều vương quốc

Các miếu thờ trước đây đều có sắc phong, do biến thiên của lịch sử nên các sắc phong và miếu thờ không còn nữa chỉ còn các địa danh, riêng địa danh chùa Hương Nghiêm vẫn còn tồn tại. Các địa danh như quán học - Phản ánh nền học hành ngày xưa khi nho giáo gắn liền với khoa cử; Bàn hát - Thể hiện đời sống tinh thần ở làng xã thường diễn ra trong các lễ hội đầu xuân. Từ hai minh chứng trên cho thấy rằng quê hương Thiệu Trung có Đạo phật, Đạo nho cùng phát triển, một quê hương có nhiều danh nho võ tướng, việc thờ thần ở các đình miếu nhất định phát triển và trở thành lễ hội truyền thống mùng 10 tháng 2 hàng năm có từ thế kỷ thứ XIV khi làng xã có đền thờ các vị thành Hoàng.

Việc tổ chức lễ hội do các vị chức sắc trong làng, xã chủ trì được thực hiện trang nghiêm, có kiệu rước bài vị, có sắc phong của các vị thành hoàng về Đình Cả (nơi thờ Đào Tiêu - trước chùa Hương Nghiêm). Bài vị sắc phong được đặt theo ngôi thứ tại Đình Cả, tổ chức tế lễ trong ba ngày, trong tế lễ có hầu đồng, hát văn, hát trúc. Ngoài tế lễ còn có các trò chơi, trò diễn như đánh cờ người, đánh bài điếm, đánh đu, kéo co, nhảy dây, múa lân... Ca hát gồm có: Hát gẹo, hát ả đầu..... hết hội các thành Hoàng được kiệu rước về làng.

Lễ hội truyền thống mùng 10 tháng 2 là lễ hội tế thần tập chung, tỏ lòng biết ơn các vị thần, các bậc danh nhân có công với nước. Lễ hội làng nơi đây không phải tổ chức ở một làng, một thôn, mà được tổ chức trong toàn xã. Có ban tổ chức lên kế hoạch cụ thể và được chính quyền huyện, tỉnh chấp nhận. Ban tổ chức của lễ hội thường là những cán bộ xã và những người cao tuổi, trưởng thôn, bí thư của các thôn trong xã. Lễ hội truyền thống của xã được tổ chức tại sân chùa Hương Nghiêm nơi thờ các phật, trong có đền thờ nhà sử học Lê Văn Hưu, trước chùa là bàn thờ Đào Tiêu - Một trạng nguyên có công với nước.

Phần lễ:

Lễ hội làng truyền thống của xã được tổ chức trong ba ngày liên tiếp (từ ngày mùng 9 tháng 2 đến 11 tháng 2 âm lịch). Trong đó phần lễ bao gồm rước kiệu, múa lân, tế lễ. Trong buổi sáng ngày đầu tiên, kiệu của các thôn được rước từ đình làng hay nhà văn hoá của mỗi thôn (6 thôn của xã thì mỗi thôn có một đội rước kiệu và một đội tế lễ) về Đình Cả. Để có một đội rước kiệu, tế lễ đẹp, nhân dân trong xã phải chuẩn bị rất kỷ lưỡng từ đầu tháng riêng.

Các nghi thức chuẩn bị:

Phần lễ là một hệ thống các nghi thức, nhằm biểu hiện sự tôn kính của cộng đồng đối với các vị thần. Nó phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước những khó khăn gian khổ của cuộc sống mà bản thân họ không có khả năng khắc phục, cần phải có sự giúp đở của các vị thần linh. Tế lễ là nghi thức mời thần linh về, hiến dâng lễ vật cho thần linh và cầu xin thần linh ban phúc lộc và sự bình yên cho dân làng. Sau khi kết thúc lễ hội còn có các nghi thức cảm tạ thần linh. Lễ hội là nơi bày tỏ khát vọng được ấm no, an bình và thịnh vượng. Do đó các nghi thức tiến hành phải được cân nhắc kỷ lưỡng, đầu tiên là việc chọn nhân sự.

- Chuẩn bị nhân sự:

+ Ban nghi lễ: Quan trọng nhất là việc lựa chọn chủ tế hay còn gọi là cai đám. Người chủ tế là người điều hành toàn bộ công việc tế tự của lễ hội, sự thành công hay không của lể hội phụ thuộc vào tài trí và sự khéo léo của chủ tế. Sự thành công hay không là ảnh hưởng tới sự yên ổn, thịnh vượng của cả làng trong năm đó, cho nên dân làng chọn chủ tế rất cẩn thận và nghiêm khắc. Có ba tiêu chuẩn để chọn: Một là người có học vấn cao, có uy tín thuộc gia đình nề nếp, vợ chồng con cái hoà thuận; Hai là chủ tế phải là người cao tuổi trong làng; Ba là gia đình không có tang. Ngoài ra còn có một số yêu cầu khác như: Ngoại hình phải cân đối, khoẻ mạnh, là dân chính cư, hiền lành chân thật, được dân làng yêu quý. Những người đạt tiêu chuẩn được dân làng bầu ra rất vinh dự và từ hào, nhưng trách nhiệm cũng rất nặng nề vì cái phước của chủ tế tốt hay xấu đều ảnh hưởng đến vận may rủi của làng.

Một vấn đề không kém phần quan trọng là người viết văn cũng có những tiêu chuẩn giống chủ tế, đặc biệt về mặt học vấn phải đạt trình độ uyên thâm (Thường là các nhà nho).

Ngoài hai nhân vật trên để thực hành các hoạt động tế lễ còn phải chọn những người phục vụ gồm: Hai người bồi tế có nhiệm vụ đứng sau chủ tế trông và làm theo chủ tế; Hai người Đông xướng và Tây xướng đứng cạnh hương án để xướng lễ, đặc biệt là vai trò điều khiển các bước của Đông xướng, hai người nội tán đứng cạnh Đông xướng và Tây xướng để rước nến, khay rượu... Người đọc văn phải là người có học vấn, có chất giọng to truyền cảm. Những người này tuy không cần đạt tiêu chuẩn cao như chủ tế và người viết văn nhưng cũng phải đạt các yêu cầu sau: Gia đình không có tang, bố mẹ song toàn, con cái đông đủ và hạnh phúc, bản thân phải khoẻ mạnh, nhanh nhẹn, được dân làng quý mến.

+ Đoàn rước kiệu gồm tám người có nhiệm vụ khiêng kiệu đón về Đình Cả. Trong đó bốn người khiêng kiệu (do đặc điểm kiệu nơi đây không cồng kềnh và cũng không quá nặng nên chỉ cần bốn người khiêng), bốn người còn lại đội lễ vật dâng thần.

+ Ban nhạc gồm có năm người, đó là những người có thâm niên đánh trống, chiêng, thổi sáo, kéo nhị, đánh đàn... trong các “Hội hè đình đám” của làng xã, ban nhạc thường do ban tổ chức chọn ra.

Những người tham gia tế lễ nếu tham gia lần đầu thì sẽ tập tỉ mỉ trong thời gian dài, nếu đã tham gia trong một hoặc hai năm rồi thì chỉ cần tập trong thời gian nữa tháng. Tất cả điều tập tự giác và trước ngày tế thường tế thử một lần để hạn chế những sai sót và giúp cho những ngày tế chính được thành công.

- Chuẩn bị lễ vật và đồ lễ:

+ Lễ vật chính của các buổi tế lễ thường rất linh đình gồm: Xôi, thịt, trầu, cau, rượu, chè, vàng hương, chuối, oản... Xôi được nấu từ những hạt nếp thơm mẩy hạt thường được đơm vào các mâm đồng hoặc mâm nhôm, thịt có thôn chọn thịt gà có thôn chọn thịt lợn, trầu phải là trầu quế, cau phải vừa hạt...

+ Đồ dùng phục vụ tế lễ bao gồm: Lư hương, giá đựng bản văn, một bàn Đông xướng, một bàn Tây xướng. Bên bàn của Đông xướng có thêm một chậu rửa tay một khăn lau tay của chánh tế và hai người dâng hương (phải rửa tay trước khi dâng hương) một bộ chén để dâng rượu...

Ngoài ra trước khi tế người ta còn chuẩn bị về trang phục, quét dọn đình và các khu tế tự khác đặc biệt là các bài vị bát biểu đồ thờ... Như vậy, để tế lễ việc chuẩn bị rất được coi trọng và diễn ra khá nghiêm ngặt với hy vọng sẽ góp phần đưa lễ hội diễn ra suôi sẻ thành công, cùng với sự chuẩn bị trên nhân dân trong làng cũng mặc quần áo chỉnh tề, từ già tới trẻ ai cũng náo nức ra đình tham gia và chiêm ngưỡng không khí náo niệt thiêng liêng của lễ hội.

- Rước kiệu và tế lễ:

- Rước kiệu:

Rước kiệu diễn ra vào buổi sáng đầu tiên trong ba ngày lễ và được chọn vào giờ hoàng đạo. Các thôn rước kiệu từ đình làng, nhà văn hoá của mỗi thôn đến Đình Cả của xã. Trong kiệu gồm bài vị, một ít lễ vật (vàng, hương, trầu, rượu, hoa quả...) kiệu có lọng che và được trang trí đẹp đẽ có sơn son thiếp vàng.

Do việc thờ cúng các thần trong làng xã được tổ chức thường xuyên ở nhà thờ chung, đền, miếu, phủ, nghè, cho nên đến ngày tế lễ các làng phải tổ chức thần vị từ các nơi đó về Đình Cả và đến khi dã đám thì được rước “ Hoàng cung” (đưa thần vị về chỗ cũ). Kiệu là biểu trưng cho vị thần hoặc thánh trong lễ hội. Trong buổi rước kiệu cũng như tế lễ tất cả mọi người tham gia đón rước phải ăn mặc chỉnh tề, trong đó đội rước có trang phục riêng sẵn sàng vào cuộc rước, theo hiệu trống của người đánh trống cái, khi rước kiệu ở các nơi vào đến cổng Đình Cả, các kiệu phải quan xát và chờ nhau sắp xếp theo thứ tự. Kiệu rước được đặt ở sân đình, còn các lễ vật tế thần sẽ được mang vào trong các bàn thờ thành Hoàng, bàn thờ phật để tổ chức tế. Sau khi tế xong sẽ làm lễ tiễn thần về vị trí cũ.

Lễ rước kiệu thực sự là sự chuyển dịch thần vị một cách long trọng tự địa điểm này sang địa điểm khác, sự “điều động” thần linh đi dạo quanh làng xã, quan sát tình hình của nhân dân có được ấm no hạnh phúc hay không dưới sự phù hộ độ trì của thần. Trong lễ hội, lễ rước là thành phần chính giúp cho lễ hội thể hiện được chức năng xã hội của mình cuộc rước đó sẽ làm cho uy nghi của các vị thành hoàng linh thiêng hơn, gắn bó hơn với dân làng như một bộ phận hữu cơ. Đồng thời lễ rước trong hội làng còn là dịp để biểu dương, khẳng định sức mạnh cố kết cộng đồng làng xã từ đó đem lại cho dân làng lòng tự hào và yêu quý quê hương làng xóm của mình hơn. Ngoài ra qua đám rước các thành viên trong làng trở nên gần gũi thân thiết với nhau hơn.

- Tế lễ:

Tế lễ diễn ra sau khi đã hoàn chỉnh tất cả các nghi thức trên. Lúc này ở Đình Cả đã có đầy đủ các yếu tố của một buổi lễ như thần vị, văn tế, lễ vật tế, nhân sự tham gia tế lễ (một đội tế thường là mười ba người mà toàn bộ là nữ). Đây là lễ tế tiến vật phẩm dâng thần là dịp dân làng chúc tụng và bầy tỏ lòng biết ơn các đấng thần linh đã che trở phù hộ độ trì cho nhân dân. Trong buổi tế trước bàn thờ các vị thành Hoàng cũng là sân chính của chùa Hương Nghiêm thường trải bốn chiếu: Một chiếu thần, một chiếu chủ tế và hai chiếu bồi tế. Buổi tế của mỗi thôn trãi qua khoảng năm mươi lần xướng lạy kể từ câu đầu tiên “chấp sự gia các tư kỳ sự” cho tới câu cuối cùng là “Lễ tất” thì buổi tế của thôn đó hoàn thành. Các thôn trong xã theo thứ tự bắt thăm rồi lần lượt tế từ buổi khai hội đến buổi kết thúc hội, mỗi thôn sẽ tế trong một buổi. Còn các trò chơi trong phần hội sẽ được tổ chức kết hợp trong ba ngày lễ hội.

Trong tế lễ chủ tế đóng vai trò trung tâm, nhưng người dẫn dắt điều khiển cuộc tế lại là Đông xướng và Tây xướng. Chủ tế và các tế viên đều đội khăn xếp, mặc áo dài có thắt đai, đi hài, đứng xếp hàng hai bên chiếu chuẩn bị bước vào buổi tế. Các bài tế thường do các cụ già biết chữ nho trong làng soạn ra và dựa vào các bài tế của các thế hệ trước.

Buổi tế của các thôn trong xã gồm các thao tác sau:

Bất đầu Đông xướng xướng: “Chấp sự các gia cát sự kì sư” Tất cả các tế viên ai được ứng cử làm gì thì sẽ vào vị trí và chú ý việc ấy. sau đó Đông xướng lại xướng liên tục. “Khởi chinh cổ” hai chấp sự vào hai bên cạnh giá trống, giá chiêng. Một người đánh ba hồi chiêng trước sau đó người kia đánh ba hồi trống (theo ba hồi sáu tiếng). Cuối cùng hai người đánh ba tiếng nữa.

Nhạc tác! Ban nhạc chuẩn bị.

Nhạc công! Ban nhạc đánh trống.

Nhạc nhi! Điểm trống.

Chủ soái lễ vật! hai người chấp sự một người cầm cây nến người kia bưng cái để cắm hương dẫn chủ tế vào hậu cung xem xét lễ vật có sơ xuất gì không, chỉnh sửa cho nghiêm trang rồi trở ra.

Bồi tế tựu vị! Chủ tế và những người chấp sự đến chỗ chậu nước và hương án, chỗ cái kỷ rửa và lau khô tay.

Chủ tế tựu vị! Chủ tế bước vào chính giữa.

Phần hương! Một người chấp sự bưng lư hương và một người nữa bưng hộp hương trầm đem đến trước mặt chủ tế. Chủ tế lấy gói trầm bỏ vào lư rồi cầm cái lư, dâng lên vái một vái sau đó đưa lại cho chấp sự.

Thượng hương! Người chấp sự bưng lư hương đặt lên hương án ở giữa, sau lùi xuống vái một vái rồi cả hai chấp sự lui về chỗ cũ.

Nghinh lễ cúc cung bái! Chủ tế và bồi tế vái bốn vái.

Tây hướng: Hưng! Tất cả đều đứng lên.

Sau đó Đông hướng lại tiếp tục Xướng: “Hành sơ lễ nghệ tửu tôn sơ!” Hai bên Đông - Tây mở khăn đậy đài rượu, hai chấp sự bưng khay đạy đài rượu, tiến vào đứng bên cạnh chủ tế.

Lễ hội đại vương tôn thần vị tiền! Chủ tế cùng một người dâng tế văn, một người đọc chúc văn tiến lên chiếu trên.

Qụy quai qụy! Cả ba người cùng hai bồi tế quỳ xuống.

Chuyển chúc! Người dâng chúc chuyển lại cho chủ tế, chủ tế đở và dâng lên vái thần.

Chuyển đọc! Chủ tế chuyển chúc cho người đọc.

Đọc chúc! Người đọc chúc đọc hết bài sau đó vái chuyển lại cho chủ tế, chủ tế chuyển lại cho người dâng chúc. Người đọc chúc và dâng chúc vái, đứng lên người dâng chúc đưa chúc văn lên hương án sau dó tiến xuống cùng người đọc chúc lui ra.

Phủ phục! Chủ tế và bồi tế phủ phục.

Tây xướng: Hưng! Ba người đứng lên.

Đông xướng: Bình thân phụ vị, chủ tế về chiếu dưới.

Tiếp sau đó, sẽ tổ chức một lần dâng rượu tiếp theo, với thứ tự lần lượt như phần đầu trước phần đọc văn. Tuần rượu sau sưng là: “Á hiền lễ ”. Dẫn rượu lần này song, chủ tế sẽ được uống một ly rượu, gọi là “Thụ tộ” với ý nghĩa là thần ban phước lộc thì chủ tế phải uống hết ngay. Sau đó còn một số bước:

Đông xướng: Tạ lễ cúc cung bái! Chủ tế bồi tế vái bốn vái.

Tây xướng: Hưng! Ba người thôi bái...

Đông xướng: Lễ tất! Chủ tế và bồi tế vái ba vái rồi lui ra. Cuộc tế lễ kết thúc.

Như vậy nghi thức của phần tế lễ được tổ chức chặt chẽ và diễn ra theo trình tự, trở thành những nghi thức chung bắt buộc trong mỗi lần lễ hội.

- Phần hội:

Phần hội trong lễ hội làng truyền thống của xã Thiệu Trung có một điều đặc biệt khác với hội làng ở các vùng quê khác. Đó là phần hội nơi đây được tổ chức đan xen với phần lễ (kết thúc phần lễ của mỗi thôn là một số trò chơi được tổ chức) chứ không tổ chức khi phần lễ đã kép lại. Chính điều này đã tránh được sự đơn điệu, buồn tẻ của phần tế lễ, tạo không khí phấn khởi trong nhân dân.

Hội là những hoạt động phóng khoáng, sôi nổi diễn ra chủ yếu ở sân đình hoặc sân bãi rộng. Có thể nói đến với hội là đến với niềm tin và hy vọng. Tất cả mọi người có quyền tham dự trước sự cổ vũ của dân làng.

Các trò chơi trong phần hội thường được gọi là “trò bách huý” đây là phần sôi nổi nhất của lễ hội. Mỗi trò chơi thường có treo giải thưởng. Tuy giá trị giải thưởng của mỗi trò chơi không đáng bao nhiêu nhưng điều quan trọng là đều đem lại cho họ niềm vui. Hội làng của xã tổ chức linh đình với các trò chơi truyền thống. Ban ngày thì đánh cờ bàn, đánh cờ người, bắt trạch trong chum, thi nấu cơm nồi đất, kéo co, nhảy dây, nhảy bì ném bóng… Ban đêm thì tổ chức giao lưu văn nghệ, hát chèo… Các trò chơi dân gian thường thu hút đông đảo nhân dân hơn phần lễ vì nó không cấm kỵ. Chẳng hạn như trò chơi cờ bãi, cờ bàn. Đối tượng tham gia chủ yếu là các nam thanh niên và những người đàn ông trung niên không phân biệt độ tuổi mà trong mỗi thôn ở từng nước đi cờ của đội mình đều có sự bàn bạc với nhau. Riêng trò chơi kéo co là sôi động hơn cả, thu hút đông đảo nhân dân đứng xem nhất. Trong đó có kéo co Nam và kéo co Nữ, 6 thôn mỗi thôn có một đội gồm 12 người thi đấu vòng tròn một lượt rồi phân giải theo nhất nhì và ba. Ở trò chơi thi nấu cơm nồi đất thì số lượng người ít hơn. Mỗi đội chơi có 3 người, nồi đất được lồng vào một chiếc giắng có đòn do 2 người khiêng, một bó đuốc dài đốt cháy do một người cầm di động theo vòng nấu ở dưới nồi đất, cứ theo vòng tròn cho tới khi thời gian thi 5 phút, đội nào cơm chín đều, dẻo, thơm ngon thì đội đó nhất. Trò chơi này cũng thu hút được đông đảo người xem. Các trò chơi khác như trò nhảy dây, nhảy bì ném bóng… cũng thu hút người xem không kém.

Riêng đêm giao lưu văn nghệ mùng 10 tháng 2 mỗi đội có 2 tiết mục văn nghệ, các nhà trường, các đoàn thể cũng có những tiết mục góp vui. Trong đêm giao lưu văn nghệ nhân dân trong xã đã thể hiện được lòng biết ơn Đảng, biết ơn Bác Hồ, tình yêu quê hương đất nước qua những lời ca tiếng hát.

Khi đội chơi đã đủ người, ai không trong đội chơi thì đứng ngoài cổ vũ nhiệt tình cho đội mình. Và những người không trong đội hát múa thì đứng xem khích lệ tinh thần cho người chơi, làm cho hội làng thêm náo nhiệt và hứng khởi góp phần củng cố sợi dây đoàn kết giữa các thành viên.

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành hội làng Bái Giao: Lễ hội làng Bái Giao được biểu hiện trong toàn thể cộng đồng dân cư, cứ vào dịp lễ hội, dù làm ăn, sinh sống ở đâu những người con quê hương làng Bái Giao điều trở về quê hương tham gia lễ hội.

Trong không khí rộn ràng náo nhiệt và thiêng liêng của lễ hội, tình cảm gắn bó, gắn kết cộng đồng càng trở nên khăng khiết hơn.

Theo lệ xưa thì lễ hội hàng năm được mở hội thu nhị kỳ (một năm một kỳ) vào ngày 10/3 và 10/9 âm lịch hàng năm. Ngoài ra làng còn có lễ kỵ, chung vào ngày 10 tháng Giêng. Trong lễ hội được chia thành 2 phần gồm phần lễ và phần hội.

Phần Lễ:

- Lễ rước kiệu: Trong lễ rước kiệu các quân kiệu là những thanh nam khỏe mạnh, trang phục chỉnh tề, có đội nhạc, kèn, bat âm . rước thần làng từ nghè, miếu, đền về đình làng để làm lễ tế thần. Kiệu ở nghè miếu Cả được đi trước, các kiệu còn lại đi sau. Ngoài ra, còn rước văn chúc và cỗ soạn gọi là lễ vật chúng tế.

- Lễ tế: Được tiến hành sau khi lễ rước kiệu về đình làng. Những người trong ban hành tế gồm: Chủ tế; Hai bồi tế, Đông xướng và Tây xướng; Chủ văn (gọi là đọc trúc) và 8 người dẫn rượu. Cuộc tế do người Đông xướng chỉ huy, hiệu lệnh được bắt đầu từ khi khởi chiêng cổ đến khi nào Đông xướng hô lễ tất thì cuộc tế mới song.

Những người trong ban hành lễ được làng văn chọn rất kỹ, có quy định chức sắc, thứ tự trong làng.

Những người được chọn vào chủ tế phải là những người được dân làng tín nhiệm, ngoài ra còn có chức sắc coa nhất trong làng chọn theo đạo (tam cương, ngũ thường). Trong phần lễ làng còn tổ chức trò tế nữ quan của làng, đội tế nữ quan là những người thanh tân nữ tú trong làng.

Phần Hội: Trong những ngày diễn ra lễ hội ngoài các phần nghi thức lễ ra, nhân dân trong làng còn tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, TDTT, hát trò hội, các trò chơi dân gian như: đấu vật, đốt pháo bông, múa rồng … được diễn ra sôi nổi.

Lễ hội làng Bái Giao là mốn ăn tinh thần của nhân dân trong làng, mang lại ý nghĩa phục vụ đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân trong làng, ca ngợi công lao các vị thần đã có công xây dựng thành lập làng, mọi người dân trong làng đều phải cung kính tôn thờ, cầu cho quốc thái dân an, nhân dân trong làng đoàn két xây dựng làng ngày càng giàu đẹp và thể hiện lòng yêu quê hương, đất nước, con người, xây dựng làng trở thành làng văn hóa kiểu mẫu góp phần xây dựng quê hương, xây dựng nông thôn mới.

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành hội làng Đa Lọc: Lễ hội Làng Đa Lọc là lễ hội truyền thống của cộng đồng dân cư làng Đa Lọc chỉ diễn ra tại làng Đa Lọc xã Thiệu Giang, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa

Đối với người Đa Lọc họ quan niệm, đất đai, nhà cửa họ sinh sống, sự bình an trong thôn làng đều là do có thần linh giúp đỡ, họ biết ơn các vị thần muốn tỏ lòng thành kính, chính quan niệm và tín ngưỡng đó thể hiện rõ trong lễ hội làng. Lễ hội làng diễn ra vào đầu xuân, chính hội vào ngày 15/1 Âm lịch hàng năm và kéo dài trong suốt cả mùa xuân. Lễ hội này từ xa xưa tới nay không chỉ người dân trong làng mà con em làng Đa Lọc dù đi đâu vẫn nhớ về.

Lễ hội diễn ra với 4 phần như sau:

- Phần 1: Chuẩn bị lễ vật.

Chuẩn bị vào hội làng nhân dân trong làng nô nức chuẩn bị lễ vật. Ngày xưa khi vào mùa lễ hội thì việc chuẩn bị lễ vật được chỉ định luân phiên cho từng dòng họ trong làng và những người có học thức, có đị vị mới được chuẩn bị lễ vật dâng ngài.

Lễ vật gồm: sôi, thịt lợn (ngày xưa làm cả con), thịt gà, hoa quả, bánh kẹo, trầu rượu... Ngày xưa làng tổ chức lễ hội vào các dịp khác nhau thì phần chuẩn bị cũng khác nhau như: tổ chức ngày sinh nhật của hai ngài (9/4), ngày 21/11 ngày mất của các ngài, lễ vật gồm cơm, thịt lợn và hai quả trứng gà; Lễ hội đầu xuân thì lễ vật phong phú hơn.

- Phần 2: Trang phục vào lễ.

Trang phục của chủ tế, chủ lễ là áo dài đen, đầu trùm mũ, chân đi ủng

Trang phục của người đội lễ áo dài khăn xếp gọn gàng

Cấm kỵ: trong khi làm lễ cấm các chủ lễ mặc áo màu xanh và trắng nhạt.

- Phần 3: Tế lễ.

Bắt đầu buổi lễ hai Đông xướng và Tây xướng đứng hai bên của chủ tế với mục đích để ra hiệu cho các chủ lễ thực hiện nghi thức dâng lễ vật. Sau khi các nghi thức dâng lễ xong, thì đại diện chủ lễ người cao tuổi nhất sẽ cuối lạy Đông xướng và Tây xướng.

Đứng sau chủ tế là hai Bồi tế, sau mỗi nghi thức cúi lạy theo chủ tế và hai bồi tế có trách nhiệm trước khi vào buổi lễ, họ phải vào trong chính điện mỗi người phải mang một cây đèn có nến bên trong để kiểm tra xem lễ vật đã đầy đủ chưa, nếu đủ lễ mới bắt đầu tế lễ.

Đứng bên trái chủ tế, có một chủ lễ và người này có trách nhiệm đọc chúc văn, ở đằng sau chủ tế, bồi tế có 8 người chuyên phục vụ rót rượu vào các chén rượu thờ, sau khi đọc chúc văn chủ tế cúi lạy và sau đó mọi người đều cúi lạy.

Trong khi làm lễ cấm kỵ các chủ lễ mạc áo dài màu xanh, màu trắng nhạt và không được nói to, họ phải tập trung để lạy cho đều nếu lạy không đều sẽ không tốt, cấm kỵ người có tang, góa vợ, góa chồng làm chủ lễ và bê lễ.

Sau khi các nghi lễ được tổ chức xong coi như buổi lễ đã kết thúc và các lễ vật được chia đều cho tất cả mọi người dân trong làng.

- Phần 4: Phần hội. Trước đây có tổ chức hát ghẹo, diễn các tích tuồng chèo nhưng đến nay phần hội đã bị mai một chưa khôi phụ lại được.

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành Lễ hội đền Ngũ Vị Đại Vương: Lễ hội truyền thống của cộng đồng dân cư làng Đường Thôn diễn ra mục đích tưởng nhớ công ơn của 5 vị thần là vị thiên thần Thành Hoàng ông Phổ Minh, vị Nhân Thần Thành Hoàng ông Kim Ngô, vị thần Nhân Văn Đất Việt ông Khương Công Phụng, vị thần Tước Hầu Đô Thống Thượng Tướng Quân Lê Phụng Hiểu -Thánh Bưng.

Đối với người dân Đường Thôn họ quan niệm, các vị thần linh đã giúp đỡ đem lại sự bình an no ấm, thuận hòa cho nhân dân họ biết ơn các vị thần muốn tỏ lòng thành kính, chính quan niệm và tín ngưỡng đó thể hiện rõ trong lễ hội Đền Ngũ Vị Đại Vương.

- Lễ hội diễn ra gồm 5 phần

Phần 1: Chuẩn bị lễ vật.

Chuẩn bị vào ngày lễ hội tất cả nhân dân trong làng đều nô nức chuẩn bị lễ vật. Lễ vật gồm: sôi, thịt lợn, thịt gà, hoa quả, bánh kẹo, trầu rượu…phần lễ thì cả làng tập chung, các gia đình, dòng họ có điều kiện đều chuẩn bị lễ ra Nghè, bên cạnh các phần lễ của nhân dân thì Làng phải có một mâm lễ chính có thể xôi và đầu lợn, xôi gà, có năm còn chuẩn bị cả một con lợn quay tùy vào từng năm.

Phần 2: Trang phục vào lễ.

Trang phục của chủ tế, chủ lễ là áo dài vàng, đầu đội mũ vàng, chân đi hia nhiều màu sắc;

Trang phục của 2 bồi tế, 2 Thông xướng, 1 chúc văn quần áo dài, mũ màu xanh đỏ, chân đi hia.

Trang phục của người đội lễ áo dài nhiều màu sắc, khăn xếp gọn gàng

Trang phục của người khênh kiệu quần áo trắng, quấn khăn trên đầu, bụng buộc khăn màu đỏ.

Phần 3: Rước kiệu.

Trước khi vào buổi lễ sẽ có phần rước kiệu từ Đình đi xung quanh làng đoàn rước kiệu gồm 12 người, khênh nam khênh 2 kiệu, nữ khênh kiệu Đức Thánh Mẫu.

Yêu cầu đối với người khênh kiệu là nam thanh, nữ tú chưa có gia đình, gia đình cha mẹ anh chị em phải khỏe mạnh, gia đình hòa thuận hạnh phúc, không lấy nam giới, nữ gới đã có gia đình hoặc gia đình có tang.

Phần 4: Phần lễ.

Sau khi rước kiệu về đến nghè thì Bắt đầu buổi lễ, bước vào lễ ba hồi trống, ba hồi chiêng nổi lên bước vào tế lễ. Chủ tế là người có địa vị cao nhất trong làng ( là trưởng làng) sẽ dâng hương, dâng hương xong bái bốn bái, tiếp theo là đọc chúc văn , nội dung của chúc văn Tên các vị thần và cầu cho dân làng bình an, hạnh phúc, mùa màng tươi tốt…đọc chúc văn xong tất cả đều bái hai bái.

Tiếp theo buổi lễ là trống, chiêng, sáo, nhị nổi lên sẽ là hát dâng hương, hát chèo chãi, vừa hát vừa dâng hương, dâng rượu, dâng hương chúc tửu ba lần cứ mỗi lần chúc tửu, dâng hương thì bái hai bái.

Sau khi các nghi lễ được tổ chức xong coi như buổi lễ đã kết thúc và các lễ vật của gia đình nào thì gia đình đó hạ và đem về, riêng phần mâm cỗ chính của làng phải để đến cuối ngày và chia đều cho các cụ cao niên trong làng.

Phần 5: Phần hội. Được tổ chức ngay trước sân nghè với các trò chơi trò diễn dân gian nhưc kéo co, leo dây, hát đối, diễn các tích chèo cổ….Ngày hội đến trống dong cờ mở, cả làng nhộn nhịp đông vui sau khi đã xong công việc sản xuất.

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành Lễ hội Đình - Đền làng Đắc Châu: Được tổ chức vào ngày mùng 10 tháng giêng hàng năm, nhưng công tác chuẩn bị từ trước tết Nguyên đán, được biểu hiện phần lễ và phần hội: Phần lễ được tổ chức tại đình đền thông qua các nghi lễ, truyền thống được truyền tụng qua các thế hệ trong làng, Phần hội được tổ chức bởi các trò chơi , trò diễn dân gian như Rước kiệu, cờ tướng , kéo co, trọi gà…

Trước tết nguyên đán hàng năm, vào khoảng từ ngày 20 đến ngày 25 tháng chạp hàng năm, Ban quản lý đình đền, ban xây dựng làng đắc châu tổ chức họp và phân công từng thành viên để tổ chức điều hành làng văn, làng nhạc, đội trai kiệu,điều hành các trò chơi , trò diễn dân gian như: kéo co, trọi gà, cờ tướng, tổ chức rước kiệu đức thánh du xuân.

Đến hẹn lại lên,từ ngày mùng 8, 9 tháng giêng, là các ngày chuẩn bị cơ sở vật chất, sửa soạn các vật dụng cho lễ hội, tổ chức làm khán đài, làm rạp, định vị các sân chơi,sẵn sàng cho lễ hội chính thức vào ngày mùng 10 tháng giêng.

Ngày mùng 10 tháng giêng, ngay từ 5 giờ sáng mọi người ai vào việc nấy,việc đầu tiên là rước kiệu, Kiệu được trai làng (trai tịnh) khênh rước từ đình hạ , qua các thôn trong làng và trở về đình thượng, trong quá trình rước kiệu cùng với đoàn khênh bát bửu, xà mâu, khênh lọng , tàn, tiếp đến là làng nhạc và cuối cùng là nhân dân , du khách thập phương cùng đi rước kiệu , du xuân.

Sau khi rước kiệu về đến đình thượng thì bắt đầu tổ chức phần lễ, khai lễ là màn trống hội, nghi lễ chào cờ và sau đó là làng văn phối hợp với làng nhạc tiến hành các bước của buổi tế lễ, kết thúc phần lễ vào buổi trưa.

Sang buổi chiều của ngày mùng 10 tháng giêng, phần hội bắt đầu với các trò chơi, trò diễn dân gian như: trọi gà kéo co, cờ tướng…Kết thúc phần hội, ban tổ chức trao phần thưởng cho các đội tham gia và cũng là thời điểm kết thúc lễ hội.

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành Lễ hội Làng Khánh Hội: Là lễ hội truyền thống của cộng đồng dân cư làng Khánh Hội diễn ra tại làng Khánh Hội xã Thiệu Duy, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa

Đối với người Khánh Hội họ quan niệm, đất đai, nhà cửa họ sinh sống, sự bình an trong thôn làng đều là do có thần linh giúp đỡ, họ biết ơn các vị thần muốn tỏ lòng thành kính, chính quan niệm và tín ngưỡng đó thể hiện rõ trong lễ hội Làng. Lễ hội làng diễn ra vào đầu xuân, chính hội vào ngày 10 - 15/1 tết và kéo dài trong suốt cả mùa xuân. Lễ hội này từ xa xưa tới nay không chỉ người dân trong làng mà con em làng Khánh Hội dù đi đâu vẫn nhớ về.

- Lễ hội được diễn ra với các phần như sau:

Phần 1: Chuẩn bị lễ vật:

Chuẩn bị vào hội làng nhân dân trong làng nô nức chuẩn bị lễ vật. Ngày xưa khi vào mùa lễ hội thì việc chuẩn bị lễ vật được chỉ định luân phiên cho từng dòng họ trong làng và những người có học thức, có địa vị mới được chuẩn bị lễ vật dâng ngài.

Lễ vật gồm: sôi, thịt lợn, thịt gà, hoa quả, bánh kẹo, trầu rượu...

Phần 2: Trang phục vào lễ:

Trang phục của chủ tế, chủ lễ là áo the, khăn xếp, đi hài. Bốn bên là 4 ông trùm của 4 giáp: giáp đông, giáp đoài, giáp nhuệ, giáp thượng.

Cấm kỵ: cấm những người có tang không được đến dự.

Phần 3: Phần lễ:

Mân lễ để cúng thần hoàng làng trong ngày diễn ra lễ hội.

Nghi lễ: Người cao tuổi được mọi người tín nhiệm sẽ đọc văn khấn thành hoàng làng. Bên cạnh là 4 ông trùm của 4 giáp : giáp đông, giáp đoài, giáp nhuệ, giáp thượng, tiếp theo trong khu tế còn có 2 ông làng văn đứng điểm sướng còn các cụ và các quan viên, nhân dân trong làng ngồi dưới chiếu chắp bái.

Trong khi làm lễ cấm kỵ những người có tang không được xuất hiện, không được nói to, họ phải tập trung để lạy cho đều nếu lạy không đều sẽ không tốt, cấm góa vợ, góa chồng làm chủ lễ và bê lễ.

Sau khi các nghi lễ được tổ chức xong coi như buổi lễ đã kết thúc và các lễ vật được chia đều cho tất cả mọi người dân trong làng.

Phần 4: Phần hội:

- Tổ chức văn nghệ bằng các tiết mục văn nghệ, trò chơi dân gian.

- Báo cáo kết quả lao động sản xuất của cán bộ và nhân dân trong một năm, phương hướng nhiệm vụ năm tiếp theo.

- Thảo luận đóng góp xây dựng vào dự thảo báo cáo phương hướng của cán bộ và nhân dân trong làng.

- Ý kiến phát biểu của lãnh đạo xã.

- Đánh giá kết luận hội làng truyền thống.

Hàng năm làng vẫn duy trì tổ chức lễ hội theo thông lệ, phần lễ cùng như phần hội - tổ chức nhưng rất hạn hẹp vì nguồn kinh phí chưa đáp ứng đủ.

* Lễ tế thành hoàng làng.

- Quá trình ra đời: Lễ tế thành hoàng làng ra đời từ rất lâu, không ai biết rõ mốc thời gian cụ thể có từ bao giờ. Đến nay nhân dân làng Phú Lai Thiệu Long, làng Trí Cẩn thị trấn Vạn Hà chỉ biết đến như một sự kiện truyền thống hằng năm của làng.

- Hiện trạng: Số nghệ nhân hiện có: 25 người; độ tuổi 50 tuổi đến 70 tuổi

Tiêu biểu một số nghệ nhân như:

+ Trương Hồng Quý, thôn Phú Lai, xã Thiệu Long

+ Trương Đức Minh, thôn Phú Lai, xã Thiệu Long

+ Nguyễn Minh Vỹ, thôn Phú Lai, xã Thiệu Long

+ Lê Văn Duyệt, tiểu khu 3, thị trấn Vạn Hà

+ Lê Văn Diểu, tiểu khu 1, thị trấn Vạn Hà

+ Trịnh Văn Mùi, tiểu khu 1, thị trấn Vạn Hà

+ Trần Thanh Hải, tiểu khu 3, thị trấn Vạn Hà

- Số lượng người thực hành: 30 người

- Số học viên hiện nay: Chưa có các lớp truyền dạy.

+ Phương thức truyền dạy: Truyền miệng, trao truyền trong cộng đồng

- Hình thức thể hiện, quy trình thực hành lễ tế thành hoàng làng Phú Lai: Công tác tổ chức trước khi đưa vào hành lễ được tổ chức đội hình chu đáo có nề nếp thứ tự giống như đội hình đi vào nhà thờ đi đầu là các đồ lễ của các dòng họ được phân công theo thứ tự hàng năm gồm các mâm lễ truyền thống như xôi thủ lợn,vàng hương các mâm bánh kẹo của các bản hội và các gia đình cá nhân có tấm lòng thành kính

Đội hình tế lễ gồm 13 người có trang phục phù hợp với phong tục truyền thống đội hình được xắp xép theo nghi thức tế gồm

+ 1 chủ tế

+ 2 phụ tế

+ 1 đông xướng, 1 tây xướng

+ 2 bồi tế và 6 thực hành lễ

- Nội dung

- Thượng đăng ( thắp nến kiểm tra lễ vật )

- Dâng hương, hoa, rượu

- Đọc trúc văn báo cáo với thành hoàng làng kết quả đạt được về mọi mặt trong một năm qua và cầu cho năm mới làm ăn phát đạt mùa màng bội thu

- Hình thức thể hiện, quy trình thực hành lễ tế thành hoàng làng Trí Cẩn: Hằng năm vào 7 giờ, ngày mồng 7 tháng Giêng Âm lịch nhân dân, các dòng họ trong làng đều sắm sửa xôi, hoa quả tổ chức thành từng đoàn đến đình làng dâng hương xin Thần Hoàng phụ hộ con cháu trong gia đình, dân trong làng mạnh khỏe làm ăn gặp nhiều may mắn, cầu cho mưa thuận gió hòa.

Sau khi các dòng họ, nhân dân trong làng có lễ vật đến dâng hương Thần Hoàng, đúng 8 giờ 30 phút ban tổ chức tiến hành lễ dâng hương. Chủ tế là vị trưởng làng mặc áo dài đen, khăn xếp và 2 phụ tế cùng nhân dân trong làng ngồi phía tiến hành nghi lễ. Sau khi tế song lần lượt các dòng họ, con cháu trong làng vào dâng hương cầu phúc đầu xuân năm mới.

* Lễ rước kiệu.

- Qúa trình ra đời: Từ xa xưa, không rõ vào thời gian nào.

- Hiện trạng: Duy trì tổ chức hằng năm

* Số lượng nghệ nhân hiện có: 10 người; độ tuổi 55 tuổi đến 70 tuổi

+ Nguyễn Công Thiết, làng Nhuệ, xã Thiệu Thịnh

+ Lê Quang Dung làng Nhuệ xã Thiệu Thịnh

+ Lê Thế Thoi, làng Nhuệ xã Thiệu Thịnh

+ Lê Văn Khiêu, tiểu khu 7, thị trấn Vạn Hà

+ Hoàng Cao Khải, tiểu khu 7, thị trấn Vạn Hà

+ Vũ Công Xem, tiểu khu 12, thị trấn Vạn Hà

+ Lê Công Kỷ, tiểu khu 7, thị trấn Vạn Hà

- Số lượng người thực hành: 50

- Số học viên hiện nay: Không

+ Phương thức truyền dạy: Truyền miệng, trao truyền trong cộng đồng

- Hình thức thể hiện, quy trình thực hành lễ rước kiệu thôn Đương Phong:Lễ rước kiệu thành hoàng làng là lễ hội truyền thống của cộng đồng dân cư thôn Đương Phong được diễn ra tại đình làng vào rằm tháng Giêng và rằm tháng 7 hằng năm

Mỗi khi đến ngày rằm tháng giêng Thượng nguyên lễ tế thành hoàng và rằm tháng 7 là Trung nguyên tổ chức vu lan báo hiếu. Làng tổ chức là họp Ban thường trực làng và Trưởng các dòng họ trong làng để phân công và chuẩn bị các lễ vật cúng tại đình làng.

- Quy trình thực hành được thực hiện qua các bước như sau:

+ Chuẩn bị lễ vật: Chuẩn bị vào lễ rước kiệu nhân dân trong các dòng họ, trong làng làng nô nức chuẩn bị lễ vật dâng ngài. Lễ vật gồm: sôi, thịt lợn, thịt gà, hoa quả, bánh kẹo, trầu rượu... Ngày xưa làng tổ chức lễ hội vào các dịp khác nhau thì phần chuẩn bị cũng khác nhau như:

Rằm tháng Giêng là các dòng họ chuẩn bị khá công phu Mâm xôi gà, hoa quả.

Rằm tháng 7 chủ yếu là hoa quả.

* Trang phục vào lễ:

Trang phục của chủ tế, chủ lễ là áo dài đen, đầu trùm mũ, chân đi ủng

Trang phục của người khiêng kiệu áo dài gọn gàng, thắt lưng bó múi

Ghi lễ rước kiệu: Gồm 2 kiệu. Kiệu ông và Kiệu Bà mỗi kiệu có 4 người khiêng đó là do các nam thanh, nữ tú ăn mặc quần áo gọn gàng, thắt lưng bó múi vào khiêng kiệu, đi cùng với kiệu có lộng, tán và cờ hội đi trước.

Trước khi khiêng rước kiệu thì chủ tế phải thắp nhang để xin rước kiệu.

Lễ rước kiệu bắt đầu xuất phát đi từ đình và đi ra vòng quang làng sau đó trở về đình làm lễ tại đình.

Bắt đầu làng lễ:

- Khởi chinh cổ: Đánh trống (3 hồi, 9 tiếng)

- Mời chủ tế vào làm tế

- Nhạc tác: Tiểu sự hành lễ

- Mời chủ tế tư văn và hành lễ.

- Chủ tế bình thân (đứng im)

- Chủ tế kiểm soát vật: Đứng sau chủ tế là hai Bồi tế, sau mỗi nghi thức cúi lạy theo chủ tế và hai bồi tế có trách nhiệm trước khi vào buổi lễ, họ phải vào trong chính điện mỗi người phải mang một cây đèn có nến bên trong để kiểm tra xem lễ vật đã đầy đủ chưa, nếu đủ lễ mới bắt đầu tế lễ.

- Chủ tế dâng dương (gồm có 2 bồi tế cầm hương và nến theo: 1 người cấm hương và 1 người cầm nến)

- Dâng tửu (rượu): 03 lần Cúng hai bồi tế: Một người cầm cút rượi và một người cầm cốc rót rượu, khi rót xong đưa cho chủ tế để bái .

- Chuyển trúc: Người bồi đưa trúc cho chủ tế bái và đọc, sau khi đọc xong bái 4 bái rồi chuyển lại vị trí cũ.

Mỗi lần hành lễ đội múa hương ở dưới gồm sáu người con gái sẽ múa theo nhạc.

Sau khi tế lễ xong những cụ cao niên trong làng được thắp hương trước sau đó là các dòng họ vào thắp hương . sau khi thắp hương xong chủ tế bái tạ và hạ lễ.

Phần hội: trước đây có tổ chức hát chèo chải, tổ chức hội thi bắt trạch trong chum nhưng đến nay phần hội đã bị mai một chưa khôi phụ lại được.

- Hình thức thể hiện, quy trình thực hành lễ rước kiệu làng Kiến Hưng: Vào hồi 7 giờ 30 phút ngày mồng 7 tháng Giêng Âm lịch, ban tổ chức mời các đại biểu và bà con nhân dân tiến hành lễ rước kiệu nghinh thần du xuân.

Đi đầu là kiệu thần hoàng làng gồm có 16 thanh niên trai tráng khỏe mạnh khênh kiệu, 4 người một đòn. Sau kệu là đội hồng kỳ có 12 người cầm cờ xếp thành 2 hàng, đến đoàn múa lân có 5 đến 7 thanh thiếu nhi vừa đi vừa múa. Đến đoàn làng binh mặc quần áo làng binh đội nón đỏ gồm có 12 người, sau là ban nhạc, tiếp đến là hội làng văn gồm các cụ cao niên trong làng áo mũ khăn xếp, tiếp đến là đội nữ quan gồm 12 chị em phụ nữ, đến các dòng họ trong làng, bà con nhân dân, các du khách thập phương.

Cách thức tiến hành rước kệu du xuân, xuất phát từ đình làng, sau đó kiệu được rước đến các đường chính trong các tiểu khu, đi đến đơn vị tiểu khu nào thì giới thiệu thành tích của tiểu khu đó hết các đơn vị kiệu được rước về đình làng làm lễ.

Ban tổ chức mời các đoàn theo thứ tự vào đình làng và xếp thành 2 hàng quay mặt hướng vào nhau tiến hành lễ dâng hương Thần Hoàng làng. Tiếp đến là các dòng họ và các đơn vị tiểu khu, các bậc cao niên tế lễ theo dịp trống. Song các bài tế Thần Hoàng làng ban tổ chức mời các đại biểu đại diện địa phương, nhân dân vào dâng hương Thần Hoàng.

Sau lễ tế thần Hoàng làng lễ vật được đưa về các tiểu khu để nhân dân liên hoan, tạo không khí vui tươi phấn khởi, gắn tình đoàn kết cộng đồng dân cư.

* Lễ Du xuân cầu phúc:

- Qúa trình ra đời: Từ xa xưa, không rõ vào thời gian nào.

- Hiện trạng: Duy trì tổ chức hằng năm

* Số lượng nghệ nhân hiện có: 10 người; độ tuổi 50 tuổi đến 70 tuổi

+ Phùng Anh Thơ, tiểu khu 8, thị trấn Vạn Hà

+ Ngô Văn Gia, tiểu khu 8, thị trấn Vạn Hà

+ Phùng Quang Lỡ, tiểu khu 9, thị trấn Vạn Hà

+ Mai Xuân Thịnh, tiểu khu 11, thị trấn Vạn Hà

+ Nguyễn Quốc Giáp, tiểu khu 9, thị trấn Vạn Hà

- Số lượng người thực hành: 30

- Số học viên hiện nay: Không

+ Phương thức truyền dạy: Truyền miệng, trao truyền trong cộng đồng

- Hình thức thể hiện, quy trình thực hiện: Lễ hội du xuân cầu phúc làng Dương Hòa bắt đầu từ sáng ngày mồng 7 tháng Giêng Âm lịch, nhân dân làng Dương Hòa tập trung săm lễ vật để dâng lên Thàn Hoàng làng, cầu mong con cháu mạnh khỏe làm ăn may mắn.

Đúng 14 giờ các dòng họ, các tiểu khu đội lễ đến đình làng tập trung trước đình.Ban tổ chức thông báo và lần lượt mời các dòng họ vào dâng lễ, sau đó là các đơn vị tiểu khu. Khi lễ vật được dâng lên ban tổ chức mời nhân dân, con, cháu tập trung ngồi phía trước ban thờ Thàn Hoàng. Ban tổ chức mời 12 cụ cao niên trong làng mẫu mực vào ban tế lễ. Buổi lễ bắt diễn ra theo nhịp điệu của những tiếng nhạc, tiếng phách. Lễ cầu phúc du xuân là cầu cho năm mới mùa màng bội thu, con trẻ học hành thành đạt, nhân dân trong làng làm ăn khá giả, mọi nhà an khang thịnh vượng.

Sau lễ Thần Hoàng làng các dòng họ, các tiểu khu xin lễ đưa về các dòng họ, tiểu khu hưởng lộc rút kinh nghiệm.

1.3. Nghề thủ công truyền thống: Số lượng 3 di sản.

* Nghề đúc đồng truyền thống làng Chè (trà Đông) xã Thiệu Trung

- Quá trình ra đời: Ra đời từ xa xưa, các thế hệ ông cha truyền lại, chưa xác định được thời gian cụ thể.

- Hiện trạng:

- Số lượng nghệ nhân hiện có: 30 người, độ tuổi từ 50 tuổi đến 65 tuổi

Tiêu biểu một số người như:

+ Ông Nguyễn Bá Châu, thôn 5 xã Thiệu Trung

+ Ông Lê Văn Bảy, thôn 5 xã Thiệu Trung

+ Ông Đặng Ích Hoàn, thôn 5 xã Thiệu Trung

+ Ông Vũ Đình Trường, thôn 5 xã Thiệu Trung

+ Ông Lê Văn Đạo, thôn 6 xã Thiệu Trung

- Số lượng người thực hành: 50 người

- Số học viên hiện nay: 20

- Phương thức truyền dạy: Truyền miệng và hướng dẫn trực tiếp để thực hành.

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành: Từ đôi bàn tay khéo léo, tài hoa và đầu óc sáng tạo của thợ đúc - các nghệ nhân trong làng đã dùng đất để tạo ra các khuôn mẫu, sau đó nấu đồng ở nhiệt độ cao, nóng chảy và đổ vào khuôn tạo ra các sản phẩm theo yêu cầu.

+ Tạo mẫu: Từ ý tưởng, dự định một loại sản phẩm được mô tả như hình vẽ hay còn gọi là thiết kế làm cơ sở cho các thợ đúc tạo mẫu đúng theo bản vẽ về kiểu cách, hình dáng, kích thước, hoa văn ...

Nguyên liệu để tạo mẫu gồm có: Đất sét, sáp ong, thạch cao, nếu loại sản phẩm lớn có thể dùng bằng xi măng...

+ Tạo khuôn: Căn cứ vào hình mẫu để thợ đúc nặn khuôn, làm khuôn. Khuôn được chế tạo theo mẫu thiết kế hoặc mẫu có sẵn.

Nguyên liệu để tạo khuôn gồm: Đất sét, trấu lúa xay, hỗn hợp hữu cơ như trấu đốt thành tro, trấu đốt dở, bột Glophit…Trong quá trình chế biến nguyên liệu và pha trộn nguyên liệu phải tuân thủ một cách nghiêm ngặt tỷ lệ pha trộn nguyên liệu. Các khâu tạo khuôn, nung khuôn, ghép khuôn, rồi đổ đồng vào khuôn đều là những khâu kỷ thuật rất quan trọng.

+ Tạo hình khuôn ngoài (xe cốt): Khuôn ngoài được làm 2 mảng như nhau sau đó đến các bước “giọt khuôn”, “quang khuôn” rồi tạo hoa văn của sản phẩm theo bản vẽ (theo mẫu)

+ Khuôn trong “Cốt trong” hay còn gọi là “Thao”: Khi khuôn ngoài và khuôn trong đã tạo xong, tiến hành phơi, sấy và nung khuôn, làm cho khuôn khô, sau khi nung đến cung đoạn mài “ Giọt”, “ làm thịt thao”, trảm tháo, nóng nén để thử khuôn trong và khuôn ngoài, tạo khe hở theo độ dày, mỏng của sản phẩm để lắp ghép 2 mảnh khuôn ngoài với khuôn trong rồi thét khuôn lại. Phần “đường quan” giữa 2 khuôn ngoài dùng nguyên liệu đã pha chế (nguyên liệu làm khuôn) chát lại sau đó mổ xẻ, làm lỗ thoát khí khuôn hoàn chỉnh đến cung đoạn nấu đồng và đổ đồng vào khuôn.

Đúc đồng: Các dụng cụ đúc đồng gồm: nồi cơi, ống cơi và bể thổi lửa.

Khi mọi khâu đã chuẩn bị song, người thợ cho nguyên liệu vào nồi nấu gồm: Than đồng và kim loại pha chế, rồi đốt lửa, thổi lò, điều chỉnh quạt lò theo tốc độ phù hợp, khi than chảy đỏ hồng (thường nhiệt độ khoảng 800oC thì đồng bắt đầu chảy, nước đồng chảy từ nồi trên xuống nồi cơi còn than và cặn bả nổi lên trên. (khâu này quan trọng nhất là điều chỉnh nhiệt độ phù hợp để nước đồng trong sản phẩm được bóng, mịn, tự nhiên)

Khi thấy trong nồi đồng và ống cơi chỉ còn khói trắng là đồng đã chảy hết; tiếp theo nâng ống cơi ra gạt lọc hết tạp chất nỗi ở trên nồi đồng rồi dùng tro bếp dây mịn phủ kín để giữ nhiệt rồi đổ đồng vào khuôn. Khi rót đồng vào khuôn, đồng chảy phải có ngọn chảy đều và chảy liên tục cho đến khi đầy khuôn. Khi đổ đồng xong khẩn trương tháo đai nén để đồng co giản tránh làm xé võ khuôn, dính khuôn và dạn nứt sản phẩm.

Sau cung đoạn trên để một thời gian vừa phải (thời gian phụ thuộc vào loại sản phẩm to hay nhỏ) sau đó tháo khuôn ra lấy sản phẩm ra. Điều đáng chú ý là nhiều sản phẩm sau khi đúc song lấy sản phẩm ra vẫn bị hở, bị dỗ nên tiếp theo người thợ cần khéo léo khắc phục sữa chữa và làm nguội, đánh bóng sản phẩm. Lúc này sản phẩm đã hoàn thành.

* Nghề ươm tơ dệt nhiễu làng Hồng Đô.

- Quá trình ra đời: Nghề ươm tơ dét nhiễu có từ xã xưa, dân làng chưa ai xác định được thời gian cụ thể ra đời từ bao giờ, chỉ biết đời này truyền cho đời khác và tôn tại đến ngày nay.

- Hiện trạng: Vẫn duy trì và phát triển trong các hộ dân, Nhà nước đẫ quy hoạch phát triển vùng làng nghề ươm tơ dệt nhiễu tại làng Hồng Đô xã Thiệu Đô.

- Số lượng nghệ nhân hiện có: 30 người, độ tuổi từ 45 tuổi đến 65 tuổi

Tiêu biểu một số người như:

+ Hoàng Trong Thủy, làng Hồng Đô xã Thiệu Đô

+ Lê Văn Nghiên, làng Hồng Đô xã Thiệu Đô

+ Lê Văn Thành, làng Hồng Đô xã Thiệu Đô

+ Lê Văn Hạnh, làng Hồng Đô xã Thiệu Đô

+ Hoàng Bình Quyền, làng Hồng Đô xã Thiệu Đô

+ Hoàng Viết Đức, làng Hồng Đô xã Thiệu Đô

+ Hoàng Thị Kén, làng Hồng Đô xã Thiệu Đô

- Số lượng người thực hành: 60 người

- Số học viên hiện nay: 20 người

- Phương thức truyền dạy: Truyền nghề và hướng dẫn trực tiếp để thực hành.

- Hình thức biểu hiện: Từ đôi bàn tay kheo léo, tài hoa của người làng Hồng Đô cùng với các công cụ sản xuất truyền thống, con người nơi đây đã biểu hiện quá trình sản xuất thực hành nghề ươm tơ dệt nhiễu một cách thành thục tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị về văn hóa, kinh tế.

- Quy trình thực hành gồm:

+ Sản xuất nguyên liệu: Khi con tằm nhả tơ làm kén, sau thời gian 3 ngày, con tằm sẽ hóa nhộng, con người tiến hành như sau:

Bỏ kén vào chậu nước sôi 700C

Đặt sợi tơ vào guồng tơ, bắt các sợi tơ chia đều và cho guồng chạy

Sau khi sợi được rút đầy guồng thì thay sang guồng khác,tháo ra và phơi lên sào.

- Kỹ thuật để dệt nên tấm nhiễu: Con người cần tập trung tốt những khâu sau đây.

Đem tơ cuộn sang ống nứa để chọn sạch các vết ú tơ (ống nứa dài 25 cm) để chuẩn bị mắc vào tấm cử (dài 80cm,rộng 15cm), khi mắc phải chia đều các sợi tơ vào các răng cử và đóng các trực để những sợi tơ vòng đi vòng lại 2 lần.

Tấm nhiễu dài 8m và bắt đầu đưa lên khung cửi.

- Những sợi tơ dệt ngang phải thực hiện tốt những bước sau:

Bước 1: Phải đem ra đường để mắc vào kim sa, đánh đi đánh lại các sợi tơ kỹ càng, các ống phải đánh trái đánh phải, khi dệt nhiễu thì phải nhớ sót trái và sót phải.

Bước 2: Dệt nhiễu chỉ cần 2 con thoi làm bằng sừng trâu. Khi dệt bôi mỡ lợn vào cho trơn.thết trái 2 lần,thết phải 2 lần , cứ thế cho đến khi hoàn thành tấm nhiễu.

Bước 3: Khi làm xong tấm nhiễu thì đem vào ngâm nước vôi khoảng 10 giờ và sau đó đem vồ đập cho mềm tấm nhiễu. sau đó bỏ vào nồi nước có vỏ da trâu vào,nấu đi nấu lại cho tấm nhiễu mềm mới thôi.

Bước 4: Tấm nhiễu đem nhuộm màu gụ tạo nên những vẻ đẹp óng ánh của tơ tằm. Khăn nhiễu chủ yếu được đem đi bán tại Nghệ An và sang nước bạn Lào và Campuchia.

* Nghề sản xuất bánh đa, làng Đắc Châu, xã Thiệu Châu..

- Quá trình ra đời: Làng Đắc Châu, xã Thiệu Châu được hình thành từ xa xưa, không rõ từ năm nào, chỉ biết rằng thuở khai thôn lập ấp một số hộ về đây hội tụ làm ăn sinh sống theo chòm xóm nên cái tên làng chòm được đặt tên cho làng, sau đó được đổi thành làng Đắc Châu. Làng Đắc Châu gồm 4 thôn: Châu Giang, Châu Long, Châu Sơn và Châu Ngọc. Cùng với sự hình thành của làng là sự ra đời và phát triển của nghề sản xuất bánh đa thủ công truyền thống, nghề làm bánh đa được truyền từ đời này qua đời khác và cho đến nay vẫn gìn giữ được những nét độc đáo của nghề, bánh đa nơi đây sản xuất theo những quy trình, công đoạn, kỹ thuật bí truyền tạo nên hương vị đặc biệt của chiếc bánh đa làng đắc châu riêng biệt mà chỉ có nơi đây mới có.

- Hiện trạng: Nghề bánh đa làng chòm (làng đắc châu) được nhân dân tổ chức sản xuất lúc nông nhàn. Tạo công ăn việc làm cho nguồn nhân lực dồi dào của nhân dân dân trong làng, mang về nguồn thu nhập đáng kể cho các hộ dân, do đó trong làng hộ giàu, hộ khá ngày một tăng, hộ nghèo giảm đáng kể, nhờ đó nghề sản xuất bánh nơi đây được coi như nghề chính, ngày càng phát triển mạnh. Sản phẩm làm ra được người tiêu dùng khắp nơi xa gần ưa chuộng nên bánh đa làng chòm làm ra không đủ bán. Cùng với sự phát triển của nghề bánh đa truyền thống của làng đắc châu, được sự quan tâm của các cấp các ngành, đặc biệt ngày 21 tháng 01 năm 2015 vùa qua, chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hoá đã ra Quyết định số 203/QĐ-UBND công nhận làng nghề bánh đa truyền thống làng Đắc Châu, xã Thiệu Châu, huyện Thiệu Hoá.

- Số nghệ nhân hiện có: 30 người, độ tuổi từ 45 tuổi đến 60 tuổi

Tiêu biểu như:

+ Lê Đăng Ánh, thôn Châu Giang xã Thiệu Châu

+ Lê Thị Hoa, thôn Châu Long xã Thiệu Châu

+ Nguyễn Thị Oanh, thôn Châu Giang xã Thiệu Châu

+ Lê Duy Thao, thôn Châu Long xã Thiệu Châu

+ Lê Đức Nhẫn, thôn Châu Sơn xã Thiệu Châu

+ Phùng Thị Yến, thôn Châu Sơn xã Thiệu Châu

+ Phùng Bá Hưng, thôn Châu Sơn xã Thiệu Châu

- Số lượng người thực hành: 55 người

- Số học viên hiện nay: 30

- Phương thức truyền dạy: Truyền nghề trong cộng đồng

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành: Sản xuất bánh đa nem, bánh đa vừng phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng của nhân dân trong và ngoài địa phương, Nghề làm bánh được gắn liền với tên làng: bánh đa làng chòm (làng chòm tức là làng Đắc Châu)

Chiếc bánh đa vừng được sản xuất theo quy trình thủ công với các bước như sau:

Bước 1: Chọn gạo làm bánh (gạo được chọn theo bí quyết của nghệ nhân), đem gạo ngâm trong nước sạch trong khoảng thời gian nhất định, sau đó được nghiền thành bột loãng, bột gạo đem trộn với bột lọc theo tỷ lệ tương thích,cho hỗn hợp bột làm bánh.

Bước 2: Bột làm bánh được đưa vào khuôn (khuôn là một tấm vải được căng trên miệng một cái nồi ,phía trong nồi chứa nước, và nồi được đun trên bếp than để tạo hơi hấp bánh). Dưới bàn tay của nghệ nhân lớp bột được dàn đều khắp mặt khuôn,, sau đó dải một lớp vừng lên trên mặt bánh và đậy nắp lò lại để cho hơi nước hấp chín bột bánh. Cả quá trình trên chỉ được thực hiện trong ít phút, tiếp theo bánh sẽ được lột ra khỏi mặt khuôn lò và được đặt trên phên trành, rồi đem phơi ngoài trời nắng cho đến khi bánh khô ròn thì thu về.

Sau khi thu bánh về các nghệ nhân đem bánh nướng trên chậu than hồng , kỹ thuật nướng bánh rất quan trọng, làm sao để bánh chín vàng mà không bị cháy, cũng không được sống , chiếc bánh đa vừng làng chòm sau khi nướng xong có vị ngọt, thơm đặc trưng, lại ròn tan , những ai đã từng thưởng thức thì không thể quên được hương vị thơm ngon của bánh đa làng chòm.Ngày nay các nghệ nhân còn sáng tạo trộn thêm tinh bột gấc vào bột bánh để tạo ra bánh đa gấc được người tiêu dùng ưa chuộng.

Bên cạnh nghề sản xuất bánh đa vừng, làng đắc châu, xã thiệu châu còn có các nghệ nhân sản xuất bánh đa nem, cũng như bánh đa vừng, bánh đa nem được sản xuất dựa trên chất liệu gạo,gạo được chọn kỹ theo loại đặc trưng. gạo được ngâm trong nước sạch và được nghiền thành bột gạo (giống như làm bánh đa vừng). Chỉ khác là bánh đa nem được nghệ nhân dàn mỏng đều như tờ giấy và không cho bất cứ thứ gì vào bánh ngoài gạo. Bánh được hấp chín và đem ra trời nắng phơi khô,sau đó thu lại và xếp bánh thành từng bó đem đi bán.

1.4. Tri thức dân gian: Tổng số lượng 9 di sản.

* Thuốc chữa trị rắn cắn.

- Quá trình ra đời: Các bài thuốc trị rắn cắn của các cá nhân thuộc loại hình tri thức dân gian trên địa bàn huyện Thiệu Hóa đã có từ thời xa xưa; ra đời từ khi nào cơ bản không ai còn nắm rõ, chỉ biết đời này truyền cho đời khác và được duy trì trong dòng tộc, họ hàng, gia đình; hiện nay những bài thuốc trị rắn cắn vẫn được các nghệ nhân, tri thức dân gian nắm giữ và chữa trị khi có người bị rắn cắn.

- Hiện trạng:

+ Số lượng nghệ nhân hiện có: 5 người, độ tuổi 49 tuổi đến 75 tuổi gồm: ông Tô Ngọc Tuấn; sinh năm 1949 thôn 4 làng Viên Nội xã Thiệu Viên; bà Nguyễn Thị Đàn; sinh năm 1940 thôn Nguyên Tân xã Thiệu Nguyên; ông Tô Vinh Bắc; sinh năm 1966 thôn 5 và thôn Lạc đô xã Thiệu Vận; ông Hoàng Đăng Đức thôn Sơn Quý xã Thiệu Châu; ông Lê Hữu Hán thôn Sơn Thịnh xã Thiệu Châu huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

- Số lượng người thực hành: 10 người

- Số lượng học viên hiện nay: 05

- Phương thức truyền dạy: Trao truyền cho con, cháu của nghệ nhân.

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành phương thuốc chữa rắn cắn cá nhân ông Tô Ngọc Tuấn: Phương thuốc này là sự kết hợp giữa các loại lá và cây thuốc sẵn có thong tự nhiên. Nguyên liệu của phương thuốc gồm một số vị: lá, rễ cây và một số vị ông xin giấu tên, ông chỉ hái vò đi rồi cho bệnh nhân uống hoăc rã cho bệnh nhân uồn và lấy bã thuốc đắp vào chỗ bị răn căn. Phương thuốc chữa răn căn này nhai uông lấy nước để ngăn nọc độc của rắn chạy vào tim làm rối loạn tuần hoàn của tim, mạch. gây ức chế hệ thần kinh dẫn đến suy hô hấp, dẫn đến tắt thở. Sau đó dung bả thuốc đắp vào vết răn căn từ từ hút giải phóng nọc độc ra ngoài cơ thể dành lại sự sống cho bênh nhân.

Người bệnh đến miêu tả việc bị rắn cắn, biểu hiện bệnh của mình, ông sẽ kiểm tra nhịp tim, mạnh và theo kinh nghiệm nghề của mình ông đoán bệnh và tính toán liều thuốc để điều trị cho bệnh nhân. Đa số bệnh nhân đến với ông đều được chữa khỏi và cứu sống trong gang tấc, Trừ một số bệnh nhân khi mang đến nhà ông đã quá trễ, không thể nuốt được nước thuốc của ông thì đành phải chấp nhận.

Hiện nay tuy ông chưa truyền dạy lại cho ai nhưng con cái của ông trong nhà cũng học hỏi được.

Đây là phương thuốc quý, không nhưng chữa trị cho những bệnh nhân nhẹ mới bị rắn cắn trong 1 vài giờ đồng hồ mà còn cứu sống được nhiều bệnh nhân quá năng trong gang tấc. Với phương thuốc của ông, ông đã chữa trị cho rất nhiều người trong làng, trong xã, các xã khác, các huyện và nhiều trường hợp ở các tỉnh khác cũng đã tìm đến với ông và đều được ông cứu sông.

Ông lưu ý: Bệnh nhân không may khi bị rắn cắn trước tiên phải garô ngay phía trên vị trí rắn căn để hạn chế nọc độc phát tán nhanh. Không được tùy tiện truyền các loại dịch vì chỉ làm cho nọc độc của răn phát tán nhanh hơn mà thôi.

- Hình thức thực hiện, quy trình thực hành thuốc chữa rắn cắn của cá nhân bà Nguyễn Thị Đàn: Những người không may bị rắn cắn mà không biết là loại rắn nào thi chỉ sau khoảng một vài tiếng đồng hồ sẽ thấy trong người kho chịu, nôn nao, tim đập mạch dần, huyết áp tăng cơ thể tím tái, khó thở nếu nặng có thể dẫn đến hôn mê và tử vong

Khi tiếp cận bệnh nhân bị rắn cắn trước tin bà kiểm tra tim mạch, huyết áp và vết thương để biết được nặng hay nhẹ, lượng độc nhiều hay ít. Sau đó tiến hành làm vệ sinh vết thương bị rắn cắn sạch sẽ từ đó mới quyết định cho bệnh nhân dùng loại thuốc nào liều lượng ra sao.

Thuốc chữa rắn cắn là loại thuốc dùng bằng các loại lá cây có sẵn trong tự nhiên, sau khi hái là thuốc về giữ sạch, cho bệnh nhân nhai thuốc và nuốt hết nước, còn bã thuốc lấy đắp len vết rắn cắn buộc lại, sau đó cho bệnh nhân nằm nghi ngơi khoảng 1 giờ đông hồ rồi kiểm tra lại tim mạch, huyết áp, vết thương. Nếu chưa hút hết được chất độc của rắn cắn ra ngoài hoàn toàn và tim mạch chưa ổn định thì tiếp tục thực hiện miếng thuốc thứ 2, quy trình cũng giống miếng thuốc thứ nhất rồi lại cho bệnh nhân nghỉ ngơi một giờ sau. Sau đó kiểm tra lại tim mạch thấy ổn định hoàn toàn và vết thương đã được hút hết chất độc ra ngoài thì bệnh nhân có thể ra về.

Quá trình thực hành bài thuốc chữa rắn cắn được ông cha truyền lại cho đến nay chưa có ca bệnh nào phải chuyển tuyến các bệnh nhân đều được chữa khỏi tại nhà bà.

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành thuốc chữa rắn cắn của cá nhân ông Tô Vinh Bắc: Dùng 5 loại lá sẵn có mà rễ tìm trong nhân dân để chữa bệnh

Khi bị rắn cắn trước hết phải dùng dây nịt hoặc dây gì cũng được để buộc lại chỗ bị rắn cắn để không cho nọc độc của rắn phát tán vào cơ thể sau đó đi lấy thuốc.

Khi đi hái thuốc tránh tránh được gặp người (nếu gặp người thuốc sẽ không có tác dụng) và cần lấy 5 loại lá để kết kết hợp thành một bài thuốc. Nếu là con trai thì hái tay trái, con gái thì hái tay phải.

Cách chữa:

Dùng 5 loại lá hát về dã lẫn với nhau và lấy nước cho người bệnh uống, đồng thời lấy răng rắn ra và đắp bã lá thuốc vào chỗ bị rắn cắn buộc lại.

Sau từ 10 đến 15 phút người bệnh sẽ dần tỉnh lại và khỏi bệnh.

* Thuốc Nam - Bắc gia truyền.

- Quá trình ra đời: Nghề thuốc Nam - Bắc gia truyền ra đời từ khi nào thì rất nhiều người, nghệ nhân không ai còn biết; chỉ biết nghề thuốc được truyền từ đời này sang đời khác, thế hệ này sang thế hệ khác trong một dòng tộc, họ hàng, gia đình. Theo như một số thông tin của các nghệ nhân hiên còn kể lại thì nghề thuốc Nam - Bắc gia truyền có từ rất xa xưa. Vi dụ như: nghề thuốc Bắc gia truyền của cụ Cửu Nghiên được truyền qua 4 đời: Từ cố cai tên là Phùng Bá Chỉnh (hành nghề từ năm 1920 đến năm 1935), truyền lại cho đời thứ 2 là cụ Phùng Bá Trác (hành nghề từ năm 1935 đên năm 1969), đời thứ 3 kế tục là ông Phùng Bá Viên (kế tục hành nghề từ năm 1969 đến năm 2002). Từ năm 2002 đến nay nghề được hậu duệ đời thứ 4 là lương y Phùng Bá Thứ kế tục và phát huy có hiệu quả; Thuốc Bắc gia truyền của gia đình ông Đỗ Đức Khanh là nghề thuốc gia truyền từ lâu đời, từ thời ông cố truyền lại cho con cháu trong gia đình cho đến ngày nay, người được truyền lại phải là người có đức, có tài và có tâm với nghề, nhiệt tình với người bệnh và không phân biệt con trai hay con gái…

- Hiện trạng: Còn lưu giữ và phát huy tốt.

+ Số lượng nghệ nhân hiện có: 6 người; độ tuổi từ 45 tuổi đến 84 tuổi gồm: ông Phùng Bá Thứ, sinh năm 1970 thôn Châu Giang, xã Thiệu Châu; ông Đỗ Đức Khanh, sinh năm 1932 thôn Quý Hai, xã Thiệu Chính; ông Lê Hữu Bình, sinh năm 1944 thôn 7 xã Thiệu Lý; ông Lê Đình Dung, sinh năm 1941 thôn 9, xã Thiệu Lý; ông Đỗ Khắc Thuần, sinh năm 1931, thôn 2 xã Thiệu Tân; bà Đỗ Thị Cát, sinh năm 1963, thôn 1 xã Thiệu Vận.

+ Số lượng người thực hành: 15 người

+ Số lượng học viên hiện nay: 7

- Phương thức truyền dạy: Truyền nghề, cha truyền con nối

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành các bài thuốc bắc của lương y Phùng Bá Thứ: Khi bệnh nhân được chữa trị, việc đầu tiên là lương y tiếp xúc với bệnh nhân, hỏi bệnh, bắt mạch, xem sắc thái của bệnh nhân để chuẩn đoán bệnh theo kinh nghiệm gia truyền

Bước tiếp theo là kê đơn theo bệnh, và bốc thuốc hướng dẫn cho bệnh nhân sử dụng.

Trong quá trình điều trị, lương y theo dõi tình trạng bệnh của bệnh nhân để điều chỉnh cho phù hợp theo từng giai đoạn.

- Hình thức biểu hiện, Quy trình thực hành phương thuốc gia truyền của cá nhân ông Đỗ Đức Khanh: Chủ yếu là bắt mạch, kê đơn và bốc thuốc, giúp đỡ người bệnh ở khắp địa phương, đều tìm đến gia đình để chữa bệnh.

Quy trình thực hành: Gồm 6 bước:

Bước 1. Khám lâm sàng:

Sau khi tiếp cận người bệnh ông thuwch hiện theo quy trình khám bệnh, hỏi thăm về tình trạng bệnh, tìm hiểu nguyên nhân, triệu chứng, thời gian bị bệnh, kết hợp với việc quan sát các bộ phận như mắt, da, lưỡi, ……

Bước 2. Chuẩn mạch.

- Kế tiếp là chuẩn mạch, dựa trên tình trạng mạch thể mà có thể chuẩn đoán được bệnh mà bệnh nhân mắc phải.

Bước 3. Chuẩn đoán bệnh và kê đơn.

- Dựa trên những thông tin người bệnh cung cấp, kết hợp với kinh nghiệm, quan sát biểu hiện bệnh và chuấn đoán lâm sàng, ông tiến hành lên phác đồ và kê đơn thuốc cho bệnh nhân.

Bước 4. Chuẩn bị thuốc.

Thuốc mà ông sử dụng để trị bệnh chủ yếu là các các vị thuốc bắc cổ truyền từ ngàn đờn xưa truyền lại hàng trăm vị thuốc khác nhau như:

+ Kỷ tử; Đươc quy; Ý dĩ; Thảo quả; Đại hồi; xuyên khung; Bách phấn đằng;

Hoài sen; Đỗ trọng; Hồng hoa; Tam lăng; Nga truật; liên kiều; Quế chi; Phòng phong; cát cánh; Huyền liên; Mạch môn; Thiên môn; Xích thước; Thục địa; Cam toại; bạch truột; Độc hoạt; Cam toại; Huỳnh cầm; Trạt tả; Liên nhục; Trần bí; Cam thảo; Thảo quyết minh; Đinh hương; Bắc mộc hương; Hà thổ ô; Táo tầu; Nhục thụy dung; Ba kích; nhân sâm; Ngũ gia bì; Nhân trần; kim ngân hoa; Kim tiền thảo; Diệp hạ châu; Bạch hoa xà; Linh chi; Hoàng cầm; cát cánh…

Bước 5. Cắt thuốc.

+ Các loại thuốc bắc còn đang ở dang thô như cành cây, hoa, lá, vỏ cây thuốc, hay các dạng củ. cần phải được thái nhỏ, sao tẩm qua nhiều công đoạn để loại bỏ đi những độc tính không cần thiết, nhưng phải giữ lại được những dược tính quý của nguyên liệu.

+ Căn cứ vào đơn thuốc, kết hợp hài hòa các vị thuốc với nhau, để ra thang thuốc có thể điều trị tốt nhất cho người bệnh.

6. Sắc thuốc uốc, theo dõi và điều trị.

Bỏ thang thuốc vào nồi (Tốt nhất là siêu đất) Đổ 3 bát nước lã, sắc nhỏ lửa để không bị mất vị thuốc, thuốc ngấm dần, còn lại 1 bát thì cho ra bát để uống, ngày 2 bát (Sáng – Chiều) Nên uống thuốc khi còn ấm, để thuốc phát huy hết tác dụng. kết hợp với xoa bóp, bấm huyệt và châm cứu,

Lưu ý: Không sắc thuốc bằng củi đu, củi dâu, vì 2 loại củi này sẽ làm mất đi dược tính của thuốc.

Tùy thuộc vào tình trạng bệnh và cơ địa của người bệnh mà thời gian điều trị bệnh sẽ khác nhau. Trung bình mổi bệnh nhân điều trị khoản từ 21 đến 42 ngày. Trong quá trình điều trị bệnh, người bệnh tránh làm việc quá sức, hay tiếp xúc với môi trường độc hại, phải được nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng và tẩm bổ để đảm bảo sức khỏe và nhanh bình phục.

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành của cá nhân ông Lê Hữu Bình. Dùng các loại vỏ cây sẵn có mà rễ lấy trong cộng đồng dân cư để chữa bệnh, tiểu biểu như bó gãy xương, bong gân

Cách chữa: Lấy bã thuốc đắp vào chỗ xương bị gẫy và lấy lá chuối đùm vào chỗ gẫy buộc lại. Sau 5 đến 7 ngày lại thay bó khác khoảng 3 đến bốn lần là khỏi sau đó được uống Ba ấm thuốc gia truyền để hoàn thiện bài chữa, sau này động trời là không bị tê buốt chổ vết thương

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành của cá nhân ông Lê Đình Dung: Dùng thân cây, rễ cây, quả của cây để làm thuốc và bốc thuốc, sắc thuốc theo thang để uống. Trước hết mua nguyên liệu thuốc về, rữa sạch, phơi khô, sao, tẩm. Sau đó say nhỏ thành bột và viên thành viên nhỏ, có loại thì thái nhỏ tiếp tục phơi khô bỏ vào hộp để bảo quản nơi khô thoáng và để vào từng ngăn theo sự sắp đặt của gia đình.

Khi người bệnh đến bắt mạch để chuẩn đoán bệnh hoặc theo lời kể của người bệnh, sau đó kê đơn và bốc thuốc theo thang, mỗi bệnh theo từng loại đơn thuốc, thuốc uống phải theo đơn và sắc theo đơn. Khi sắc thuốc phải sắc theo thang bỏ 3 bát nước nấu lấy 1 bát nước để uống và ít nhất mỗi người bệnh phải uống 3 thang thuốc mới khỏi bệnh.

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành của bà Đỗ Thị Cát: Dùng thân cây, rễ cây, quả của cây để làm thuốc và bốc thuốc, sắc thuốc theo thang để uống.

Trước hết mua nguyên liệu thuốc về, rữa sạch, phơi khô, sao, tẩm. Sau đó say nhỏ thành bột và viên thành viên nhỏ, có loại thì thái nhỏ tiếp tục phơi khô bỏ vào hộp để bảo quản nơi khô thoáng và để vào từng ngăn theo sự sắp đặt của gia đình.

Khi người bệnh đến bắt mạch để chuẩn đoán bệnh hoặc theo lời kể của người bệnh, sau đó kê đơn và bốc thuốc theo thang, mỗi bệnh theo từng loại đơn thuốc, thuốc uống phải theo đơn và sắc theo đơn. Khi sắc thuốc phải sắc theo thang bỏ 3 bát nước nấu lấy 1 bát nước để uống và ít nhất mỗi người bệnh phải uống 3 thang thuốc mới khỏi bệnh.

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành ông Đỗ Khắc Thuần. Với cái tâm của người chữa bệnh, cộng với lòng yêu nghề ông Thuần đã không quản mệt mỏi ngày đêm nghiên cứu dựa trên nghề thuốc gia truyền chữa bệnh gãy trẹo xương khớp của cha ông truyền lại, ông còn sáng tạo ra cho riêng mình một nghề cũng liên quan đến xương khớp loại bệnh rất phổ biến ngày nay đó là: vôi hóa, gai hóa, thoái hóa xương khớp. Qua thời gian, nghề thuốc của ông ngày một phát triển, số lượng bệnh nhân đến điều trị rất đông, người khỏi giới thiệu cho người bệnh, cứ thế hàng năm có đến trên dưới 100 lượt bệnh nhân tới xin được ông điều trị.

- Quy trình thực hiện: Gồm: 5 bước cụ thể:

Bước 1: Khám lâm sàng.

Sau khi tiếp cận người bệnh, bước đầu tiên ông thực hiện trong quy trình thực hành là khám lâm sàng, bằng việc hỏi han nguyên nhân, lý do và thời gian bị bệnh; kết hợp với nắn trực tiếp bằng tay.Từ đó ông chẩn đoán bệnh / kết luận bệnh.

Bước 2: Sơ cứu

Kết luận bệnh nếu gãy xương ông sẽ sơ cứu bằng việc xoa thuốc nước vào chỗ đau, dùng nẹp buộc để cố định đoạn xương bị gãy.

Bước 3: Chuẩn bị nguyên liệu.

Nguyên liệu để điều trị cho một bệnh nhân gồm:

- Thuốc bột: Loại thuốc bột này được ông chuẩn bị sẵn. Vì đây là loại thuốc bột ngâm với rượu dùng để xoa, bóp nên để tạo ra được loại thuốc này phải tiến hành các quy trình sau:

Thành phần: 08 vị thuốc bắc.

Chọn thuốc: Yêu cầu phải lựa chọn thật tỉ mỉ, các vị thuốc này phải tươi, thơm tuyệt đối không được mốc, phải đủ được đúng 08 vị.

Giả thuốc: Giả thủ công bằng cối, giả thật nhỏ, đều, mịn như bột cho trẻ 6 tháng ăn dặm.

Bảo quản: Sau khi giả nhỏ được phơi thêm 03 ngày nắng to, rồi bỏ vào hộp dùng dần.

- Rượu gạo trắng: Rượu dùng ngâm thuốc bắc bột, yều cầu chọn loại rượu gạo nguyên chất, lấy lần đầu tiên của cả nồi rượu.

- Dây buộc: Dùng vải màn mềm.

Được cắt thành từng đoạn dài khoảng 80-100cm, Rộng 20 cm.

- Lá chuối: Dùng đựng thuốc lá sau khi giả nhỏ.

Loại lá này được nghệ nhân sử dụng như một chiếc áo, phần ngọn lá là phần ông sử dụng nhiều nhất.

Có thể để tươi hoặc có thể hơ qua lửa trước khi đem dùng.

Bước 4: Hái thuốc và giả thuốc lá.

- Hái thuốc lá.

Tùy theo loại bệnh và mức độ bệnh mà quy định các loại lá thuốc khác nhau. Tuy nhiên, một miếng thuốc đủ để đắp cho bệnh nhân yêu cầu khoảng 2-3 gam lá.

Lá thuốc xanh tươi, không bị sâu ăn, phẳng lá.

- Giả thuốc lá:

Giả thủ công bằng cối. Yêu cầu giả nhỏ lá là dùng được.

Bước 5: Đắp/ bó lá và điều trị.

Lá thuốc sau khi giả xong được tản đều trên lá chuối, phun một ngậm rượu và rắc thuốc bắc bột lên trên miếng thuốc lá rồi đắp/bó trực tiếp vào phần bị đau của bệnh nhân.

Mỗi một ngày được thay một lần thuốc. Trước khi đắp miếng thuốc mới ông sẽ xoa thuốc bột ngâm rượu khoảng 15 phút.

Thời gian điều trị: Tùy thuộc vào mức độ bệnh mà có thời gian điều trị khác nhau. Tuy nhiên, thời gian điều trị cho một bệnh nhân trung bình từ 15 đến 40 ngày.

Yêu cầu trong quá trình điều trị và sau khi khỏi thời gian đầu người bệnh không được làm việc nặng. Và việc tiếp tục xoa, bóp thuốc bột ngâm rượu là không thể thiếu cho đến khi người bệnh khỏi hoàn toàn. Bởi vì theo quy định của ông, ông chỉ điều trị bằng thuốc lá đạt 80%, 20% còn lại phụ thuộc vào thuốc bắc bột ngâm rượu.

* Thuốc trị mụn cơm, mụn cóc.

- Quá trình ra đời: Trong thời gian tham gia bộ đội và những kiến thức mày mò tự học tập Ông Lê Duy vinh, thôn Sơn Thịnh đã có cho mình bài thuốc chữa mụn cơm, mụn cóc thật kỳ diệu. Cho đến nay đã chữa trị cho nhiều người trong và ngoài địa phương rất hiệu quả .

- Hiện trạng:

+ Số lượng nghệ nhân hiện có: 01 người, là ông Lê Duy Vinh, sinh năm 1946, thôn Sơn Thịnh xã Thiệu Châu, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

+ Số lượng người thực hành: 1 người

+ Số lượng học viên hiện nay: 2 người

- Phương thức truyền dạy: Trao truyền cho con cháu của nghệ nhân.

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành: Khi người bệnh bị mụn cơm, mụn cóc trên cơ thể, Ông Vinh trực tiếp tiếp xúc với người bệnh, Người bị mụn cơm, mụn cóc chỉ cần cắt đưa cho ông Vinh đầu móng tay (nam giới thì 7 đầu móng tay, Nữ giới thì 9 đầu móng tay).

Sau khi lấy móng tay của người bệnh, ông vinh chế tác ra một loại thuốc dấu dạng bột khô, người bệnh nhận thuốc về và làm theo hướng dẫn truyền miệng: Người bệnh khi đang ăn cơm thì tự động đứng dậy nhưng không được bất cứ ai hỏi han gì,người bệnh mang theo bát cơm và đôi đủa đang ăn, cùng gói thuốc , chọn một địa thế vắng vẻ , không ai nhìn thấy , bước tiếp theo là dùng một chiếc đủa cắm xuống đất tạo thành một lỗ nhỏ trên mặt đất, sau đó nhặt hạt cơm trên bát bỏ vào lỗ vừa tạo ra (nam thì nhặt 7 hạt cơ, nữ thì nhặt 9 hạt cơm), tiếp theo bỏ toàn bộ gói thuốc vào lỗ trên, và lại nhặt hạt cơm bỏ vào lỗ theo công thức trên (nam 7 hạt cơm, nữ 9 hạt cơm). Bước cuối cùng dùng chiếc đũa ban đầu cắm vào lỗ trên, cắm cho đũa cặm luốt đất rồi trở về tiếp tục ăn cơm bình thường. Trong quá trình thực hành không được để cho bất cứ ai nhìn thấy .

Sau thời gian thực hành chừng 10 ngày người bệnh sẽ tự khỏi không còn mụn cơm hay mụn cóc trên người mà hoàn toàn không để lại vết sẹo nào.

* Thuốc trị lang ben.

- Quá trình ra đời: Học được bài thuốc trong quá trình tham gia quân ngũ, cùng với tự nghiên cứu, đến nay đã chữa khỏi cho nhiều người bị bệnh lang ben

- Hiện trạng:

+ Số lượng nghệ nhân hiện có: 01 người, là ông Nguyễn Văn Nam, sinh năm 1972, thôn Châu Giang, xã Thiệu Châu, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

+ Số lượng người thực hành: 1 người

+ Số lượng học viên hiện nay: Không

- Phương thức truyền dạy: Không

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành: Chế xuất được bài thuốc chữa bệnh lang ben dưới dạng bọt nước, người bệnh chỉ việc bôi nhiều lần trên phần da bị bệnh nhiều lần thì khỏi, cho đến nay bài thuốc đang phát huy có hiệu quả chữa khỏi cho nhiều người bệnh.

* Thuốc trị bệnh kiết lỵ .

- Quá trình ra đời: Bà Lê Thị Khơn, thôn Sơn Quý được ông Lê Văn Quý là người chồng quá cố truyền cho bài thuốc chữa bệnh kiết lỵ bằng các loại lá cây trong vườn.

Hiện trạng: Đến nay vẫn đang được sử dụng có hiệu quả để chữa bệnh cho người bị bệnh kiết lỵ

+ Số lượng nghệ nhân hiện có: 01 người, là bà Lê Thị Khơn, sinh năm 1935, thôn Sơn Quý, xã Thiệu Châu, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

+ Số lượng người thực hành: 1 người

+ Số lượng học viên hiện nay: 1

- Phương thức truyền dạy: Truyền nghề

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành: Bài thuốc được điều trị cho nhiều người bị bệnh kiết lỵ. Người bị bệnh được uống một loại thuốc triết xuất từ các loại lá cây khác nhau, ngày uống 2 đến 3 lần, dùng trong vong 2 ngày là khỏi. Đến nay bà Lê Thị Khơn đang truyền dạy cho con trai là anh Lê Văn Nghị để được lưu truyền về sau giúp đời cứu người.

* Khoán quai bị.

- Quá trình ra đời: Có từ thời xa xưa không xác định được thời gian.

Hiện trạng: Đến nay vẫn đang được sử dụng có hiệu quả

+ Số lượng nghệ nhân hiện có: 01 người, là ông Nguyễn Quang Thủy, sinh năm1965, thôn Lam Vỹ, xã Thiệu Vũ, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

+ Số lượng người thực hành: 2 người

+ Số lượng học viên hiện nay: 3

- Phương thức truyền dạy: Tiếp thu thực hành trực tiếp

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành: Người khoán quai bị dùng 3 nén hương xạ đen, đốt lên rồi hơ quanh chỗ người bị quai bị dồi đọc

Xứ thanh xứ nghệ xứ đoài

Đồng ngãi quy nhơn ai lỡ độ đường

Trên cho phép tắc, đói ăn rách mặc, ai nấy cũng thương

Thắp một nén hương, đồng cung bái thỉnh

Thằng nào làm bậy thì phải thay ra

Vào ngày mùng 3 ra ngày mùng 4 ở rốn mùng 5

Rắc ra ngoài cổng đánh năm roi đoàn

“ Cấp cấp như luật lệnh”

Nếu là trai đọc 7 lần, con gái đọc 9 lần và cứ vậy làm trong vòng 3 ngày sẽ khỏi

* Cao dán bỏng gia truyền.

- Quá trình ra đời: ra đời từ xa xưa, các thế hệ ông cha truyền lại, chưa xác định được thời gian cụ thể.

- Hiện Trạng:

+ Số lượng nghệ nhân hiện có: 01 người, ông Lê Văn Xồ, sinh năm 1939, thôn 5 xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa,

+ Số lượng người thực hành: 02 người

+ Số học viên hiên có: Không

+ Phương thức truyền dạy: Trao truyền cho con trai của nghệ nhân

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành: Phương thuốc này là sự kết hợp giữa 5 loại thuốc Bắc. Được nấu lên và cô lại thành cao (dạng thuốc mỡ, như mỡ xe). Khi nấu có thể nấu bằng củi hoặc bằng than, không nên nấu lửa to, nấu trong thời gian khoảng 3 – 4 tiếng.

Thuốc được dùng phết vào giấy và dán vào vết thương. Khi dán vào cảm thấy mát, dễ chịu, các chất mủ của vết thương được hút ra theo cao vào miếng giấy dán. Thuốc chữa được các bệnh như: Chữa bỏng; quai bị, nấm, tổ đỉa và các loại nhiễm trùng ngoài da …(loại trừ bệnh nhiễm trùng máu.)

Khi người bệnh đến, ông nhìn bệnh chuẩn đoán và bán thuốc. Tùy vào bệnh mà ông có thể bán nhiều hay ít, thông thường chỉ điều trị 7 – 10 ngày là khỏi. Những người bị nặng thì có thể lâu hơn.

Trong gia đình có 2 ông bà sinh sống, bà vợ ông cũng là người có thể làm được. Hiện nay ông chưa truyền dạy lại cho ai, song được biết ông sẽ truyền nghề lại cho con trai đầu. Đây là phương thuốc quý, chữa trị cho những bệnh nhân mắc bệnh mà dùng thuốc Tây không có khả năng chữa trị khỏi hẳn. Với phương thuốc của ông, ông đã chữa trị cho rất nhiều người trong xã, trong huyện.

* Thuốc chữa hóc xương.

- Quá trình ra đời: Có từ thời xa xưa không xác định được thời gian.

- Hiện Trạng:

+ Số lượng nghệ nhân hiện có: 01 người, ông Tô Vinh Tụ, sinh năm 1948, thôn 5 xã Thiệu Vận, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa,

+ Số lượng người thực hành: 01 người

+ Số học viên hiên có: 02

+ Phương thức truyền dạy: Trao truyền cho con trai của nghệ nhân

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành: Dùng các loại vỏ cây sẵn có mà rễ lấy trong cộng đồng dân cư để chữa bệnh.

Người chữa hóc xương lấy nứa hoặc tre, trẻ ra lấy cật cạo lấy vỏ cây để làm thuốc (không được dùng kim loại để cạo vỏ cây vì dùng kim loại sẽ không có tác dụng) sau đó rửa sạch dã lấy nước.

Cách chữa: Lấy bã thuốc đắp vào chỗ xương bị vướng và lấy khăn buộc lại. Sau đó cho nước thuốc vào miệng khi nào bảo uống thì người bệnh uống, đồng thời người chữa ấn mạnh vào chỗ xương bị vướng và xương sẽ chồi lên đường miệng.

Sau khi xương ra thì phải uống thuốc kháng sinh từ 3- 4 ngày để cho vết thương không bị nhiễm trùng và sau một tuần sẽ khỏi bệnh.

* Trao vía:

- Quá trình ra đời: Có từ thời xa xưa không xác định được thời gian.

- Hiện Trạng:

+ Số lượng nghệ nhân hiện có: 02 người, bà Nguyễn Thị Mùi sinh năm 1931 thôn 5 xã Thiệu Vận; bà Hoàng Thị Nam, sinh năm 1964, thôn Yên Lộ xã Thiệu Vũ

+ Số lượng người thực hành: 3 người

+ Số học viên hiên có: 2 người

+ Phương thức truyền dạy: Trao truyền cho con trai của nghệ nhân

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành. Người Trao vía yêu cầu gia đình nhà có người bị mất vía chuẩn bị một số đồ lễ sau:

- Hương 3 nén (hoặc có người dùng bằng giổ trao)

- 10 miềng cau và 3 lá trầu

- 7 quả trứng ( nếu là trai) 9 quả nếu là gái

- 7 con cá khô ( nếu là trai) 9 con nếu là gái

01 cái áo của người bị mất vía. Tất cả đều được đặt vào một chiếc mâm. Cái mâm này được đặt ở giữa sân (hoặc được đặt ở gian chính giữa nhà)

Lúc này người trao vìa bắt đầu đốt 3 thẻ hương và bắt đầu đọc

Hố vía 3 hồn 7 vía (nếu là trai) 3 hồn 9 vía nếu là nữ

Vía lành thì ở vía dữ thì đi ( rồi lại kêu 3 hồn 7 vía 3 hồn 9 vía)

Trên rừng dưới biển, ngọn cỏ ngọn cây

Bờ sông, bờ bến, đường xa bái ngái ở đâu thì về với Mẹ với Cha

Sau đó người trao vía hỏi vọng ra (nó đã về chưa) Rồi người nhà nói vọng ra (cháu đã về rồi) và cứ vậy làm từ 7 đến chín lần là khỏi bệnh

1.5. Tập quán xã hội. Số lượng 2 di sản.

* Đánh vía, chuộc vía.

- Quá trình ra đời. Ra đời từ xa xưa, không xác định được thời gian.

- Hiện trạng:

+ Số lượng nghệ nhân hiện có: Gồm ông Đỗ Như Thạnh, sinh năm 1935, bà Đỗ Thị Định; sinh năm 1945 thôn 2, xã Thiệu Tân, huyện Thiệu Hóa.

+ Số lượng người thực hành: 02 người

+ Số học viên hiện nay: Không

+ Phương thức truyền dạy: Tập tục.

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành: Theo quan niệm dân gian của người dân xã Thiệu Tân, con người sinh ra có thể xác và hồn vía, đàn ông 3 hồn 7 vía; đàn bà 3 hồn 9 vía. Có nhiều cách lý giải về sự chênh lệch vía giữa đàn ông và đàn bà. Có người cho rằng đàn ông và đàn bà đều có chín cửa (9 khiếu) để giao hòa với vũ trụ. Tuy nhiên, khi mất đi cả chín khiếu đều đóng lại để hồn thoát ra từ trên đỉnh đầu lên trời, tức là giúp cho hồn không bị siêu tán để sau này có thể đầu thai trở lại làm người. Đàn ông được coi là dương có tính chất thăng (lên cao) nhiều hơn nên phần hồn có lẽ tập trung ở phía trên nhiều hơn so với đàn bà là âm có tính chất giáng (trầm lắng) nhiều hơn.

Những người vía nặng là nghững người mà vía của người đó có nhiều khí xấu, năng lượng xấu. Do các trẻ nhỏ có sức đề kháng còn non nớt, lớp hào quang cơ thể của bé còn mỏng và loãng nên dễ bị xâm nhập. Khi những người vía nặng bế đứa bé năng lượng xấu từ người đó truyền sang bé khiến bé khó chịu, bất an, khóc lay lắt suốt đêm không chịu ngủ.

Chính từ quan niệm đó, trong dân gian lưu truyền rất nhiều câu chuyện về vía và chuyện vía lành vía dữ. Trong mỗi gia đình, trẻ mới sinh ra thường được bố mẹ ông bà rất chú ý kiêng kỵ. Đặc biệt là ái ngại những người vía dữ, khi có người lạ đến chơi mà trẻ khóc thì gia đình thường phải đốt vía, trường hợp nặng phải làm lễ cúng vía.

Có khi vì quá sợ hãi bất thần như bị ngã, bị kích động đứa trẻ mất vía hóa ra ngớ ngẩn, lúc ngủ hay giật mình. Muốn đứa trẻ trở lại bình thường, các gia đình phải nhờ thầy cúng làm lễ chuộc vía.

Có những đứa trẻ đang chơi ngoan nhưng gặp người lạ hoặc người có vía dữ thì sẽ quấy khóc suốt đêm và thậm chí là nhiều ngày sau đó ( trong dân gian còn gọi là khóc dạ đề), và theo quan niệm đứa trẻ chỉ hết khóc khi đuổi được vía dữ đi.

Việc cúng vía và đốt vía được cộng đồng người Thiệu Tân thực hành về cơ bản các quy trình là giống nhau, gồm một số bước cụ thể sau:

* Đốt vía:

- Xác định nguyên nhân, phân loại đối tượng (vía đàn ông hay đàn bà).

- Lựa chọn phương tiện đốt: cây gai hoặc dao hoặc đốt đóm lửa...

- Đọc bài đốt vía.

* Cúng vía:

- Xác định mức độ mất vía.

- Lựa chọn vật dụng cúng: áo hoặc quần hoặc mũ.... mà đứa trẻ thường xuyên sử dụng.

- Đọc bài cúng vía.

- Cho đứa trẻ mặc áo/quần/mũ đã cúng vía trong 1 ngày.

Sau khi mượn thầy cúng vía; đốt vía như một phép màu nhiệm đứa trẻ sẽ hết quấy khóc, ăn nhiều, ngủ ngoan. Chính vì lẽ đó, cho nên việc cúng vía hoặc đốt vía được mọi người dân rất coi trọng, nhất là những gia đình đang nuôi trẻ nhỏ.

* Tục kêu vía, cúng cơm mụ.

- Qúa trình ra đời: Quá trình ra đời của tập tục này có từ lâu đời.

- Hiện trạng:

+ Tập tục này do cá nhân bà Tô Thị Thìn, sinh năm 1923, thôn 5 xã Thiệu Viên, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

+ Số lượng người thực hành: 01 người

+ Số học viên hiện nay: Không

+ Phương thức truyền dạy: Tập tục.

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành: Nghi thức kêu vía, cúng cơm mụ phần lễ được sửa soạn hết sức quan trọng và cẩn thận bao gồm: nước, rượu, gạo muối, tiền vàng mã, trầu cau, 12 con cá mắm, 1 quả trứng luộc chia làm 12 miếng, 12 miếng trầu, 12 miếng cau, 12 chén, bát, đũa, kẹo bánh và hoa quả. Bà khấn lạy các bà mụ phù hộ cho đứa trẻ được khỏe mạnh, ngoan ngoãn, hay ăn chóng lớn, ngoan hiền.

Khi có trẻ nhà nào quấy khóc không rõ nguyên nhân, bỏ ăn, bỏ bú, sợ hãi, yếu ớt, hay giật mình. Bà đến dung một con dao và một roi dâu, khấn xin các “vía nặng”, “vía dữ” theo bà đi ra ngoài khỏi người cháu bé, để cháu bé được trở lại bình thường, nhanh nhẹn khỏe mạnh như trước. rất nhiều trường hợp đã được bà kêu vía, cúng cơm mụ và được khỏe mạnh trở lại bình thường, ăn ngủ tốt.

Hiện nay chưa có ai học lại tục kêu vía cúng cơm mụ từ bà, kể cả con cháu trong nhà.

Đây là tập tục có từ rất lâu đời, mang đậm nét văn hóa của người Việt nam. Thể hiện mong muốn tốt đẹp của các bậc cha mẹ đối với con cái mình. Qua việc kêu vía, cúng cơm mụ, trẻ đã khỏe mạnh bình thường trở lại, đem lại một giá trị tinh thần to lớn cho các gia đình. Có giá trị to lớn cả về mặt xã hội và tâm linh.

2. Di sản văn hóa phi vật thể có nguy cơ mai một: Tổng số 3 di sản

2.1. Nghềthủcông truyền thống: Số lượng 3 di sản

* Nghề mây tre đan truyền thống.

- Quá trình ra đời: Làng Thọ Sơn, xã Thiệu Châu gồm 4 thôn; Sơn Phú, Sơn Quý, Sơn Thịnh và Sơn Lộc, từ thuở khai thôn lập ấp, các hộ dân hội tụ về đây sinh sống dựa theo chân núi Go (tên chữ xưa kia núi Go gọi là núi Phượng Lĩnh), với nghề chính là sản xuất nông nghiệp thuần tuý, bên cạnh đó nhân dân làng Thọ Sơn dựa vào địa hình vườn tược rộng dãi, có nhiều tre, mây (tre, mây nơi đây được trồng trên chân đất núi, nên chất lượng rất tốt) đó là điều kiện thuận lợi nhất để phát triển nghề mây tre đan, các sản phẩm chủ yếu là thúng, mũng, dần, sàng, nia, nống …

Làng Thành Thiện vào năm 1952 có một số hộ dân ở nơi khác di cư đến cùng chung sống truyền dạy nghề đan lát cho người dân nơi đây; thủa đầu là đan gầu dai dùng để tát nước tưới cho đồng ruộng, sau đó là rá giổ, nong, nia để dùng và bán cho người dân trung khu vực.

- Hiện trạng: Những năm 1990 trở về trước, đây là nghề thịnh hành của người dân làng Thọ Sơn và làng Thành Thiện. Song đến nay, lao động chính trong của các làng phần lớn đi làm ăn xa, những người thiết tha với nghề cũng không còn nhiều, do đó nghề mây tre đan ở làng Thọ Sơn xã Thiệu Châu và làng Thành Thiện xã Thiệu Thành đang có nguy cơ bị mai một; hiện nay số nghệ nhân đan lát còn rất ít.

- Số nghệ nhân hiện có: 15 người, độ tuổi 60 tuổi đến 70 tuổi

Tiêu biểu một số người như:

+ Lê Xuân Tại, thôn Sơn Phú xã Thiệu Châu

+ Hê Hữu Sở, thôn Sơn Lộc xã Thiệu Châu

+ Lê Duy Đới, thôn Sơn Thịnh xã Thiệu Châu

+ Nguyễn Văn Vậy, thôn Thành Thượng xã Thiệu Thành

+ Hoàng Văn Bòng, thôn Thành Thượng xã Thiệu Thành

+ Hoàng Văn Viễn, thôn Thành Thượng xã Thiệu Thành

- Số lượng người thực hành: 19 người

- Số học viên hiện nay: Không

- Phương thức truyền dạy: Không

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành nghề mây tre đan làng Thọ Sơn: Các sản phẩm làm từ tre, mây, như thúng, mũng, dần, sàng, rỗ, rá, nia, mẹt, nống …được các nghệ nhân nơi đây làm theo kỹ thuật truyền nghề, đẹp mắt, bền, rất tiện dụng cho cuộc sống sinh hoạt, lao động của mỗi gia đình.

Từ cây tre được chặt vào, chẻ thành từng thanh, lọc hết phần bụng, còn lại phần cật tre và phần thân nạc của cây tre,các nghệ nhân sẽ tính toán để sử dụng các kích thước khác nhau cho phù hợp với từng loại sản phẩm, ngắn, dài, dầy, mỏng.

Sau khi phân loại, các thanh tre được chẻ thành nan để đan (cung đoạn này các nghệ nhân gọi là pha nan), chẻ nan xong, từng nan được nghệ nhân vút cho thật bóng,tiếp đến nan được đem vào cung đoạn đan, dát.

Tuỳ từng loại sản phẩm mà áp dụng các kỹ thuật đan khác nhau (đây là bí quyết nghề). Ví dụ: đan long mốt long hai dùng cho đan các loại rổ rủa, đan long ba dùng cho đan mẹt, thúng, mủng,nong, đan long tư sử dụng cho đan nia …ngoài ra sử dụng các kỹ thuật khó như “bỏ tim cho đan nia” - tức là tạo thành sóng nan chảy về mủi nia…

Sau khi đan các loại sản phẩm thành thành phên, thì tiến hành làm cạp sản phẩm và “lận”, rồi “nức”, đây là cung đoạn khó nhất, đòi hỏi nghệ nhân phải thực sự điêu luyện, để làm nên những sản phẩm được người tiêu dùng ưa chuộng.

Mọi sản phẩm đều được “nức” (tức là buộc phên sản phẩm với phần cạp) bởi sợi mây, - từ cây mây được phơi ngoài nắng một nắng cho tái, rồi nghệ nhân chẻ cây mây thành 4 sợi đều nhau, loại bỏ phần bụng, phần cật còn lại đem vút bóng làm dây buộc.

Các sản phẩm làm từ mây, tre của làng thọ sơn đều có chất lượng tốt nhất, và các nghệ nhân làm ra sản phẩm đẹp, đáp ứng được yêu cầu của người tiêu dùng gần xa.

- Hình thức thể hiện, quy trình thực hành nghề mây tre đan làng Thành Thiện: Sản phẩm làm hoàn toàn bằng tre, do lao động thủ công mà có. Qui trình cây tre khoảng 2 năm tuổi trở lên chặt bỏ phần gốc và ngọn, phàn thân lấy làm nan trẻ nhỏ, độ dài ngắn tùy thuộc vào dụng cụ lớn, bé, dùng dao sắc gọt sạch bề mặt, nan trẻ xong đem phơi dưới ánh nắng mặt trời ở nhiệt độ khoảng 30 độ, phơi trong vòng 1 đến 2 giờ đồng hồ, nếu tre già phơi 15 phút thì đem vào đan ngay để nan không bị giòn dễ gãy nan.

Hình thức đan: Đan từ giữa đan ra 4 xung quanh, 4 góc đan sau cùng, tùy theo dụng cụ để có thể đan nong 1,2,3,5.

Đan nong 1 là cài trên 1 nan trận dưới 1 nan; Nong 2,3,5 cũng đan như vậy.

Tiếp theo là phần cạp dùng nẹp buộc chặt bằng cây mây vườn trẻ nhỏ, sau khi hoàn thành sản phẩm, đem hun khói thành màu vàng xẩm là đạt yêu cầu đảm bảo cho sử dụng bền hơn.

Giá trị của sản phẩm đối với cộng đồng: gầu dai trước những năm 1990 dùng tát nước tưới cho đồng ruộng, các vật dụng khác trong gia đình sử dụng rất tiện lợi cho sinh hoạt. Nghề đan có thể thực hiện ở mọi thời điểm ở bất cứ vị trí nào trong gia đình cũng có thể đan được, tiết kiệm được thời gian lúc nông nhàn, để tăng thêm nguồn thu nhập.

* Nghề sản xuất Đậu Phụ.

Quá trình ra đời: Làng Phú Văn xưa kia còn gọi là làng Họ thuộc tổng Vận Quy, nhân dân trong làng sinh sống dọc theo hữu ngạn sông chu, chủ yếu sản xuất nông nghiệp thuần tuý. Từ thuở khai thôn lập ấp, không ai nhớ từ khi nào các hộ gia đình về đây quần tụ bên nhau làm ăn sinh sống, cũng từ đó nnghề sản xuất đậu phụ ra đời gắn liền với đời sống lao động sản xuất nông nghiệp của người dân nơi đây.

- Hiện trạng: Trong thời kỳ trước năm 2000 nghề sản xuất đậu phụ là nghề chính của nhân dân làng Phú Văn, cho thu nhập đáng kể, cho đến nay, trong cơ chế thị trường mở cửa, phần lớn lao động trong làng đi làm ăn xa nhiều nên các hhộ sản xuất đậu phụ giảm nhiều, cả làng chỉ còn 7 hộ gia đình là còn duy trì nghề này.

- Số nghệ nhân hiện có: 10 người

Tiêu biểu như:

+ Nguyễn Hữu Hoa, thôn Phú Văn xã Thiệu Châu

+ Lê Duy Đệ, thôn Phú Văn xã Thiệu Châu

+ Quảng Bá Tài, thôn Phú Văn xã Thiệu Châu

+ Đỗ Trọng Tuấn, thôn Phú Văn xã Thiệu Châu

+ Trần Anh Đài, thôn Phú Văn xã Thiệu Châu

- Số lượng người thực hành: 15 người

- Số học viên hiện nay: 2

- Phương thức truyền dạy: Truyền nghề

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành: Sản xuất đậu phụ là quá trình chuyển đổi từ hạt đậu tương (sản phẩm nông nghiệp) thành thực phẩm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của nhân dân trong vùng, đậu phụ được dùng làm thức ăn trong mỗi bữa cơm của người dân.

Đậu phụ làng Phú Văn được sản xuất theo quy trình thủ công truyền thống cụ thể: Nghệ nhân làm đậu phụ lựa chọn hạt đậu tương phù hợp (đậu tương được chọn hạt phải mẩy, béo, có màu vàng)

Trước tiên, hạt đậu tương được các nghệ nhân rửa sạch, và ngâm trong nước sạch từ 6 đến 8 tiếng đồng hồ. Hạt đậu sau khi ngâm, vỏ hạt đậu được bóc tách , nghệ nhân dùng tay xoa đều cho vỏ đậu bong ra,đãi sạch vỏ đậu còn lại nhân hạt đậu.

Nhân hạt đậu được nghiền thành bột nước, dùng túi vải lọc loại bỏ bả đậu từ đậu tương đã nghiền,giữ lại nước tinh bột đậu tương (hay còn gọi là nước đậu). Đem nước đậu đun sôi, bước tiếp theo dùng nước chua để đánh cái đậu, tức là dùng nước chua pha vào nước đậu đã được đun sôi theo tỷ lệ tương thích (đây là cung đoạn khó nhất của kỷ thuật làm đậu phụ đòi hỏi nghệ nhân phải có kinh nghiệm thực tiễn lâu năm mới có thể làm tốt), vừa pha nước chua vừa quấy đều tạo kết tủa cái đậu, nước chua pha vào nước đậu phải vùa đủ thì đậu mới thơm ngon,nếu ít nước chua, hoặc nhiều nước chua quá thì đậu phụ làm ra sẽ không ngon.Sau khi đánh cái đậu xong, nghệ nhân tách nước ra khỏi hỗn hợp, giữ lại phần cái đậu, cho vào khuôn rồi dùng vật nặng ép cho hết nước còn lẫn trong cái đậu, tạo đông kết thành những thanh đậu phụ cung cấp chô nhân dân sử dụng làm thực phẩm.

Phần nước được tách ra từ hổn hợp đậu kết tủa thì đem ủ theo kỷ thuật cho lên men tạo thành nước chua để dùng cho ngày sản xuất đậu phụ của ngày hôm sau.Bả đậu thì được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi.

* Nghề sản xuất bánh đúc.

- Quá trình ra đời: Làng Go, xưa kia thuộc tổng Vận Quy, huyện Thiệu Hoá, làng Go được cho là làng đứng đầu trong 4 làng của xã Thái Bình: làng Hồng Đô, làng Thọ Sơn, làng Go và làng Họ. Không biết tự bao giờ cái tên làng Go đã gắn liền với nghề làm bánh Đúc, đã có thơ ca rằng:

Bánh đúc Kẻ Go, bánh tày to Quán Lào

Bánh đúc bẻ ba, tôm canh quệt ngược, cửa nhà anh siêu.

- Hiện trạng: Trước những năm 2000 nghề bánh đúc nơi đây khá nổi tiếng là được phần lớn các hộ trong làng tổ chức làm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của nhân dân trong và ngoài địa phương. Cho đến nay, nghề làm bánh đang có nguy cơ mai một. Chỉ còn lại duy nhất một hộ trong làng còn làm nghề này, đó là hộ chị Hoàng Thị Khoa.

- Số nghệ nhân hiện có: 6 người

Tiêu biểu như:

+ Hoàng Thị Khoa, thôn Yên Tân, xã Thiệu Châu

+ Hoàng Duy Kế, thôn Phú Văn, xã Thiệu Châu

+ Quản Bá Tiến, thôn Yên Tân, xã Thiệu Châu

+ Trần Thị Xuân, thôn Yên Tân, xã Thiệu Châu

+ Hoàng Văn Năng, thôn Yên Tân, xã Thiệu Châu

- Số lượng người thực hành: 10 người

- Số học viên hiện nay: Không

- Phương thức truyền dạy: Truyền nghề

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành: Cái tên làng Go được gắn liền với bánh đúc kẻ Go, khắp nơi xa gần hể nhắc đến làng Go là người ta nghĩ đến hương vị thơm ngon của những chiếc bánh đúc nơi đây.

Trước đây nghề làm bánh đúc được coi là nghề chính đảm bảo đời sống cho nhân dân, mọi người trong làng đều tham gia làm bánh đúc để bán vào các buổi chợ phiên của chợ Go, chợ Dị (xã thiệu Trung), chợ Bái (xã Thiệu Giao), chợ Vồm ( xã Thiêu Khánh ). Sản phẩm bánh đúc được mọi người biết đến và nó cũng mang về thu nhập đảm bảo đời sống cho các hộ trong làng.

Ngày nay, nghề làm bánh đúc ở làng Go tuy không còn thịnh hành, nhưng trong tâm trí mỗi người dân nơi đây luôn nhớ đến cái hương vị nồng nàn, thơm ngon của những chiếc bánh đúc quê mình, nhớ về cái nghề mà một thì đã nuôi sống cả làng trong những năm khó khăn trước đây.

Làm bánh đúc, việc đầu tiên là chọn gạo để làm bánh, việc chọn gạo được coi là bí quyết, chọn gạo phải là gạo tẻ, thơm, dẻo, mềm, không được lẫn các loại gạo khác.

Sau khi lựa chọn gạo chuẩn, gạo được thợ làm bánh ngâm trong nước vôi trong từ 3 đến 4 tiếng đồng hồ, sau đó đem rửa sạch bằng nước sạch, tiếp theo gạo được nghiền thành bột nước mà nước để nghiền bột lại là nước vôi trong với tỉ lệ tương thích (đây là bí quyết nghề đẻ làm nên chiếc bánh đúc ngon, đặc trưng của làng Go)

Bột gạo nghiền xong thì cho vào nồi đun với lửa nhẹ khoảng 1 đến 2 tiếng đồng hồ, trong quá trình đun (nghệ nhân gọi là nấu bánh đúc) người làm bánh dùng đôi đủa cả quấy liên tục đều tay cho đến khi nồi bánh chín, đặc quện lại thì không đun nữa (người làm bánh dựa vào kinh nghiệm để nhận biết)

Bước tiếp theo, nghệ nhân dùng lá chuối tươi, cắt thành miếng vuông kích thước khoảng 5cm x 5cm làm đế bánh, các miếng lá chuối được đặt ra chiếc chiếu được đặt sẵn dưới nền nhà, nghệ nhân dùng hai chiếc phít( phít là miếng mo cau được cắt thành míng hình thang có chiều cao khoảng 10cm, đáy khoảng 5cm và 3cm ). Dùng 2 chiếc phít để múc bột bánh từng ít một dàn thành từng lớp hình tròn vào đế bánh, lớp sau nhỏ hơn lớp trước, dần thu nhỏ dần, tạo thành hình chiếc bánh đúc như ngọn núi thu nhỏ vậy.

Bàn tay thoan thoát của nghệ nhân sau khoảng 30 phút đồng hồ, cả nồi bột bánh đã được làm thành những chiếc bánh đẹp , thơm ngon, bước tiếp theo thợ làm bánh đợi cho bánh nguội hẵn thì đem xếp vào thúng tùng lớp bánh và mang đi bán.

3. Di sản văn hóa phi vật thể đã bị mai một: Tổng số lượng 7 di sản

3.1. Nghệ thuật trình diễn dân gian: Số lượng 01 di sản

- Trò chơi, rước Pháo Ngò làng Ngò xã Thiệu Minh

3.2. Nghềthủcông truyền thống: Số lượng 01 di sản.

- Nghề tróc, đóng thảm bẹ ngô xã Thiệu Thịnh

3.3. Ngữ văn dân gian: Số lượng 2 di sản

- Truyện cổ tích làng Thành Sơn xã Thiệu Thành

- Hát ghẹo, vè, hát đối làng Ngo xã Thiệu Minh

3.4. Tập quán xã hội: Số lượng 3 di sản

- Tục bắt Cuốc cúng Dương Tam Kha làng Thành Đạt xã Thiệu Long

- Thờ cúng thần thành hoàng làng thôn 1 xã Thiệu Viên

- Tục ăn trạ làng Minh Đức xã Thiệu Long

IV. NHỮNG HẠN CHẾ, KHÓ KHẮN, TỒN TẠI TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ:

1. Hạn chế, khó khăn, tồn tại:

Cũng như các địa phương khác trên địa bàn tỉnh, công tác bảo tồn, phát huy giá trị Di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn huyện Thiệu Hóa đang còn rất nhiều những khó khăn, tồn tại:

- Đội ngũcán bộ chuyên môn quản lý di sản chưa được đào tạo đúng chuyên môn dẫn đến năng lực công tác còn hạn chế. Nhiều xã trên địa bàn, số lượng cán bộ văn hóa được đào tạo cơ bản không nhiều, hoặc chỉ được đào tạo bằng cách qua các lớp tập huấn, do đó chưa đủ năng lực để thực hiện công tác quản lý một cách bài bản, khoa học.

- Nguy cơ mai một của nhiều loại hình di sản văn hóa phi vật thể, do các nghệ nhân am hiểu hiểu về di sản đã chết, số nghệ nhân còn lại do tuổi cao, sức yếu, trí nhớ không còn minh mẫm dẫn đến việc sưu tầm, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa phi vật thể chưa tương xứng với tiềm năng hiện có.

- Đặc điểm của di sản văn hóa phi vật thể là tồn tại trong trí nhớ và được lưu truyền thông qua bằng con đường truyền miệng nên việc sưu tầm và xây dựng quy trình thực hành theo đúng truyền thống là rất khó khăn.

- Nguồn kinh phí, ngân sách, phương tiện, con người cần đầu tư­, bố trí cho lĩnh vực này chưa được Nhà nước quan tâm, đầu tư.

- Do đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, nguồn kinh phí xã hội hóa không có nên các lễ hội truyền thống không còn được tổ chức quy mô, bài bản như lễ hội gốc mà được một số người dân tự tổ chức rút gọn thành một nghi lễ nhỏ theo nhu cầu tín ngưỡng của mình, điều này ít nhiều làm mai một, làm biến dạng và mất đi bản chất cốt lõi, hồn cốt văn hóa, ý nghĩa tâm linh tốt đẹp của lễ hội.

- Việc trao truyền lại các nghệ thuật trình diễn, các nghi lễ trong lễ hội truyền thống cho thế hệ trẻ chưa được thực hiện thường xuyên, nhiều loại hình nghệ thuật có nguy cơ bị mai một.

- Ý thức bảo tồn văn hóa dân tộc của một bộ phận người dân (đặc biệt là lớp trẻ) còn yếu nên dễ bị ảnh hưởng bởi văn hóa ngoại lai, tâm lí sính ngoại, ít quan tâm đến văn hóa dân tộc mình.

2. Biện pháp bảo vệ:

Trước những khó khăn, hạn chế, tồn tại trong công tác quản lý di sản nói chung và di sản văn hóa phi di sản văn hóa phi vật thể nói riêng nhằm nâng cao đời sống văn hóa tinh thần, bảo tồn và lưu giữ những nét văn hóa truyền thống trên địa bàn huyện Thiệu Hóa trong thời gian tới cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

- Tăng cường tuyên truyền về bảo tồn văn hóa phi vật thể cho người dân nâng cao nhận thức về truyền thống văn hóa của dân tộc, từ đó mỗi cá nhân có ý thức bảo vệ di sản.

- Thực hiện tốt công tác kiểm kê, lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể tại địa phương một cách khoa học và có hệ thống thông qua việc tư liệu hóa, vật thể hóa hệ thống di sản văn hóa nhằm nhận diện và xác định mức độ tồn tại, giá trịvà sức sống của từng loại di sản văn hóa trong cộng đồng trên cơ sở đó đề xuất phương án bảo tồn, phát huy một cách hiệu quả.

- Nâng cao vai trò quản lý, định hướng của Nhà nước,đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động nhân dân tham gia bảo vệ di sản văn hóa, gắn hoạt động văn hóa dân tộc trong công tác, xây dựng đời sống văn hóa. Trong đó cần chú trọng đến nguyên tắc “bảo tồn sống” tức là bảo tồn các loại hình văn hóa phi vật thể ngay chính trong đời sống cộng đồng.

- Tiếp tục tăng cường công tác quản lý nhà nước về di sản trên địa bàn toàn Huyện, ban hành các văn bản nhằm triển khai có hiệu quả văn bản cấp trên. Gắn việc bảo tồn các giá trị văn hóa vào phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”.

- Có chính sách, chế độ thích đáng cho các nghệ nhân tài giỏi, những cá nhân và gia đình có công giữ gìn các di sản văn hóa dân tộc. Cử cán bộ đi cơ sở khảo sát và có kế hoạch mở lớp đào tạo, truyền dạy kỹ năng thực hành di sản văn hóa phi vật thể.

- Tổ chức nghiên cứu, s­ưu tầm, phục hồi,nâng cao di sản dân ca, dân nhạc, dân vũ của nhân dân để đáp ứng nhu cầu thực tế; xây dựng các tổ, đội văn nghệ truyền thống, nhân rộng các mô hình điểm và tiến tới hướng dẫn người dân biết thực hành các di sản đó.

- Cơ quan chuyên trách cần có chính sách khuyến khích và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân nghiên cứu, sưu tầm, lưu giữ và giới thiệu văn hóa phi vật thể của tỉnh. Đào tạo và tuyển dụng nhân sự yêu thích tìm hiểu nghiên cứu văn hóa dân tộc, có đủ trình độ chuyên môn nghiệp vụ để làm công tác bảo tồn văn hóa phi vật thể.

- Tiếp tục tổ chức các hoạt động liên hoan ca múa nhạc dân gian để chọn một số làng, xã tiêu biểu có giao thông thuận lợi, kết hợp phong cảnh thiên nhiên và ngành nghề thủ công truyền thống tiêu biểu lập dự án bảo tồn, phát huy gắn với hoạt động du lịch cộng đồng.

- Định hướng trong công tác chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức các lễ hội truyền thống, lễ hội dân gian tại các địa phương. Phục hồi một số lễ hội tiêu biểu để có thể tổ chức định kỳ hàng năm.

- Tăng cường, đẩy mạnh hoạt động đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa ở địa phương về công tác bảo tồn và phát huy giá trị cá di sản văn hóa dân gian, xây dựng, sử dụng lực lượng cộng tác viên tại địa phương nhằm tuyên truyền đến người dân ý thức khôi phục và giữ gìn vốn văn hóa của dân tộc.

- Sử dụng các phương tiện hiện đại trong hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc (quay, chụp ảnh lưu giữ làm tư liệu để tuyên truyền phát trên hệ thống đài phát thanh cơ sở...)

- Nhà nước cần đầu tư kinh phí cho các hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa phi vật thể, mở rộng các hình thức xã hội hóa để mọi người dân có thể tham gia bảo vệ di sản văn hóa. Đối với những di sản văn hóa có nguy cơ mai một thì cần đầu tư, nghiên cứu phục dựng lại.

- Trong hoạt động của các đội thông tin lưu động ngoài các thông tin tuyên truyền về pháp luật, về chính sách, lồng ghép tuyên truyền bảo tồn văn hóa dân tộc. Tổ chức các hội nghị tôn vinh những người có công trong hoạt động bảo tồn văn hóa dân tộc.

- Tổ chức duy trì, nhân rộng các câu lạc bộ, các đội văn nghệ xung kích trên địa bàn toàn huyện, bố trí tham gia các hội thao, hội thi, hội diễn văn nghệ quần chúng các làng văn hóa do huyện, tỉnh tổ chức.

3. Đề xuất, kiến nghị:

- Đề nghị Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch trình UBND tỉnh đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa các di sản: Múa đèn chạy chữ, nghề thủ công truyền thống đúc đồng, nghề ươm tơ đẹt nhiễu, nghề làm bánh đa truyền thống, lễ hội truyền thống, múa trống cung đình, đánh bài điếm … trên địa bàn huyện Thiệu Hóa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.

- Đề nghị Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng các cấp có thẩm quyền có kế hoạch phục dựng lại các lễ hội truyền thống nhằm lưu giữ lại những nghi lễ theo đúng truyền thống của dân tộc như: Lễ cúng thần thành hoàng …

- Đề nghị các cấp, các ngành quan tâm hơn nữa tới sự nghiệp văn hóa nói chung và công tác bảo tồn các giá trị văn hóa phi vật thể nói riêng. Quan tâm đầu tư cơ sở vật chất phục vụ việc sinh hoạt văn hóa cộng đồng của nhân dân để công tác tuyên truyền được hiệu quả hơn.

- Tăng cường công tác chỉ đạo của tỉnh đối với cơ sở, thường xuyên có các lớp tập huấn nâng cao nghiệp vụ quản lý di sản cho cơ sở đặc biệt là các huyện khó khăn để nắm bắt các chủ trương, nghị quyết kịp thời.

- Thường xuyên tổ chức các hội thi, hội diễn nhằm tôn vinh các giá trị truyền thống.

- Có những chính sách, chế độ thích hợp cho những người có công bảo tồn, lưu giữ văn hóa dân tộc. Có chế độ khuyến khích người dân thực hành các loại hình di sản một cách thường xuyên.

- Bố trí nguồn kinh phí đầu tư cho hoạt động truyền dạy các di sản.

Trênđây là kết quả kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể huyện Thiệu Hóa năm 2015. UBND huyện Thiệu Hóa báo cáo.

Nơi nhận: - Thường trực UBND; - Sở VHTTDL;

- Phòng Nghiệp vụ Văn hóa;

- Lưu: VT, VHTT.

KT. CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH

Đã ký

Lê Xuân Đào

BÁO CÁO KẾT QUẢ KIỂM KÊ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THIỆU HÓA NĂM 2015

Đăng lúc: 28/08/2017 (GMT+7)
100%

BÁO CÁO KẾT QUẢ KIỂM KÊ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THIỆU HÓA NĂM 2015

ỦY BAN NHÂN DÂN

HUYỆN THIỆU HÓA


Số: 67/BC - UBND

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Thiệu Hóa, ngày 4 tháng 11 năm 2015

BÁO CÁO

KẾT QUẢ KIỂM KÊ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ

TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THIỆU HÓA NĂM 2015


Căn cứ Luật Di sản Văn hóa ngày 29 tháng 6 năm 2001và Luật sửa đổi, bổsung một sốđiều của Luật Di sản Văn hóa ngày 18 tháng 6 năm 2009;

Căn cứ Nghị định 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản Văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản Văn hóa;

Căn cứ Thông tư 04/2010/TT-BVHTTDL ngày 30/6/2010 của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch quy định việc kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể và lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể để đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia;

Thực hiện Kế hoạch 27/KH-UBND ngày 9/5/2011 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hoá về việc tổ chức triển khai công tác kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn toàn tỉnh;

Thực hiện Kế hoạch 812/KH-SVHTTDL ngày 18/5/2012 của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc kiểm kê Di sản Văn hóa phi vật thể trên địa bàn Tỉnh; Công văn số 591/SVHTTDL-DSVH ngày 10/3/2015 của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc phối hợp kiểm kê Di sản văn hóa phi vật thể;

Ủy ban nhân dân huyện Thiệu Hóa phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch triển khai thực hiện kiểm kê Di sản văn hoá phi vật thể trên địa bàn toàn huyện với 230 thôn, làng thuộc 28 xã, thị trấn. Sau khi tiến hành tổng kiểm kê, Ủy ban nhân dân huyện báo cáo kết quả như sau:

I. KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN THIỆU HÓA

1. Vị trí địa lý, kinh tế, xã hội:

Nằm ở khu vực đồng bằng của tỉnh Thanh Hóa, huyện Thiệu Hóa có diện tích là 17.547.52ha; dân số là 178.107 người (theo thống kê điều tra năm 2009). Phía Bắc tiếp giáp với huyện Yên Định, phía Nam tiếp giáp với huyện Đông Sơn, phía Tây giáp với hai huyện Triệu Sơn và Thọ Xuân, phía Đông giáp huyện Hoằng Hóa và Thành phố Thanh Hóa.

Thiệu Hóa được cấu tạo bởi phù sa trải trên một bề rộng nghiêng dần về phía Đông Nam, rìa phía Bắc và Tây Bắc là các dải đất cao từ 8m-15m được cấu tạo bằng phù sa cổ. Trong cái bằng phẳng như rất nhiều khu vực xung quang, vẫn bắt gặp những khoãng đồi núi mờ xa hoặc rải rác quang quất. Những đồi núi sót như núi Bằng Trình (còn gọi là núi Trịnh, Thái Bình - Thiệu Hợp), núi Đọ (còn gọi là núi Tràn – Thiệu Tân), núi Nuông (còn gọi là Khuyển Ngọa Sơn – núi chó nằm, Thiệu Long), núi Là (Thiệu Tiến) và núi Mấu (2 ngọn núi đá gần nhau thuộc Thiệu Ngọc, Thiệu Vũ, Thiệu Thành, Thiệu Tiến) hầu hết đều có độ cao trung bình từ 150-200m so với mặt nước biển, được cấu tạo bằng đá phun trào, đá vôi, cát kết và đá phiến. Đồi núi cùng với địa hình dốc nghiêng đã tạo ra thuận lợi trong việc xây dựng các công trình thủy nông tự chảy hoặc làm cho nước dễ tiêu rút. Nhiều khu vực do quá trình hình thành phải trãi qua thời gian dài nâng lên hoặc lún xuống, phù sa sông Mã và sông Chu không bồi đắp kịp nên đã tạo ra nhiều vùng thấp trũng. Trãi qua hàng ngàn năm, nhân dân Thiệu Hóa bỏ ra biết bao công sức để tạo nên hàng trăm kilômét đê đại hà, đê quai, đê con trạch dọc theo các triền sông, nhưng ngoài phần hạn chế tác hại do lũ lụt gây ra con người đã góp phần ngăn cản quá trình bồi đắp phù sa cho các vùng thấp trũng, để đến nay vẫn còn tới 3.000ha dễ bị mất trắng trước mưa bão thuộc các xã Thiệu Duy, Thiệu Thịnh, Thiệu Hợp, Thiệu Quang, Thiệu Long, Thiệu Giang, Thiệu Nguyên và một số vùng cục bộ rải rác ở các xã hữu ngạn sông Chu, xấp xỉ 100ha.

Trừ một vài khu vực ở Thiệu Hợp, Thiệu Thịnh khi con sông Chu chỉ còn 3km nữa thì gặp sông Mã, đã phải chảy xuyên qua một khối đá vôi biến tính còn ở nhiều khu vực khác, các sông Mã, sông Chu, sông Cầu Chầy đổi dòng liên tục, để lại nhiều đoạn sông chết ngoằn ngoèo lâu dần thành các hồ bán nguyệt hoặc vành khăn.

Ở phía ngoài đê, nhiều dải phù sa màu mỡ được bồi đắp có khi còn nhô cao hơn cả đất ở phía nội đồng, chỉ bị ngập nước khi lũ lớn. Nhưng nhìn chung các bãi bồi ven sông thường thấp, chỉ trồng được hoa màu vào mùa khô. Như vậy trên địa bàn Thiệu Hóa việc tiêu úng và chống rửa trôi vẫn là vấn đề đáng quan tâm.

Đồng bằng Thiệu Hóa có đủ các loại đất như phú sa cổ, phù sa mới bồi đắp, cát, sét. Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh, người ta chia chúng làm hai hệ chính:

- Đất phù sa hình thành trên trầm tích không bồi tụ hàng năm.

- Đất Feralit phát triển trên hình đồi núi.

Theo số liệu thống kê mới nhất, toàn huyện huyện có 10.565,7ha đất nông nghiệp với 10.289,08 ha đất canh tác hàng năm. Ngoài ra còn co 101.13ha đất lâm nghiệp; 291,10ha mặt nước nuôi trồng thủy sản; 1.543,17ha đất thổ cư; 2185,02ha đất chưa sử dụng, trong đó có 298,91ha đất có khả năng lâm nghiệp. Trước đây các xã ven sông Cầu Chầy có nhiều cánh rừng tự nhiên.

Do nằm trong khu vực dân cư đông đúc nên mức độ tàn phá cảnh quan ở đây diễn ra mạnh mẽ khiến cho cấu trúc và đặc trưng của vùng bị biến đổi khá sâu sắc.

Các kiến trúc nhân tạo như kênh, mương, đê điều và các công trình xây dựng khác đã làm cho địa hình không còn nguyên trạng như ban đầu. Vả lại, đây là khu vực sẽ tập trung các đầu mối kinh tế, các điểm quần cư lớn nên quỹ đất giành cho canh tác sẽ còn giảm đi rất mạnh, do đó cần đầu tư nhiều vào thâm canh, cải tạo đất và xây dựng các tập đoàn cây hợp lý.

Đặc trưng của khí hậu Thiệu Hóa biểu hiện khá rõ yếu tố khí hậu nhiệt đới: có một mùa đông lạnh và khô; các ngày đầu xuân ẩm ướt, âm u do thiếu nắng cộng với mưa phùn và sương mù kéo dài; mùa mưa đến muộn hơn các nơi với nhiều ngày khô nóng do gió Tây Nam tạo nên. Mỗi năm có tới 1.500 giờ nắng cho nên lượng bức xạ hàng tháng đều dương, cơ bản có lợi cho vật nuôi và cây trồng. Nhưng thiệt hại nhất là bão lụt và khô hạn, luôn là mối đe dọa tiềm ẩn cho sản xuất nông nghiệp và đời sống con người. Chỉ cần có lượng mưa từ 200-250mm là đủ gây úng lụt cho 1/3 diện tích gieo trồng của toàn huyện.

Nhận xét về khí hậu của khu vực, sách Đại Nam Nhất Thống Chí đã viết “tháng giêng và tháng hai gió Đông Bắc, khí trời hơi lạnh. Tháng ba và tháng tư gió Đông Nam, khí nóng bắt đầu sinh. Tháng năm và tháng sáu gió nồm thổi mạnh phần nhiều nòng nực. Tháng bảy và tháng tám, thường có gió Tây Nam, thỉnh thoảng mưa rào hoặc mưa lũ hoặc có bảo. Khoãng thời gian Thu sang Đông thường có gió lạnh hoặc mưa dầm, lại hay có bão nhỏ (tục ngữ nói: tháng chín bão rươi, tháng mười bão cá). Tháng một và tháng chạp gió bất chợt rét. Cuối tiết đại hàn khí trời sang xuân, sấm bắt đầu dậy”.

Chế độ thủy văn trên địa bàn Thiệu Hóa khá phong phú với 5 sông lớn nhỏ chảy qua.

Sông Mã phát nguyên từ vùng tây bắc có chiều dài 522 km, trong đó có 245km chảy qua Thanh Hóa. Sông vượt qua nhiều vùng rừng núi có địa hình phức tạp, nguồn nước nhiều, tốc độ dòng chảy cao, diện tích lưu vực tới 9000km2. Khi vào tới địa bàn Thiệu Hóa, sông mã chảy trên một dạng địa hình mặt bằng chiếm ưu thế, độ cao tương đối không lớn, độ chia cắt rất yếu vì điều cơ bản là địa hình Thiệu Hóa vốn là một bán bình nguyệt cũ mới được nâng lên. Thêm vào đó là lượng mưa ở đây giảm đi nhiều so với vùng thượng lưu. Hai đặc điểm này đã khiến cho mạng lưới sông ngòi kém phát triển tại lưu vực sông mã. Hạ lưu sông Mã độ dốc lại nhỏ, lòng sông mở rộng nên nước chảy không mạnh vì phía trung và thượng lưu nước lũ ác liệt đã ảnh hưởng đến nước lũ ở hạ lưu rõ rệt. Mùa lũ nước đổ dồn rất mạnh, nước lên nhanh và thường gây ra lụt. Bước sang tháng 10, tháng 11 mực nước và lưu lượng của các sông xuống thấp, dòng chảy nhỏ nhất xuất hiện vào tháng 3 chỉ chiếm 2,4 -2,6% lưu lượng dòng chảy cả năm.

Sông Chu ngắn hơn sông Mã nhưng diện tích lưu vực cũng tới 3000km2 và mật độ sông suối cũng tăng hơn nhờ băng qua khu vực mưa nhiều. Từ Bái Thượng trở xuống, sông Chu chảy qua vùng đồng bằng có độ cao mặt đất thay đổi từ 15 - 90m rồi nhập vào sông mã ở Doanh Xá (ngã ba Giàng), cách cửa sông 25,5km. Lượng nước sông Chu chiếm khoãng 1/4 lượng nước sông Mã. Nước lũ trên sông Chu cũng xảy ra khá ác liệt. Trên các phụ lưu chính, nơi địa hình mới được nâng cao, mưa nhiều và chảy trên những vùng phiến nham ít thấm nước. Đê sông Chu bắt đầu từ phía trên Thọ Xuân nhưng chỉ đắp bên hữu ngạn. Từ Thọ Xuân xuống, đê đắp cả hai bên.

Sông cầu Chày (Ngọc Chùy Giang) là một sông nhỏ ở đồng bằng nhưng vì nằm ở trung tâm mưa lớn gần làng Chánh nên lũ rất mạnh. Trong khi đó lòng sông lại hẹp, cửa sông bị nước sông Mã ứ sang cho nên dễ sinh ra úng lụt. Sông Cầu Chày dài 87,5km xưa nổi tiếng là có nhiều chướng khí:

“Cầu Chày chó lội đứt đuôi,

Ngựa lội đứt vó trôi xuôi Vực Vàng”

Trên địa phận Thiệu Hóa có 2 sông nhỏ nữa. Sông Dừa bắt nguồn từ Như Xuân chảy dọc phía Nam của huyện và sông Mậu Khê xuất phát từ núi Vạc (Thiệu Ngọc) chảy qua cầu Kịt (Thiệu Long) đổ vào sông Chu ở cống Chấn Long (còn gọi là cống Nạp, hay cống Mười cửa – Thiệu Hợp). Nước của các sông này đều có độ khoáng nhỏ, hàm lượng hữu cơ thấp, nghèo phù sa, ít biến đổi theo thời gian. Tuy nhiên đó lại là những tài sản vô cùng quý giá, làm thỏa mãn về nước sinh hoạt và đáp ứng những đòi hỏi về tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp.

Nguồn tài nguyên chính của Thiệu Hóa chủ yếu là vật liệu xây dựng (đá vôi, đá xây dựng, cát) phân bố ở Thiệu Ngọc, Thiệu Vũ, Thiệu Tiến, Thiệu Hợp, Thiệu Hưng, Thiệu Đô. Trữ lượng lớn về đất sét đủ cung cấp cho sản xuất gạch ngói cũng là một tiềm năng có nhiều hứa hẹn.

Lưu vực sông mã, sông Chu và các dãi núi sót phân bố ở đôi bờ hai con sông từ thời cánh tân đã có con người sinh sống. Dấu vết của người vượn cũng như những công cụ của họ đã tìm thấy ở núi Đọ (Thiệu Tân), núi Nuông (Tiên Nông – Thiệu Long).

Núi Đọ tọa lạc ở hữu ngạn sông Chu, nơi hợp lưu của sông Chu - sông Mã có độ cao 159m, sườn dốc thoải 20-250. Loại đá tạo nên núi Đọ là đá kết thực hạt mịn, màu xanh xám và khá cứng nên khi ghè đẽo tuy khó nhưng dễ tạo ra cạnh rất sắc, phù hợp với việc chế tạo công cụ thời Nguyên Thủy. Trên sườn núi Đọ, ở độ cao 30-40m còn có nhiều đá bazan gốc.

Người Nguyên Thủy ở núi Đọ, núi Nuông đã dùng đá đẽo đá. Ngoài việc tạo ra loại rìu từ đá bazan, các công cụ gần hình rìu, họ còn tạo ra các mãnh tước để dùng tỏng việc cắt gọt và các hạch đá, các công cụ chặt thô. Họ sống chủ yếu bằng hái lượm và săn bắn. Hàng ngày từng bầy người tụ tập với nhau đi nhặt ốc ven sông Chu, hái quả và đào củ trong núi rừng xung quanh. Cuộc sống của họ cứ thế trãi qua hàng vạn năm, cứ sinh sôi nảy nở và sáng tạo. Mở đầu thời đại đồng thau ven đôi bờ sông Mã, sông Chu lớp cư dân cồn Chân Tiên nằm sát phía đông nam núi Đọ đã trở thành cốt lõi đầu tiên trong việc hình thành bộ Cữu Chân trong Nhà nước Văn Lang. Người cồn Chân Tiên dã từng đạt tới trình độ cao trong kỹ thuật mài, tạo ra các loại rìu mài vát một bên; làm được nhiều đồ gốm nung (nồi, vò, bát, đĩa), chế tạo bàn xoay, có trang trí hoa văn và chiều chì lưới.

Từ văn hóa cồn Chân Tiên, người dân Thiệu Hóa đã bước vào nền văn hóa Đông Sơn với các chứng tích tìm thấy ở Thiệu Dương.

Tại đây, ngoài rìu đồng được con người sử dụng để khai phá đất đai, đã có thêm những công cụ bằng đồng, bằng sắt như lưỡi cày, lưỡi liềm, mai, thuổng và đặc biệt là lưỡi cày cánh bướm. Tại Thiệu Dương trong một đợt khai quật thu được 11 lưỡi cày loại này cùng với nhiều xương và đầu trâu, 2 chiếc liềm đồng. Những công cụ bằng đồng và nguồn sức kéo trên cho phép họ mở rộng diện tích trồng trọt trên quy mô lớn, làm cho nông nghiệp có bước phát triển. Đã xuất hiện nghề đánh cá với các lưỡi câu có ngạnh. Các thợ đá chuyển sang chế tác đồ trang sức. Nghề đan lát đã xuất hiện với các kiểu đan lóng mốt, lóng đôi, lóng nia, lóng thúng. Thợ làm nhà, thợ đóng thuyền và làm công cụ và đồ dùng bằng gỗ ngày càng nhiều. Các dọi xe chỉ bằng gốm và dấu tích vải tìm thấy trong các mộ ở Thiệu Dương chứng tỏ nghề dệt đã có mặt. Nghề gốm đã cho ra lò nhiều sản phẩm có độ nung cao, được trang trí hoa văn tinh tế. Nghề đúc đồng phát triển cực thịnh, làm được nhiều loại vũ khí và đồ dùng (mũi lao, mũi tên, rìu, dao găm, kiếm, giáo, lưỡi cày, lưỡi đục, kim khâu, ấm đồng, thạp đồng, trống đồng, đồ trang sức, lục lạc).

Chính hạt nhân cồn Chân Tiên và sau đó là Thiệu Dương đã tạo nên sự hình thành đô thị Tư Phố với những hoạt động buôn bán sôi nổi, đầu mối giao thông thủy bộ của cả vùng từ năm 111 trước công nguyên. Tư phố ngự trị giữa ngã ba sông M㠖 sông Chu đã trở thành đầu mối gắn kết các tụ điểm dân cư Thiệu Dương, Đông Sơn, núi Nấp, núi Sỏi, Hoàng Lý, Hoằng Quỳ. Nó cũng thúc đẩy nghề nông, nghề làm vườn, nghề chăn nuôi, nghề đánh cá, nghề gốm, nghề dệt và nghề rèn sắt phát triển.

Cũng chính từ trung tâm này đã nuôi dưỡng những cừ súy, thủ lĩnh người Việt hùng cứ ở hương thôn để phát triển thành những hào trưởng cự tộc có ảnh hưởng lớn trong vùng như Dương Đình Nghệ ở Dương Xá (làng Giàng-Thiệu Dương), Lê Lương ở Bối Lý (Thiệu Trung) hoặc tỏa rạng đến tận kẻ Sập, Kẻ Mía-vùng quê của Lê Hoàn sau này. Kinh tế và văn minh sớm phát triển đã tu luyện nên một tiết độ sứ họ Dương, một Hoàng đế họ Lê trong buổi bình minh của nền độc lập dân tộc.

Trãi qua hàng ngàn năm lịch sử và nhiều lần xê dịch vị trí, địa giới, thay đổi tên gọi, đến giữa năm 1999, toàn huyện Thiệu Hóa có 193.000 nhân khẩu, với 44.909 hộ, mật độ dân số trung bình 1.143 người, thuộc loại cao nhất Thanh Hóa. Có tới 85% số hộ sống bằng nghề nông, còn lại hoạt động trong các lĩnh vực khác như thủy sản, dịch vụ, công nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp, và các ngành nghề khác. Bên cạnh một số xã dưới 1000 hộ như Thiệu Tân (687), Thiệu Minh (872), Thiệu Thịnh (922)…

Trong quá khứ, nghề đúc đồng ở Thiệu Hóa phát triển khá sớm và liên tục. Theo truyền thuyết, từ thời lý, dòng họ Vũ ở giáp Bối Lý đã đưa nghề đúc đồng vào làng Trà Đông – còn gọi là Chè Đúc. Sản phẩm chính của nghề đúc đồng ở đây là tượng, chuông và đồ dùng gia đình. Lúc đầu chỉ có một vài gia đình theo đuổi nghề này, dần dần lan rộng ra cả làng, do đó có khả năng cung cấp cho nhu cầu tiêu dùng của cả tỉnh. Chợ Chè ở Trà Đông trở thành chợ bán đồ đồng, thu gom nguyên liệu. Làng Rỵ bên cạnh được thu hút vào guồng máy của làng Chè Đúc (bán sản phẩm, cung cấp nguyên liệu). làng Dà, làng Bồ thì bán than Lim. Làng Nưa thì đưa tre, gỗ, nứa đến làng nghề.

Ở một góc độ nào đó, nghề chế biến thực phẩm ngày nay ở Thiệu Hóa cũng có nguồn gốc từ xa xưa. Kẻ Go là làng đã từng nổi tiếng về chế biến gạo và nấu bánh đúc (bánh đúc chợ Go, tày to Kẻ Lào. Bánh đúc chợ Go, trâu bò chợ Bản). Hồng Đô thì nổi tiếng về dệt lụa tơ (đẹp nhất là nhiễu Hống Đô, mênh mông bể sở, bãi ngô Kẻ Phùng). Lai Duệ chuyên sản xuất lục đũi bằng loại tơ tinh bạch và tốt. Kẻ Ràng – Dương Xá đan cót nứa. Kẻ Vồm-Đại Khánh chuyên đồ gốm (đít kẻ Vồm, mồm Kẻ Trịnh). Ngoài ra trong huyện còn làm được loại giấy chế từ câu trường lục, trắng và dai bền hơn giấy làm từ vỏ cây dó.

Nhưng rõ ràng hơn cả, Thiệu Hóa vẫn là một huyện thuần nông. Các nghề thủ công dù ra đời sớm hay muộn thì sản phẩm vẫn hướng vào cây lúa. Trong cuộc sống và quá trình vật lộn với thiên nhiên, nhân dân đôi bờ sông Chu đã luôn gặp phải những trắc trở chẳng riêng gì vùng Thiệu Tiến, Thiệu Thành:

“Khúc sông bên lở, bên bồi

Bên lở thì đói, bên bồi thì no”.

“Lộng Giang, Biểu Đức, Phác Đồng.

Trong 3 làng ấy còn mong nổi gì”.

Thiệu Hóa là vùng có những khu dân cư đông đúc và những đồng lúa mênh mông (đình Phù Nguyên, điền Yên Xá), những phiên chợ tấp nập bán mua, trên bến dưới thuyền chợ Đu (Thiệu Chính), chợ Trổ (Hậu Hiền), chợ Vạc (Thiệu Đô), chợ Go (Thiệu Châu), chợ Rỵ, chợ Chè (Thiệu Trung), chợ Vạn (Thiệu Hưng). Đến nay có tới 21/28 xã, thị trấn có chợ.

Cũng do là một huyện thuần nông nên hệ thống giao thông vận tải ở Thiệu Hóa chưa thật sự phát triển. Mặc dù toàn bộ số xã, thị trấn trong huyện đã có đường ô tô đến trung tâm xã, nhưng tỉnh lộ - huyện lộ đáng kể chỉ có tuyến Thanh Hóa – Rịa (Nho Quan, Ninh Bình) và ngã ba Chè đi Thiệu Toán. Đoạn đê từ làng Châu Trướng xuống ngã ba Đầu đến Thiệu Thịnh dài khoãng 10km thuộc tuyến đường đê sông Mã. Có lẽ ngày xưa, việc đi lại bằng đường thủy được sử dụng nhiều hơn. Trên sông Mã sâu rộng, thuyền bè trọng tải lớn có thể đi lại dễ dàng. Tuyến sông Chu từ ngã ba Giàng đến Chẩn Xuyên (Thiệu Ngọc), Bến Quản Xá (Thiệu Hợp), Xử Nhân (Thiệu Duy), Vãn Hà (Thiệu Hưng). Từ Chẩn Xuyên trở xuống, lòng sông bằng phẳng và rộng rãi, thuyền bè ra vào dễ dàng, đặc biệt là bến Vãn Hà. Khách đi trên sông đông nhất là người Nam Định. Ngay trên sông Cầu Chầy, thuyền bè có thể đi lại dễ dàng từ Ngã ba Châu Trướng ngược lên Ngã ba Bông ra Lèn, lên Cẩm Thủy, xuống Hàm Rồng hoặc ngược Hải Quật, Bái Ân, Cầu Si tới Cầu Lim lên Hoạt.

Cơ sở và mạng thông tin liên lạc trên địa bàn đã phủ khắp huyện và 26 xã đã có trạm bưu điện và 28/28 xã, thị trấn có trạm truyền thanh.

Trong tương lai, tiềm năng thiên nhiên và tài năng của con người Thiệu Hóa sẽ được phát huy mạnh mẽ để đưa quê hương sớm cập bến bờ của hạnh phúc, ấm no xây dựng một huyện đạt chuẩn nông thôn mới.

2. Văn hóa - xã hội và truyền thống yêu nước thương dân:

Lương Giang – Thụy Nguyên vốn là địa bàn cư trú của người Việt cổ. Từ đầu công nguyên đến thế kỷ thứ X, lớp cư dân bao quang vùng Tư Phố đã tiếp xúc và thu nhận được từ nền văn hóa Hán nhiều tinh hoa để tạo ra một ngôn ngữ Việt đồng bằng có nhiều dị biệt so với tiếng Việt do lớp cư dân ở vùng thượng du đang tồn giữ. Từ môi trường sinh thái, điều kiện xã hội đã dẫn đến sự phân chia tiếng Việt cổ thành hai nhánh Kinh-Mường. Lương Giang-Thụy Nguyên là một địa bàn đã chứng kiến quá trình biến đổi ấy. Cùng với sự chia tách ngôn ngữ là sự du nhập của Phật giáo vào địa phương.

Chùa Hương Nghiêm là một chứng tích sinh động cho nhận định này. Theo Kiền Ni Sơn Hương Nghiêm Tự Bi Minh dựng tháng giêng năm 1125 thì có nhiều khả năng chùa được xây dựng từ trước thế kỷ X vì khi Lê Đại Hành đi tuần du đến Ngũ huyện Giang thấy chùa chiền đã đổ nát, liền cho xây đắp tu bổ lại. Rồi tiếp đến Lý Thái Tông ghé thăm cảnh chùa, thấy cột kèo dã gãy hẳn cũng bỏ sức trùng tu. Năm 1087, Thiền sư Đạo Dung cháu của Trần quốc Bộc xạ Lê Lương lại xin cho sửa sang cao rộng. Năm 1091, có hai chàng Phó ký lang họ Thiều và họ Tô tâu xin lại khoảng ruộng của tiên tổ là quan Bộc Xạ. Vua xét tâu bèn trả lại giáp Bối Lý cho họ Lê. Đến mùa thu năm ấy, Lý Thường Kiệt cho chuộc lại đất, lập bia đá để chia ruộng cho hai giáp, chia đôi đầm A Lôi cho giáp Bối Lý, giáp Viên Đàm. Năm 1122, Thiền sư Đạo Dung về thăm cảnh cũ thấy nhân vật tuy đã đổi dời nhưng nước non vẫn như xưa, đền đài vẫn còn đó. Sư lập tức sai thợ giỏi đo đạc, trùng tu lại chùa. Trên đá chênh vênh tượng Phật uy nghiêm; mái hiên can thoáng mát; cửa ngõ thênh thang. Bên trái có một tòa lầu nguy nga, trong treo chuông lớn. Bên phải dựng tấm bia đá ghi chép công lao, ngõ hầu mong ngàn năm không mai một. Tường vách bao quanh, cách xa trần giới. Cỏ hoa tươi tốt ngạt ngào khói hương.

Nay nền cũ của chùa Hương Nghiêm vẫn còn ở Phủ Lý – Thiệu Trung, tục gọi là chùa Rỵ. Tương truyền khi đó lại có chùa Trịnh Nghiêm – tục gọi là chùa Go cấu trúc quy mô lớn rộng hơn, nên dân chúng có câu: chùa Go là chị, chùa Rỵ là em.

Chùa Thái Bính dựng trên núi Bằng Trình – một ngon núi đứng sững, đối diện với núi Bàn A, trước mặt trông ra sông mã. Núi nhỏ mà đẹp. Phía sau chùa có động đá, chạy thông suốt chênh chếch từ tây sang đông. Thiền sư Như Ngọ đã dựng tháp đá, am đá trong chùa.

Từ thời Trần, ở Thiệu Hóa không còn cảnh từ thị thành thôn ấp, đến sông núi khe ngòi, chùa nổi lên san sát, mái ngói xanh tiếp trời. Vì Nho Giáo đã có một vị trí khá vững chắc ở địa phương. Chính ngay mãnh đất Bối Lý nơi có chùa Hương Nghiêm đã sản sinh ra Lê Văn Hưu, người giành học vị bảng nhãn khoa thi năm 1247. Năm “Nhâm Thân Thiệu Long thứ 15 (1272) Hàn lâm viện Học sĩ kiêm Quốc sử viện Giám tu Lê Văn Hưu vâng lệnh soạn Đại Việt sử ký từ Triệu Vũ Đế đến Lý Chiêu Hoàng gồm 30 quyển, dâng lên, vua xuống chiếu khen ngợi”. Nhà sử học Lê Văn Hưu xứng đáng là đại thủ bút đời Trần và ông tổ của nền sử học Việt Nam.

Thời Trần, giáp Bối Lý còn sản sinh ra Đào Tiêu, đỗ Trạng nguyên khoa Thái học sinh năm Ất Hợi (1275) và Lê Quát, đỗ Thái học sinh đời vua Trần Minh Tông. Sang thời Lê, giáp Bối Lý (đổi gọi là Phủ Lý) vẫn giữ được truyền thống khoa bảng cử nghiệp của mình với 5 vị đại khoa. Một số làng khác như Đại Bối, Vãn Hà, Lam Sơn cũng trở thành những làng có truyền thống hiếu học, danh sách cụ thể như sau:

- Trần Văn Thiện, người Phủ Lý (Thiệu Trung), đỗ đồng Tiến sĩ khoa Quý Mùi (1463), làm đến hình bộ Thượng thư.

- Lê Quảng Dụ, người Lỗ Hiền (Thiệu Tâm), đỗ Hoàng giáp khoa Ất Mùi (1475) làm đến Án sát Ngự sử, đi sứ nhà Minh.

- Vũ Trật, người Lỗ Hiền (Thiệu Tâm), đỗ Hoàng giáp khoa Ất Mùi (1487), làm đến Giám sát Ngự sử.

- Lê Đình Quát, người Kim Hoạch (Thiệu Phúc), đỗ đồng Tiến sĩ khoa Canh Tuất (1490), làm đến Đô ngự sử.

- Trần Hữu Nho, người Cổ Đô (Thiệu Đô), đỗ Hoàng giáp khoa Canh Tuất (1490)

- Nguyễn Dục, người Phùng Cầu (Thiệu Thịnh), đỗ Tiến sĩ khoa Canh Tuất (1490).

- Lê Văn Hiến, người Đại Bối (Thiệu Giao), dỗ Hoàng giáp khoa Mậu Thìn (1508), làm đến Hữu thị lang.

- Hoàng Doãn Vũ, người Đại bối (Thiệu Giao), đỗ đồng Tiến sĩ khoa Mậu Thìn (1508), làm đến Hữu thị lang.

- Lê Bá Khang, người Phủ Lý (Thiệu Trung), đỗ đồng Tiến sĩ khoa Tân Mùi (1511), làm đến Tham chính.

- Nguyễn Quang Minh, người Vãn Hà (Thiệu Hưng), đỗ đồng Tiến sĩ Khoa Mậu Thìn (1628), làm đến Lại bộ tả thị lang tước Mỹ Lộc hầu, đã từng sang sứ nhà Minh.

- Lê Biện, người Phủ Lý (Thiệu Trung), đỗ Hoàng giáp khoa Tân Mùi (1631) làm đến Lại khoa đô cấp sự trung tước cẩm nham tử.

- Trương Quang Tiến, sau đổi là Luận Đạo, người Kim Hoạch (Thiệu Phúc), đỗ đồng Tiến sĩ khoa Canh Thìn(1640), làm đến Đông các Hiệu thư tước Mai lâm tử.

- Trịnh Văn Tuấn, người Tuấn Kiệt (Thiệu Phú), đỗ đồng Tiến sĩ lúc 56 tuổi, khoa Canh Thìn (1640), làm đến Hàn lâm hiệu thảo.

- Phạm Kiêm Toàn, người Địa Linh (Thiệu Tâm), đỗ đồng Tiến sĩ khoa Quý Mùi (1643), làm đến Thượng thư bộ binh twocs Thụy quận công.

- Vũ Kiêm, người Phủ Lý (Thiệu Trung), đỗ đồng Tiến sĩ khoa Bính Tuất (1646), làm đến Tham chính Sơn Tây.

- Trịnh Cao Đệ, người Vãn Hà (Thiệu Hưng), đỗ đồng Tiến sĩ khoa Canh Dần (1650), làm đến Tự khanh tước Lễ phái hầu.

- Nguyễn Quán Nho, người Vãn Hà (Thiệu Hưng), đỗ đồng Tiến sĩ khoa Đinh Mùi (1667), làm đến Lại bộ Thượng thư, đi sứ nhà Thanh. Ông nổi tiếng là người khoan hậu, có nhiều đóng góp với quê hương trong việc làm đường, xây cầu, tạo ra nếp thuấn phong mỹ tục.

- Nguyễn Đồng Lâm, người Ngọc Hoạch (Thiệu Phúc) đỗ đồng Tiến sĩ khoa Canh dẫn (1710) làm đến Giám sát Ngự sử.

- Lê Như Kỳ, người Yên Xá (Thiệu Duy), đỗ đồng Tiến sĩ khoa Mậu Thìn (1718), làm đến Hình bộ tả thị lang.

- Nguyễn Đức Hoành, người Nguyễn Xá (Thiệu Tâm), đỗ đồng Tiến sĩ khoa Giáp Thìn (1724) , làm đến Đô ngự sử.

- Trịnh Đồng Giai, người Ngọc Hoạch (Thiệu Phúc), đỗ đồng Tiến sĩ khoa Tân Sửu (1721) làm đến Hàn Lâm viên Đãi chế.

- Nguyễn Lệnh Tân, người Phù Lê (Thiệu Thịnh) đỗ đồng Tiến sĩ khoa Quý Mùi (1763), làm đến Đông các đại học sĩ.

- Dưới triều Nguyễn, Thiệu Hóa chỉ có 4 bậc đại khoa:

- Trần Lê Hiệu, người Phủ Lý (Thiệu Trung) đỗ đồng Tiến sĩ khoa Nhâm Ngọ (1822), làm đến Lang trung.

- Đỗ Khải, người Bằng Trình (Thiệu Hợp), đỗ phó bảng khoa Kỷ Dậu (1849).

- Lê Thế Quán, người Bái Giao (Thiệu Giao), đỗ phó bảng khoa Nhâm Dần (1892), làm đến đồng Tri phủ.

- Đỗ Xuân Phong, người Đoán Quyết (Thiệu Phúc), đỗ phó bảng khoa Quý Sửu (1913), làm đến Tri huyện Đức Phổ.

Ngoài 28 vị khoa kể trên, trong thời Nguyễn còn có 35 vị cử nhân: Lê Văn Luyện (Đại Bối – 1807), Hoàng Đức Nhân (Thọ Tân – 1813), Trần Lê Hiệu (sau đỗ đồng Tiến sĩ – 1891), Lê Quốc Thạc (Phùng Cầu – 1819), Trần Văn Tự (Phủ Lý – 1819), Đỗ Công Nho (Bái Giao – 1828), Lý Đăng Khoa (Đại Bối – 1831), Lê Thế Quán (sau đỗ phó bảng – 1840), Trần Văn Mỹ (Phủ Lý – 1843), Lê Khánh (Mật Vật – 1847), Đỗ Khải (sau đỗ phó bảng – 1848), Nguyễn Văn Duyên (Đoán Quyết – 1850), Lê Như Đễ (Yên Xá – 1950), Nguyễn Doãn Toại (Phùng Cầu – 1850), Nguyễn Hữu Duyên (Đại Bối – 1855), Hoàng Công Định (Phùng Cầu – 1858), Lê Duy Tự (Đại Bối – 1867), Lê Văn Thân (Phúc Lộc – 1867), Lê Duy Tiến (Chẩn Xuyên- 1867), Lê Duy Giản (anh Lê Duy Tự - 1867), Dương Văn Nhã ( Dương Xá – 1868), Nguyễn Đình Long (Yên Trường – 1870), Bùi Văn Hựu (Phù Nguyên – 1873), Lê Thiện Thi (con Lê Thế Quán - 1873), Phan Đình Tiến (Minh Linh – 1876), Lê Khắc Tạo (Bái Giao – 1879), Nguyễn Thọ Vực (Quảng Thi – 1879), Lê Hữu Vĩnh (Đại Bối – 1882), Nguyễn Tích (Đại Bối – 1891), Nguyễn Duy Thanh (Viên Quang hoặc Nguyệt Quang -1900), Lê Tuấn (Yên lạc – 1903), Lê Nguyên Vĩ (chấu Lê Quốc Thạc, em họ Lê Xuân Mai, Phùng Cầu 1906), Lê Xuân Mai (Phùng Cầu – 1909), Hoàng Tiến Cửu (Ngô Xá – 1912), Đỗ Xuân Phong (sau đỗ phó bảng 1913), Nguyễn Huy (Hổ Đàm – 1915).

Truyền thống hiếu học đến nay vẫn được nhân dân Thiệu Hóa phát huy. Toàn bộ 28 xã, thị trấn đều có trường phổ thông cấp II và lớp mẫu giáo. Có tới 19 xã giữ vững nhà trẻ và trên phạm vi toàn huyện có có 4 trường phổ thông cấp III đặt tại Thiệu Hưng, Thiệu Quang, Thiệu Đô, Thiệu Vận. Ngoài hàng ngàn người có trình độ đại học còn có hàng chục người đạt vị phó tiến sĩ, tiến sĩ ở trong nước và ngoài nước. Các làng Vãn Hà, Phùng Cầu, Phủ Lý vẫn tiếp nối được truyền thống cử nghiệp ngày xưa.

Thiên chúa giáo truyền vào Thiệu Hóa từ thế kỷ XIX, chủ yếu ở các làng dọc bờ sông Chu, nay thuộc các xã Thiệu Thịnh, Thiệu Vũ và một họ lẻ ở Thiệu Thành và 2 nhà thờ với 1726 giáo dân. Trong sự nghiệp cách mạng và hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ cũng như trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng bào theo Thiên chúa giáo ở Thiệu Hóa đã có nhiếu đóng góp, hy sinh về của cải và tính mạng, tích cực tham gia xây dựng quê hương giàu đẹp.

Thiệu Hóa có nhiều dòng họ sống xen kẽ trong các làng xóm. Đông hơn cả họ Lê, họ Nguyễn, họ Trịnh, họ Hoàng, cùng với các họ khác như (Bùi, Phan, Phạm, Dương, Đào, Minh, Đỗ, Ngô, Tạ, Mai, Trương, Trần…) hàng ngàn năm qua đã chung lưng đấu cật trên mãnh đất này và dòng họ nào cũng có đóng góp tài trí, vật lực cho quê hương. Dù lớn hay nhỏ, dòng họ nào cũng giữ cho mình truyền thống tưởng lệ đến công lao của tổ tiên và những bậc tiền bối có công với quê hương, đất nước. Đây là một mỹ tục đáng khích lệ vì trãi qua bao nhiêu năm tháng nó đã trở thành một tín ngưỡng dân gian. Ở Thiệu Hóa ngày xưa, hầu như làng nào cũng có đền miếu, phủ nghè, để quanh năm hương khói. Nhiều đền thờ ở địa phương đã trở thành quốc miếu như đền thờ Lê Văn Hưu ở Thiệu Trung, đền Nguyễn Quán Nho, đền thờ Đinh Lễ ở Thiệu Hưng. Bên cạnh đó là hàng chục đền miếu khác thờ các nhân thần, thiên thần ở Mật Vật, Vãn Hà, Lỗ Tự.

Hội hè, đình đám ra đời sớm và có nhiều nét độc đáo, hầu hết đều có trò diễn. Trò Ngô với 3 phường Ngô ở Bằng Trình (Thiệu Hợp), Chí Cường (Thiệu Quang) và làng Chuộc (Thiệu Tiến) – nằm trong hệ trò Văn Vương đến nay địa phương còn câu: “thứ nhất pháo Ngò, thứ nhì trò Chuộc”. Lại có hát chèo chãi, múa đèn chạy chữ ở Thiệu Quang. Làng Chuộc còn có nghề múa rối cổ diễn lại tích Lê Lợi đánh giặc, Lê Lợi chém Liễu Thăng, Đào viên kết nghĩa, phụng Nghi đình. Nhiều làng xóm khác ở Thiệu Hóa đều lập ra các phường hát tuồng, hát chèo hoạt động thường xuyên.

Kho tàng ca dao, tục ngữ của Thiệu Hóa thực sự là một tài sản vô giá của nền văn học dân gian Việt Nam. Vùng đất đầy những khắc nghiệt nhưng cũng chứa đựng biết bao tình cảm thân thương. Núi cao, sông rộng, nhà tranh, cầu gỗ… tất cả đi vào ca dao như những cung bậc trữ tình:

- Núi Vồm trước mặt cao cao

Nhác trông chốn ấy khác nào động tiên.

- Núi Hoa Phong gió trong như quạt

Nước Lương Giang bóng ngọt như gương.

Đất Doanh trông thể như giường

Quí thiêng đông đúc, trời sương dịu dàng.

- Ra về én bắc, nhạn đông

Hai hàng châu lệ đẫm sông Cầu Chầy.

- Ra về em những nhớ mong

Hai hàng châu lệ đẫm sông Cầu Chầy.

- Vọng đài bến cũ cờ giong

Um tùm cây đứng xa trông mịt mờ.

Nhà tranh thôn nhỏ lặng lờ

Chuông chùa văng vẳng đâu bờ bên kia

Chông chênh bãi nổi trâu quỳ

Tựa ghềnh ngư phủ chiều về ngóng mây.

- Đông kinh có bức địa đồ

Có sông tắm mát, có hồ Ngọc Châu.

Trước làng thì có bãi dâu

Đằng sau voi ngựa đứng chầu về nam.

Những xóm làng thân thương ấy còn lưu truyền trong thiên hạ bởi những con người đã sinh ra và trưởng thành từ mãnh đất ấy. Bên cạnh những con người văn võ song toàn (Đồng Mỹ văn Tiến sĩ, võ Quận công) là những người một lòng yêu quý quê hương:

- Ai về Vãn Hà mà coi

Coi ông quan Thượng mang voi làm đường.

Nhiều khi chỉ là những sự kiện, những đặc trưng riêng của một vùng như Thiệu Hợp cũng được khái quát vào tục ngữ (Họ Lê đắp đàng, họ Hoàng làm quan) hoặc giả chỉ là một số vật dụng nơi khác thường (Chiêng, Chàm, trống Họ, mõ Phù Nguyên). Đặc biệt, nhiều loại đặc sản và nghề nghiệp cũng được tục ngữ ghi nhận:

- Củi Phùng Cầu, cỏ lau Mật Vật

- Bạc Phú Lai, khoai Vãn Hà.

- Nhất tơ làng Hồng, nhất bông làng Vạc.

- Lúa làng Giàng ai đong cho hết

Gái làng Trịnh ai biết cho thông.

Có thể coi truyện phương Hoa do cử nhân Nguyễn Văn Duyên, người Đoán Quyết (Thiệu Phúc) sáng tác vào khoảng giữa thế kỷ XIX cũng thấy nhân cốt từ trong dân gian. Phương Hoa – con gái viên quan Ngự sử Trần Điện, quê Lôi Dương và Cảnh Yên – con trai quan Thượng thư Trương Đài, quê ở Thuần Lộc trãi bao tang tóc và oan trái, gia đình mới được minh oan, xum họp, Phương Hoa là một áng truyện nôm khá phổ cập và được nhân dân địa phương rất trân trọng.

Bằng tình yêu tha thiết quê hương, đất nước, từ bao đời nay nhân dân Thiệu Hóa đã xây dựng cho mình một truyền thống yêu nước và tinh thần chiến đấu quật cường, viết nên những trang sử hết sức tự hào.

Trong những năm đầu thế kỷ I, Hán Quang Vũ cử Nhâm Diên sang làm Thái thú Cửu Chân. Chính viên Thái thú này dã cấu kết với sĩ phu người Hán mở trường dạy học, truyền bá tư tưởng nho gia trên vùng đất Thanh Hóa lúc bấy giờ. Đây cũng là thời điểm cuộc khởi nghĩa Quận Giao Chỉ do hai anh em Trưng Trắc, Trưng nhị lãnh đạo. Ngay từ những ngày đầu của phòng trào, thủ lĩnh Đô Dương (Thiệu Dương) dã phối hợp với Chu Bá lãnh đạo nhân dân Cửu Chân vùng dậy hưởng ứng, chiếm được thành Tư Phố.

3. Lịch sử hình thành và tên gọi:

Thiệu Hóa ngày nay được cấu thành hai vùng đất thuộc huyện Quân Ninh và huyện Tư Phố trong quận Cửu Chân. Dấu tích thành Tư Phố - trị sở của quận và lỵ sở của huyện hiện vẫn còn tại làng Giàng (Dương Xá – Thiệu Dương) – điểm hội tụ đầu mối giao thông thủy bộ của khu vực.

Sang thời Lý - Trần, các huyện trên đổi tên là Lương Giang và Cửu Chân. Đến thời Lê, các tên gọi Thụy Nguyên và Đông Sơn được lần lượt thay thế.

Sở dĩ Quân Ninh được gọi là Lương Giang vì có sông Lương – tên gọi cũ của sông Chu. Đến thế kỷ XV, vào đầu thời Lê Thuận Thiên (1428), do là nơi phát tích của nhà Lê nên triều đình đem đất này đặt làm Tây Kinh và đổi tên huyện Thụy Ứng. Khi Lê Hồng Đức định bản đồ, cho huyện lỵ vào phủ Thiệu Thiên, lấy lại tên cũ là Lương Giang. Đời Đoan Khánh (1505-1509) đổi gọi là huyện Thụy Nguyên, Lỵ sở đặt tại Yên Lãng tổng Phú Hà (nay là xã Phú Yên- Thọ Xuân). Thời Nguyễn, dưới triều Gia Long, huyện lỵ dời về Mật Vật (nay thuộc xã Thiệu Phúc) rồi Bằng Trình tổng Phùng Cầu (sau đổi là Phùng Thịnh, nay Bằng Trình thuộc xã Thiệu Hợp). Dưới triều Minh Mệnh đóng hẳn ở Kiến Trung (Vãn Hà, tổng Mật Vật, nay thuộc xã Thiệu Hưng). Cũng dưới thời Nguyễn, vào năm 1815 phủ Thiệu Thiên đổi gọi là Phủ Thiệu Hóa, kiêm nhiếp 8 huyện (Quãng Bằng, Thạch Thành, Thụy Nguyên, Yên Định, Lôi Dương, Vĩnh Lộc, Đông Sơn, Cẩm Thủy). Từ 44 xã, 13 tổng, 17 trang, 1 sở, 6 trại, 13 phường thời Lê, đến đây huyện Thụy Nguyên có 8 tổng (Phùng Cầu, Mật Vật, Phù Chẩn, Thử Cốc, Phú Hà, Yên Trường, Quãng Thi, Ngọc Lặc) với 117 xã, trang.

Năm Thành Thái thứ 12 (1900), huyện Thụy Nguyên cắt tổng Ngọc Lặc, Yên Trường, Quãng Thi để lập châu mới thuộc vùng núi mang tên là Ngọc Lặc; chuyển tổng Phú Hà sang Lôi Dương để lập huyện Thọ Xuân; đồng thời nhận về tổng Lôi Dương của Thọ Xuân đặt làm tổng Xuân Lai; hai tổng Vận Quy, Đại Bối và một phần của tổng Thạch Khê của huyện Đông Sơn. Từ tên huyện Thụy Nguyên đã chuyển gọi là Phủ Thiệu Hóa gồm 8 tổng – trong đó 4 tổng thuộc hữu ngạn Sông Chu là Xuân Lai, Xuân Phong, Vận Quy, Đại Bối và 4 tổng tả ngạn là Thử Cốc, Phù Chẩn, Mật Vật, Phùng Cầu.

Cách mạng tháng tám thành công, toàn bộ tổng Thử Cốc được chuyển về huyện Thọ Xuân. Ngoài việc bỏ đơn vị hành chính cấp trung gian là tổng, nhà nước còn đổi phủ Thiệu Hóa thành huyện Thiệu Hóa với 12 xã (Huy Toán, Đại Đồng, Minh Quang, Thái Bình, Đại Bái, Ngọc Vũ, Thành Công, Tân Dương, Vạn Hà, Chùy Giang, Duy Tân, Quang Thịnh).

Tháng 3 - 1953, 12 xã trên được chia thành 31 xã như sau:

a. Các xã thuộc tổng Phùng Thịnh cũ gồm:

1. Xã Thiệu Duy: Đầm Xá (Đông Mỹ), Yên Xá, Khánh Hội, Cự Khánh, Phú Điền, Đông Hòa, Xử Nhân

2. Xã Thiệu Nguyên: Phú Nguyên (12 xóm)

3. Xã Thiệu Hợp: Bằng Trình (Trịnh), Chấn Long (Nạp), Quản Xá, Thắng Long.

4. Xã Thiệu Thịnh: Phùng Cầu, Nhuệ Thôn, Đương Phong.

b. Các xã thuộc tổng Mật Vật cũ gồm:

5. Xã Thiệu Phúc: Đoán Quyết Thượng, Đoán Quyết Hạ (Choán), Mật vật (Mật Thôn, Kim Hoạch), Hoạch Phúc (Vạc), Vĩ Thôn (Si)

6. Xã Thiệu Phú: Đỉnh Tân, Tra Thôn, Vĩnh Điện, Tuấn Kiệt (Thuận Tôn), Ngọc Tỉnh, Phú Thịnh.

7. Xã Thiệu Hưng: Vãn Hà (Kiến Hưng), Chí Cẩn, Dương Hòa.

8. Xã Thiệu Long: Đông Lỗ, Quán Trổ (Phú Lai), Phong Phú, Tiên Nông, Minh Đức (Kịt), Thành Đạt, Hưng Long.

9. Xã Thiệu Quang: Chí Cường, (Tử), Nhân Cao (Ngói), Châu Trướng (Nồi), Cồn Cát (Mới).

10. Xã Thiệu Công: Lợi Thượng (Bái), Xuân Quan (Sen), Oanh Kiều, Nhân Mỹ (Vược), Phác Đồng.

c. Các xã thuộc tổng Xuân Lai cũ gồm:

11. Xã Thiệu Thành: Biểu Dức (Bèo), Thành Sơn (Mấu), Thành Thượng (Đoài Thượng), Thành Đông (Đoài Đông hoặc Nhồi), Thành Giang (Lộng Giang hoặc Lòng) Thành Thiện (Thiện Giáo).

12. Xã Thiệu Ngọc: Chẩn Xuyên (Lỗ Chấn), Tân Bình (Bình Ngô và Ngọc Đới), Ngọc Sơn (Vạc), Ngọc Thiện (Trại Vạc), Ba Cồn, Xóm Mới.

13. Xã Thiệu Vũ: Lam Vĩ (vả hoặc Quan Cai), Yên Lộ (Kẻ Lổ), Cẩm Vân (Hoa Vân), Đạt Giáo, Tân Giáo.

14. Xã Thiệu Tiến: Phúc lộc (Chuộc), Quan Trung (Là).

d. Xã hợp nên do một phần tổng Đa Lộc và Hải Quật huyện Yên Định:

15. Xã Thiệu Giang: Đường Lâm, Vân Điền, Cổ Bi, An Thượng, Đa Lộc, Trung Đường.

e. Các xã thuộc tổng Đại Bối cũ gồm:

16. Xã Thiệu Tân: Trần xá (Chàn, Đông xá, Tòng Tân).

17. Xã Thiệu Giao: Đại Bái, Bái Giao.

18. Xã Thiệu Vân: Vân Tập (Vân Liễu), Phúc Hòa (Cầu Kệ), Đại Lý, Cổ Ninh (Cổ Định), Hiền Lâm, Đồng Me (tách từ Thiệu Tân).

19. Xã Thiệu Khánh: Phú Ân (Đọ), Đại Khánh (Vồm), Dinh Xá (Doanh Xá, Chành), Thanh Dương (Giàng hến).

20. Xã Thiệu Dương: Dương Xá Nội (Ràng), Dương Xá Ngoại.

g. Các xã thuộc tổng Vận Quy cũ:

21. Xã Thiệu Viên: Viên Nội, Viên Ngoại, Phú Thứ (Vân Đài), Nguyệt Quang.

22. Xã Thiệu Lý: Mỹ Lý, Nguyệt Lãng, Hổ Đàm.

23. Xã Thiệu Vận: Vận Quy (Vận), Lạc Đô (Khoai), Quy Xá (Nguộn).

24. Xã Thiệu Trung: Phủ Lý (Trung, Nam, Bắc-Rỵ), Trà Đúc (Chè)

25. Xã Thiệu Đô: Hồng Đô (Hồng, Mỹ Đô), Cổ Đô (Vạc), Trà Thượng.

26. Xã Thiệu Châu: Đắc Châu (Chòm), Phú Văn (Họ), Yên Tân (Go) Thọ Sơn (Núi).

h. Các xã thuộc tổng Xuân Lai, Xuân Phong cũ gồm:

27. Xã Thiệu Chính: Đu, Thái, Cá Lược, Thiều, Đông, Trung, Cao Xá.

g. Trước đay cón một số thôn đứng đầu là chưc Dân (Hòa, Thái Khang)

28. Xã Thiệu Hòa: Thái Khang, Thái Hòa, Khoai (Mật), Thái Dương, Tối Thuần.

29. Xã Thiệu Minh: Ngô Xá (Kẻ Ngô, Ngô Thượng, Ngô Hạ), Hà Thanh, (ngày nay gồm 4 thôn hà Thanh, Đồng Minh, Đồng Chí, Đồng Bào).

30. Xã Thiệu Tâm: Hậu Hiền (Trỗ với Tam Đồng: Tâm, Thanh, Tiến và Tứ Thái: Lai, Sơn, Ninh, Bình).

31. Xã Thiệu Toán: Mao Xá, Khổ Kỷ (Cầu Kè), Kỳ, Điện, Cỗ, Thung Dung.

Do nhu cầu mới của xã hội và đứng trước một hoạch định lớn về vai trò pháo đài của cấp huyện, ngày 5-7-1977, Hội đồng Chính phủ đã ra Quyết định số 177/CP về việc giải thể huyện Thiệu Hóa: 15 xã nằm trong vùng tả ngạn sông Chu sáp nhập vào Yên Định, lập ra huyện mới mang tên Thiệu Yên, 16 xã còn lại ở hữu ngạn sông Chu sáp nhập vào Đông Sơn, lập ra huyện Đông Thiệu (năm 1982 đổi theo tên cũ là Đông Sơn).

Sau 20 năm chung vai sát cánh trong đại gia đình Thiệu Yên và Đông Sơn, ngày 18-11-1996, huyện Thiệu Hóa được tái lập bởi Nghị định số 72/CP của Chính phủ. Ngày 1-1-1997, mọi hoạt động trở lại như Thiệu Hóa của hai chục năm trước đây và đến ngày 29/2/2012 Căn cứ Nghị quyết 05/NQ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính các huyện Hoàng Hóa, Thiệu Hóa, Đông Sơn và Quảng Xương để mở rộng địa giới hành chính thành phố Thanh Hóa và thành lập các phường thuộc thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, huyện Thiệu Hóa còn lại 16.068,38 ha diện tích tự nhiên, 152.782 nhân khẩu và 28 đơn vị hành chính, bao gồm 27 xã và 1 thị trấn sau: Thiệu Toán, Thiệu Chính, Thiệu Hòa, Thiệu Minh, Thiệu Tâm, Thiệu Viên, Thiệu Lý, Thiệu Vận, Thiệu Trung, Thiệu Đô, Thiệu Châu, Thiệu Tân, Thiệu Giao, Thiệu Ngọc, Thiệu Vũ, Thiệu Tiến, Thiệu Thành, Thiệu Công, Thiệu Phúc, Thiệu Phú, Thiệu Long, Thiệu Giang, Thiệu Duy, Thiệu Nguyên, Thiệu Hợp, Thiệu Thịnh, Thiệu Quang và thị trấn Vạn Hà.

II. KẾT QUẢ KIỂM KÊ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THIỆU HÓA:

Sau hơn 4 tháng tiến hành công tác tổng kiểm kê trên địa bàn huyện Thiệu Hóa. Đến nay, đã có 28/28 xã, thị trấn hoàn thành việc kiểm kê di sản văn hoá phi vật thể theo Kế hoạch số 27/KH-UBND, ngày 9/5/2011 của UBND tỉnh Thanh Hóa và Kế hoạch số 812/KH-SVHTTDL ngày 18/5/2012 của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Cuộc kiểm kê đã thu được 284 phiếu của 21 xã, thị trấn. Kết quả toàn huyện có 35 di sản thuộc 6 loại hình tồn tại ở 20 xã, thị trấn. Trong đó có 25 di sản còn lưu giữ nguyên gốc và duy trì tốt; 3 di sản có nguy cơ mai một; 7 di sản đã bị mai một. Cụ thể như sau:

1. Loại hình: Gồm có 6 loại hình.

1.1. Nghệ thuật trình diễn dân gian: Có 8 di sản; trong đó có 07 di sản còn lưu giữ nguyên gốc phát huy tốt giá trị; 01 di sản đã bị mai một.

1.2. Lễ hội truyền thống: Có 4 di sản; trong đó cả 4 di sản còn đang lưu giữ và phát huy tốt giá trị.

1.3. Nghề thủ công truyền thống: Có 7 di sản; trong đó 3 di sản đang còn lưu giữ và duy trì; 3 di sản có nguy cơ mai một; 01 di sản đã bị mai một.

1.4. Tri thức dân gian: Có 9 di sản, trong đó cả 9 di sản lưu giữ nguyên gốc.

1.5. Ngữ văn dân gian: Có 2 di sản, trong đó cả 2 di sản đã bị mai một.

1.6. Tập quán xã hội: Có 5 di sản; trong đó có 2 di sản còn lưu giữ nguyên gốc; 3 di sản đã bị mai một.

2. Tên gọi Di sản theo loại hình:

2.1. Di sản văn hóa phi vật thể còn tồn tại, phát triển: Tổng số 25 di sản, cụ thể như sau:

a. Nghệ thuật trình diễn dân gian: Số lượng 7 di sản:

- Múa, hát các làn điệu chèo các thôn Nguyên Hưng, Nguyên Thịnh, Nguyên Phú, Nguyên Sơn, Nguyên Lý, Nguyên Thắng, Sơn Thịnh.. thuộc xã Thiệu Nguyên và thôn Phác Đồng xã Thiệu Công.

- Sử dụng các nhạc cụ dân tộc cá nhân ông Nguyễn Văn Thoan, Nguyễn Văn Sửu, Mai Xuân Quế thôn Nguyên Thịnh, thôn Nguyên Lý xã Thiệu Nguyên.

- Múa trống cung đình thôn Phác Đồng xã Thiệu Thành

- Hát đối thôn Phác Đồng xã Thiệu Công

- Hát Chầu văn thôn Phác Đồng xã Thiệu Công

- Đánh Bài điếm thôn Lam Vỹ xã Thiệu Vũ

- Múa đèn chạy chữ làng Nhân Cao xã Thiệu Quang

b. Lễhội truyền thống: Số lượng 4 di sản.

- Lễ hội làng Khánh Hội xã Thiệu Duy; lễ hội Đình - Đền làng Đắc Châu xã Thiệu Châu; lễ hội làng Bái Giao xã Thiệu Giao; lễ hội làng Đa Lọc, lễ hội làng Đường Lâm xã Thiệu Giang; lễ hội làng truyền thống xã Thiệu Trung.

- Lễ tế Thành Hoàng Làng, làng Phú Lai xã Thiệu Long; lễ tế làng Trí Cẩn thị trấn Vạn Hà.

- Lễ rước kiệu thôn Đương Phong xã Thiệu Thịnh; lễ rước kiệu làng Kiến Hưng thị trấn Vạn Hà.

- Lễ du xuân cầu phúc làng Dương Hòa thị trấn Vạn Hà

c. Nghềthủcông truyền thống: Số lượng 3 di sản gồm.

- Nghề đúc đồng truyền thống làng Chè (trà Đông) xã Thiệu Trung

- Nghề ươm tơ dệt nhiễu làng Hồng Đô xã Thiệu Đô

- Nghề sản xuất bánh đa làng Đắc Châu xã Thiệu Châu

d. Tri thức dân gian: Số lượng 9 di sản

- Thuốc chữa rắn cắn thôn Nguyên Tân xã Thiệu Nguyên, thôn Sơn Thịnh xã Thiệu Châu; thôn Sơn Quý xã Thiệu Châu; thôn 5 xã Thiệu Vận; thôn 4 xã Thiệu Viên.

- Thuốc Nam – Bắc gia truyền thôn Quý 2 xã Thiệu Chính; thôn Châu Giang xã Thiệu Châu; thôn 4 xã Thiệu Vận; thôn 7, thôn 9 xã Thiệu Lý; thôn 2 xã Thiệu Tân.

- Thuốc trị mụn cơm, mịn cóc thôn Sơn Thịnh xã Thiệu Châu

- Thuốc trị kiết lỵ thôn Sơn Quý xã Thiệu Châu

- Thuốc trị lang ben thôn Châu Giang xã Thiệu Châu

- Thuốc chữa hóc xương thôn 5 xã Thiệu Vận

- Cao dán bỏng gia truyền thôn 5 xã Thiệu Trung

- Trao vía thôn 5 xã Thiệu Vận; thôn Yên Lộ xã Thiệu Vũ

- Khoán quai bị làng Lam Vỹ xã Thiệu Vũ

e. Tập quán xã hội: Số lượng 2 di sản.

- Kêu vía, cúng cơm bà mụ thôn 5 xã Thiệu Viên

- Đánh vía, chuộc vía thôn 2 xã Thiệu Tân

2.2. Di sản văn hóa phi vật thể có nguy cơ mai một: Tổng số 3 di sản

- Nghề mây tre đan làng Thọ Sơn xã Thiệu Châu; làng Thành Đông xã Thiệu Thành.

- Nghề sản xuất đậu phụ làng Phú Văn xã Thiệu Châu

- Nghề sản xuất bánh đúc làng Thọ Sơn xã Thiệu Châu

2.3 Di sản văn hóa phi vật thể đã bị mai một: Tổng số lượng 7 di sản

a. Nghệ thuật trình diễn dân gian: Số lượng 01 di sản

- Trò chơi, rước Pháo Ngò làng Ngò xã Thiệu Minh

b. Nghềthủcông truyền thống: Số Lượng 01 di sản.

- Nghề tróc, đóng thảm bẹ ngô xã Thiệu Thịnh

c. Ngữ văn dân gian: Số lượng 2 di sản

- Truyện cổ tích làng Thành Sơn xã Thiệu Thành

- Hát ghẹo, vè, hát đối làng Ngo xã Thiệu Minh

d. Tập quán xã hội: Số lượng 3 di sản

- Tục bắt Cuốc cúng Dương Tam Kha làng Thành Đạt xã Thiệu Long

- Thờ cúng thần thành hoàng làng thôn 1 xã Thiệu Viên

- Tục ăn trạ làng Minh Đức xã Thiệu Long

3. Đánh giá thực trạng chung:

Trong quá trình khảo sát, điền dã, kiểm kê tại các thôn, làng, xã trên địa bàn huyện Thiệu Hóa cho thấy:

Những di sản được trao truyền theo thế hệ trong cộng đồng thôn, làng, xã, gia đình đã và đang duy trì tốt tại các thôn, làng, xã của huyện Thiệu Hóa, đây là món ăn tinh thần và là nét đẹp văn hoá riêng của người dân nơi đây còn gìn giữ được cho đến ngày nay như: hát các làn điệu chèo cổ xã Thiệu Nguyên; múa đèn chạy chữ xã Thiệu Quang, múa trống cung đình xã Thiệu Thành; lễ hội truyền thống ở các xã Thiệu Châu; Thiệu Trung; Thiệu Duy; Thị trấn Vạn Hà; lễ tế thành thành hoàng của các xã Thiệu Long, thị trấn Vạn Hà; các bài thuốc tri thức dân gian chữa rắn cắn Thiệu Tân, Thiệu Nguyên, Thiệu Châu; thuốc Nam – Bắc gia truyền của xã Thiệu Chính, Thiệu Châu, Thiệu Vận, Thiệu Lý; các nghề thủ công truyền thống đúc đồng xã Thiệu Trung, Ươm tơ dệt nhiễu xã Thiệu Đô …

Bên cạnh những Di sản còn tồn tại, đã và đang được bảo vệ tốt thì có một số di sản có nguy cơ bị mai một; Do điều kiện lịch sử, kinh tế, xã hội và sự phát triển của khoa học công nghệ thông tin đã tác động đến đời sống của người dân, mà di sản đã dần bị quên lãng; không có thế hệ trẻ để trao truyền, lớp nghệ nhân và những người thực hành hoặc biết đến cũng bị cuộc sống mưu sinh và xu hướng của nền kinh tế thị trường cuốn theo, trong cộng đồng dân cư làng, xã đã từng tồn tại di sản đó; Đa số các nghệ nhân tuổi cao, sức yếu, lại không có người tâm huyết, yêu thích học để truyền lại như: Trò chơi, rước Pháo Ngò làng Ngò xã Thiệu Minh; nghề sản xuất mây tre đan, bánh đúc xã Thiệu Châu …

Một số ít di sản đã bị mai một, vì mưu sinh cuộc sống, người dân không còn có thời gian giành cho những trò chơi, trò diễn dân gian và cứ thế di sản đã dần bị quên lãng. Trong cộng đồng dân cư làng, xã đã từng tồn tại di sản đó, nghệ nhân còn ít và những người biết đến, họ chỉ còn nhớ đã từng được chơi và gọi được tên như: tục ăn trạ xã Thiệu Long, nghi lễ thờ thành hoàng làng xã Thiệu Viên; truyền cổ tích xã Thiệu Thành, hát ghẹo, vè, hát đối làng Ngo xã Thiệu Minh…

III. NỘI DUNG MỘT SỐ DI SẢN TIÊU BIỂU:

1. Di sản văn hóa phi vật thể còn tồn tại, phát triển: Tổng số 25 di sản.

1.1. Nghệ thuật trình diễn dân gian: Số lượng 7 di sản

* Múa hát các làn điệu chèo cổ:

- Quá trình ra đời: Di sản văn hóa phi vật thể, nghệ thuật trình diễn múa, hát các làn điệu chèo đã có từ xa xưa, không ai rõ mốc thời gian có từ bao giờ, chỉ biết rằng truyền từ đời này sang đời khác tồn tại đến ngày nay tại xã Thiệu Nguyên và xã Thiệu Công.

- Hiện trạng: Di sản văn hóa phi vật thể, múa hát chèo cổ, được các nghệ nhân trong làng từ xa xưa tuyền lại, từ đời này sang đời khác. Cho đến nay đội văn nghệ của làng, thôn vẫn thường xuyên tập luyện các tiết mục, sao cho ngày càng sinh động và sát thực, thể hiện ý nghĩa tầm quan trọng của thế hệ trẻ ngày hôm nay và mãi mãi mai sau, luôn thể hiện lòng yêu quê hương, đất nước.

- Số nghệ nhân hiện có: 25 người; độ tuổi từ 65 tuổi 80 tuổi

Tiêu biểu một số nghệ nhân như:

+ Ông Lê Sỹ Hùng, thôn Liên minh xã Thiệu Công

+ Bà Trịnh Thị Cảnh, thôn Liên minh xã Thiệu Công

+ Bà Trịnh Thị Nam thôn Lợi Thượng, xã Thiệu Công

+ Bà Nguyễn Thị Loan, thôn Nguyên Lý xã Thiệu Nguyên

+ Bà Nguyễn Thị Đạc, thôn Nguyên Thành, xã Thiệu Nguyên

+ Bà Nguyễn Thị Hương, thôn Nguyên Thành, xã Thiệu Nguyên

- Số lượng người thực hành: 50 người

- Số học viên hiện nay: Chưa có các lớp truyền dạy.

- Phương thức truyền dạy: Truyền miệng, trao truyền trong cộng đồng

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành: Nghệ thuật trình diễn dân gian hát chèo là một loại hình kết hợp nhiều thể loại như: kịch, hát, múa được biểu hiện qua lời nói, gọng hát, cách diễn xuất của người diễn viên, kết hợp hài hòa phù hợp với tính cách của từng nhân vật.

Hát chèo là một bộ môn nghệ thuật được phối hợp nhiều loại hình nghệ thuật. Trong những năm sau cách mạng tháng tám năm 1945 nghệ thuật hát chèo ở các xã Thiệu Nguyên, Thiệu Công mới chỉ là thành lập các phường chèo nhỏ lẻ hát tại các đình, nghè trong những ngày lễ tết trong năm, đến những năm thập kỷ 60 và 80 các phường chèo được thành lập thành đội văn nghệ của xã. Từ đó các nghệ nhân được đi tập huấn tại tỉnh về sáng tác các hoạt cảnh và dàn dựng.

Quá trình thực hành, đầu tiên là nắm vững và phân tích được kịch bản, sau đó phân vai cho từng diễn viên để học thuộc, tiếp đến các diễn viên đối lời thoại với nhau và ghép vai diễn với từng cảnh, từng màn của vai diễn sau đó tiến hành ghép nhạc cho từng diễn viên, từng làn điệu, từng màn kịch và toàn vở diễn. Quá trình thực hành được phân ra các kỹ năng khác nhau như:

+ Kỹ năng nói, đối thoại phát âm phải rõ ràng phù hợp với vai diễn và tính cách của nhân vật.

+ Kỹ năng hát: hát phải rõ ràng tròn vành rõ chữ, đúng nhịp, phách cao độ, trường độ

+ Kỹ năng diễn xuất: phải nhập vai và phù hợp tính cách nhân vật

+ Kỹ năng múa: múa phải đúng với làn điệu, phù hợp với lời hát và phải đồng đều

+ Trang phục: phải phù hợp với tính cách nhân vật và của vai diễn.

* Sử dụng các loại nhạc cụ dân tộc.

- Quá trình ra đời: Song song với sự ra đời và phát triển của nghệ thuật hát máu các làn điệu chèo, thì việc sử dụng gìn giữ và phát triển các loại nhạc cụ dân tộc cũng bắt nguồn từ khi mới hình thành các phường hát và cùng đội văn nghệ phục vụ trong các ngày lễ tết tại đình, chùa, nghè trong làng, lúc đó các làn điệu chủ yếu là tự biên, tự diễn, băng nhạc chủ yếu là năng khiếu tự phát chưa được học bài bản.

- Hiện Trạng: Vẫn còn lưu giữ và phát huy giá trị. Số nghệ nhân hiện có: 7 người; độ tuổi từ 60 tuổi đến 70 tuổi

Tiêu biểu như:

+ Ông Nguyễn Văn Thoan, thôn Nguyên Thịnh, xã Thiệu Nguyên

+ Ông Nguyễn Văn Sửu, thôn Nguyên Thịnh, xã Thiệu Nguyên

+ Ông Mai Xuân Quế, thôn Nguyên Thịnh, xã Thiệu Nguyên

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành: Bằng năng khiếu, điêu luyện của các ngón tay sự nhạy bén của tai nghe các nhạc công đã cảm nhận một cách rõ nét về nhịp, phách cao độ, trường độ và giọng của người hát để phối hợp với người hát một cách tốt nhất.

Sử dụng các loại nhạc cụ dân tộc, đầu tiên đòi hỏi phải có năng khiếu, có kỹ năng, có lập trường tư tưởng vững vàng và có đạo đức tốt.

Ban đầu phải làm quen với các loại nhạc cụ, để biết loại nào dùng cho thể loại nào, làn điệu nào, sau đó tiến hành luyện các ngón tay cho thật lưu loát, thuần thục, tiếp theo là đọc nhạc: Chính là làm quen với chữ nhạc, đọc phải như hát, biết đọc các ký hiệu chép nhạc, làm quen với các loại tiết tấu, tập gõ thanh, phách, song loan, trống con.

Luyện cao độ: Đọc đúng tên và đúng nốt nhạc;

Luyện tiết tấu: Gõ đúng tiết tấu của bài hát

Tập đọc từng câu: Đọc nhạc kết hợp với gõ phách

Khi các kỹ năng kia đã thuần thục mới tiến hành hướng dẫn các nốt nhạc trên phím đàn, cách cầm đàn và cách sử dụng dây đàn;

Tiếp theo ghép nhạc vào bài hát, lúc đầu tìm những bài hát dễ để tập, tập từng câu một, thuộc câu này mới chuyển sang câu khác cho đến khi hết bài sau đó ghép toàn bộ bài hát.

* Múa trống cung đình.

- Quá trình ra đời: Ra đời từ xa xưa không ai nhớ rõ mộc thời gian cụ thể, loại hình múa trống cung đình do cộng đồng dân cư thôn Phác Đồng xã Thiệu Thành thực hiện:

- Hiện trạng: Múa trống cung đình, được các cụ cao niên trong làng hướng dẫn cho một số thanh niên và các cô giáo đến nay đội văn nghệ của câu lạc bộ liên thế hệ vẫn còn lưu giữ và tái hiện lại trong dịp tổ chức hội làng.

- Số nghệ nhân hiện có: 20 người; độ tuổi từ 45 tuổi đến 70 tuổi

Tiêu biểu như:

+ Bà Ngô Thị Quy, thôn Thành Đồng, xã Thiệu Thành

+ Bà Mai Thị Oanh, thôn Thành Đồng, xã Thiệu Thành

+ Ông Lê Huy Trọng, thôn Thành Đồng, xã Thiệu Thành

+ Ông Nguyễn Văn Cư, thôn Thành Đồng, xã Thiệu Thành

+ Bà Nguyễn Thị Lý, thôn Thành Đức, xã Thiệu Thành

+ Bà Ngô Thị Phượng, thôn Thành Đức, xã Thiệu Thành

- Số người thực hành: 25 người

- Số học viên hiện nay: 25 người

- Phương thức truyền dạy: Truyền miệng, trào truyền từ người này sang người khác

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành: Múa trống cung đình, đội múa có khoãng 14 đến 16 người vào các vai diễn

Trên sân khấu đội văn nghệ được chia thành 2 hàng đứng 2 bên cánh gà, trống cái da bò đặt trên giá để giữa sân khấu, người đánh trống chỉ huy đội múa theo nhịp trống, múa hoàn toàn bằng nhạc trống, trống chiêng, thanh la, tất cả phải hòa nhịp, các vai diễn múa theo kiểu hài hước trên sân khấu làm cho người xem cảm thấy thích thú.

Múa trống cung đình là màn kịch hài hết sức hấp dẫn đối với người xem, các nhân vật trong vở diễn làm cho người dân có cảm nhận về thần linh xuất hiện để đuổi ác trừ gian phù hộ độ trì cho dân làng được mạnh khỏe và bình an, làm ăn phát đạt.

* Múa đèn chạy chữ.

- Quá trình ra đời: Di sản văn hóa phi vật thể, múa đèn chạy chữ, hát chèo chãi cổ, được các nghệ nhân trong làng từ xa xưa tuyền lại, từ đời này sang đời khác không rõ từ bao giờ. Cho đến nay đội văn nghệ của làng Nhân Cao vẫn thường xuyên tập luyện các tiết mục, sao cho ngày càng sinh động và sát thực, thể hiện ý nghĩa tầm quan trọng của thế hệ trẻ ngày hôm nay và mãi mãi mai sau, luôn thể hiện lòng yêu quê hương, đất nước, lòng thành kính với các vị thành hoàng, tổ tiên đã có công xây dựng và thành lập làng Nhân Cao ngày nay.

- Hiện trạng: Vẫn còn lưu giữ và duy trì tập luyện.

+ Số nghệ nhân hiện có là: 15 người, độ tuổi từ 60 tuổi đến 80 tuổi

Tiêu biểu như:

+ Bà Nguyễn Thị Thủy, làng Nhân Cao, xã Thiệu Quang

+ Ông Nguyễn Đăng Luân, làng Nhân Cao, xã Thiệu Quang

+ Ông Nguyễn Hữu Duyệt, làng Nhân Cao, xã Thiệu Quang

+ Bà Hoàng Thị Lượng, làng Nhân Cao, xã Thiệu Quang

+ Ông Đàm Văn Sừ, làng Nhân Cao, xã Thiệu Quang

- Số lượng người thực hành: 50 người

- Số học viên hiện nay: chưa mở lớp truyền dạy

- Phương pháp truyền dạy: Truyền miệng

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành: Múa đèn chạy chữ, hát chèo chãi cổ, đội hình có 12 cô gái, trang phục như nhau, bên trong mặc áo cánh trắng, váy dài chấm gót chân, bên ngoài mặc áo dài 5 thân, một dãi khăn xanh dài thắt ngang hông, tay cầm quạt, trên đầu đội một dĩa đèn có 7 ngọn nến, khi nhạc lưu thủy nổi lên bắt đầu ra biểu diễn hát, múa và xếp chữ. Được chia thành 2 tiết mục hát chèo chãi cổ và múa đèn chạy chữ:

Tiết mục hát chèo chãi cổ gồm có 4 bài:

- Bài 1: Hát giáo chãi có câu “Kính trình làng nước lẳng lặng mà nghe trống” lời hát trên muốn nói mời các vị quan khách, dân làng tới dự lễ hội.

- Bài 2: Hát múa quạt

Cuối đầu bãi trước thanh minh

Dẫn theo sự tích soạn thành một chương

Câu thơ trên muốn nói trước cung đình phải tôn kính, các vị anh minh.

- Bài 3: Hát chèo thuyền: Thuyền ta mắc cạn rồi đây, xin làng buông lái cầm dây kéo thuyền, vừa chèo thuyền vừa hát xen lẫn các lời hát nói đối thoại như một ca dao.

- Bài 4: Hát giáo chân sào

Bác mẹ nường truyền cả mui cao, cho anh ghé chút chân sào được chăng

Những lời hát chèo chãi cổ trên nhằm ca ngợi công ơn đức thánh cả và thành hoàng làng, cầu cho quốc thái dân an, dân làng được nhân khang, vật thịnh.

Tiết mục múa đèn chạy chữ gồm có 5 phần:

- Múa hát giáo đèn “Đèn tội nay lưu truyền kế thế….thắp đèn rạng cả bốn phương mời tất cả mọi người đến để chứng kiến ngọn đèn đã soi sáng tất cả mọi nơi.

- Hát chúc: Chúc quốc gia trường la, chúc thánh thọ vô cương, chúc thánh đế thọ tăng thêm thọ.

- Hát mới: Hằng nga cung cấu quảng ngân, xin mới nàng xuống giương gian ngự đồng. ý mời các nàng tiên xuống cùng múa hát.

- Hát mừng…..và cuối cùng là múa đèn chạy chữ.

+ Xếp chữ nhất: Hát nói ý nghĩa của xếp chữ nhất

(Nhất như: Nhất tỉnh tiết, nhất đoan trang, nay mừng phúc lộc thọ trường thiên niên…)

+ Xếp chữ Nhị: nhị la Nhị như đồng tâm, nhất như nhị nhị như nhất giả

+ Xếp chữ Tam: Tam là tam cương thống kỷ, nay làng ta mở hội khai xuân

+ Xếp chữ Tứ: Tứ đức là tứ đức tình thâm.

+ Xếp chữ Ngũ: Ngũ là ngũ phúc lâm môn.

Xếp chữ nhất, nhị, tam, tứ và ngũ theo chữ Hán và diễn xuất từng diệu múa chạy theo hình cung, cuối cùng tất cả múa lượn vòng tròn nằm người xuống lật người và lăn đèn kết thành bông hoa 5 cánh từ từ chuyển thành hàng ngang nhìn lên án thờ thành, hai tay nâng đĩa đèn xuống lạy ba lạy rồi đi vào.

Ý nghĩa của múa đèn chạy chữ ca ngợi ánh sáng của ngọn đèn dẫn đường cho thi sỹ, nông, công thương cùng nhau thành đạt, chúc quốc gia hưng thịnh đạt, chúc vua sống lâu, chúc dân làng bình an, đoàn kết trên dưới một lòng giữ gìn nếp sống văn minh tốt đẹp của tổ tiên.

* Đánh bài điếm.

- Qúa trình ra đời: Ra đời từ xa xưa, chưa xác định được thời gian cụ thể được cộng đồng và các tầng lớp nhân dân trong Làng duy trì và tổ chức vào các dịp ngày Lễ, ngày tết hàng năm

+ Hiện trạng: Số lượng nghệ nhân hiện có: 05 người gồm; độ tuổi từ 60 tuổi đến 70 tuổi

+ Ông Lê Tiến Hải, thôn Lam Vỹ, Thiệu Vũ, Thiệu Hóa, Thanh Hóa

+ Ông Lê Đăng Cói, thôn Lam Vỹ, Thiệu Vũ, Thiệu Hóa, Thanh hóa

+ Ông Nguyễn Văn Tú, thôn Lam Đạt, Thiệu Vũ, Thiệu Hóa, Thanh Hóa

+ Ông Lê Tiến Nam, thôn Lam Vỹ, Thiệu Vũ, Thiệu Hóa, Thanh Hóa

+ Ông Nguyễn Văn Nhiên, thôn Lam Đạt, Thiệu Vũ, Thiệu Hóa, Thanh Hóa

- Số lượng người thực hành: 30 người

- Số học viên hiện nay 15 người

- Phương thức truyền dạy: Tiếp thu thực hành trực tiếp qua từng ván bài

+ Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành các sản phẩm vật chất, tinh thần được tạo ra trong quá trình thực hành di sản:

Quân bài có kích cỡ hình chữ nhật, mỗi điếm có một trống con để người đánh bài dùng làm hiệu lệnh.

- Nếu ăn thì gõ vào mặt trống một tiếng “Tung’’

- Không ăn thì gõ vào tang trống một tiếng “Cắc’’

- Nghe chưa rõ thì gõ “ Tung cắc’’

- Phỏng thì gõ “tung tung’’ hai tiếng

- Thập thành thì gõ ba tiếng “tung, tung, tung’’

- Ù thì gõ một hồi vào mặt trống

- Ù liền thì gõ hai hồi vào mặt trống

- Ù liền tam thắng thì gõ ba hội vào mặt trống

Ai ù liền tam thắng thì ban tổ chức thưởng một phần quà. Mở đầu ván bài trung quân rao:

- Trình 5 điếm xong chưa, xin nổi trống lên để tôi đưa cây bài đầu:

- Nếu cả 5 điếm xong rồi thì chung cả 5 điếm đều gõ một hồi trống, trường hợp có điếm chưa xong thì các điếm khác đã xong nổi trống ngũ liên để thúc dục

- Khi tất cả các điếm đã xong thì trung quân lấy cây bài đầu của điếm các và rao

- Bốn điếm xong rồi ngài ra cây này là cây bát sách

- Nếu có điếm nào ăn thì họ gõ “Tung’’ người trung quân sẽ đem cho điếm đó, còn nếu đều gõ “cắc’’ thì trung quân rút bài nọc lên rao:

- Bốn điếm không xơi ngỏ nọc cây này là cây mất khăn “ nghe chư rõ’’

- Nếu có tiếng gõ “tung cắc’’ thì trung quân rao lại

- Mất khách là thất văn

Khi ăn khi phõng cứ thế diễn ra cho hết ván bài. Bài điếm có cái hay, cái hấp dẫn được người xem là ở người hát trung Quân ( người chạy bài ) người này phải có tài ứng đáp, không nói thực tên cây bài, mà dùng hình ảnh, đặc điểm của cây bài ấy vận ngay một câu thơ lục bát dí dỏm để hát lên ví dụ như : Nếu bắt được cây nhị vạn thì trung quân hát lên rằng :

“ Trước sau nào thấy bóng người

Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông’’

Ngài ra cây này là cây nhị vạn

Hoặc khi bốc nọc lên được cây ngũ sách, không xướng ngũ sách mà hát rằng:

“ Buồn trông cửa bể chiều hôm

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa’’ sau đó mới xướng

Hay ngõ nọc cây này là cây ngũ sách, hay khi bốc nọc lên trung quân hát

“ Người ta cầm cuốc cuốc vào

Còn anh thi lại cầm cào cào ra’’

Ngài phõng cây này là cây “lục vạn’’

Nếu có tiếng gõ “tung cắc’’ thì trung quân nhắc lại “Lục vạn’’

Kết thúc mỗi ván bài điếm nào thắng thi ghi lại, hết một ngày ai ù nhiều thì có phần thưởng của ban tổ chức

- Các sản phẩm vật chất, tinh thần được tạo ra trong quá trình thực hành di sản văn hóa phi vật thể:

Đây là một trò chơi lành mạnh trong các ngày tết, hoặc Lễ hội nó thu hút được đông đảo mọi tầng lớp nhân dân đến xem

- Không gian văn hóa liên quan:

Đây là trò chơi ngoài trời vì vây đòi hỏi ban tổ chức phải tổ chức phải có loa đài phục vụ, băng zôn tuyên truyền, công tác bảo vệ an ninh trật tự

* Hát Chầu Văn.

- Quá trình ra đời: Ra đời từ xa xưa, chưa xác định được thời gian thực hiện.

- Hiện trạng: Số lượng nghệ nhân hiện có: 05 người; độ tuổi từ 55 tuổi đến 80 tuổi

Tiêu biểu:

+ Ông Thiều Đàm, thôn Phác Đồng, xã Thiệu Công.

+ Bà Trần Thị Lâm, thôn Thành Hưng, xã Thiệu Công.

+ Bà Thiều Thị Trường, thôn Phác Đồng, xã Thiệu Công.

+ Bà Nguyễn Thị Duyên, thôn Phác Đồng, xã Thiệu Công.

+ Bà Thiều Thị Hòa, thôn Phác Đồng, xã Thiệu Công.

- Số lượng người thực hành: 16 người.

- Các nguồn lực khác tham gia bảo vệ: 50 người

- Phương thức truyền dạy: Truyền miệng

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành các sản phẩm vật chất, tinh thần được tạo ra trong quá trình thực hành nghệ thuật trình diễn dân gian hát Chầu Văn:

Hát Chầu Văn có từ xa xưa từ việc thờ Thánh Mẫu. Để cho dễ nhớ người dân đã chuyển thể sang những bài văn lục bát, sau này thành những lời ca trong điệu Chầu Văn. Hát Chầu Văn thường là hát đơn, chỉ là một người hát được sử dụng trong các cuộc thi hát và diễn văn nghệ ở thôn Phác Đồng, Thành Hưng, Lợi Thượng, Xuân Quan xã Thiệu Công.

Lời hát trong hát Chầu Văn được phổ từ thơ ca dân gian, đôi khi vay mượn trong cả các tác phẩm văn học và thường theo thể lục bát. Các bài Chầu văn thường sắp xếp như một câu chuyện để ca ngợi Đảng, quê hương đất nước, con người đồng đất Thiệu Công “ Quê ta ơn Đảng, Phác Đồng đổi mới”. Bởi vậy giai điệu Chầu Văn có một sức quyến rũ đặc biệt. Dập dìu trên nền nhịp phách, lúc ẩn lúc hiện, nhiều làn điệu mang đậm tính trữ tình, như dáng vẻ của những gì ngọt ngào, mềm mại, thân thương đi vào lòng người dân quê hương.

Hiện nay các bài hát Chầu Văn tiếp tục được lưu giữ và trình diễn, được nhân dân Phác Đồng, thành Hưng, Lợi Thượng, Xuân Quan xã Thiệu Công sử dụng trong các cuộc thi văn nghệ ở thôn, xã đặc biệt là trong các cuộc sinh hoạt văn nghệ ở các câu lạc bộ Người cao tuổi, hội phụ nữ, hội nông dân.

* Hát đối.

- Qúa trình ra đời: Ra đời từ xa xưa, chưa xác định được thời gian thực hiện.

- Hiện trạng:

+ Số lượng nghệ nhân hiện có: 04 người; độ tuổi từ 60 tuổi đến 70 tuổi

Tiêu biểu như:

1. Bà:Thiều Thị Quạt, thôn Phác Đồng, xã Thiệu Công.

2. Bà: Lê Thị Nhẫn, thôn Thành Hưng, xã Thiệu Công.

3. Bà: Nguyễn Thị Duyên, thôn Phác Đồng, xã Thiệu Công.

4. Bà: Nguyễn Thị Xuân , thôn Thành Hưng, xã Thiệu Công.

Do người dân lao động ở quê vốn có cuộc sống vất vả, quanh năm suốt tháng lúc nào họ cũng ra đồng cấy cày. Chính trong hoàn cảnh đó để cho tâm hồn được thoải mái xua đi những vất vả mệt nhọc, người dân ở đây đã sáng tạo ra hình thức sinh hoạt nghệ thuật đối đáp.

Mở đầu lời hát đối đáp có thể là người con gái hoặc người con trai tùy vào nội dung của lời hát đối đáp. Chủ yếu liên quan đến công việc đồng áng của họ như “khay ngô đồng, bầu rượu, trầu cánh phượng”. Thường thì người con trai đáp lại lời người nữ để dò ý của đối phương xem có đồng ý hay không. Hai người hỏi qua đáp lại khi đã tâm đầu ý hợp thì bài hát đối đáp đó kết thúc.

Khi đêm đã khuya, tuy tình chưa cạn, lời chưa hết nhưng cuộc hát cũng phải chuyển sang hát thề, hát tiễn:

“ Em về thưa với mẹ thầy

Có cho anh cưới tháng này anh lo

Anh về nuôi lợn cho to

Trầu cau sắm đủ, thầy me cho cưới liền”

Qua những cuộc hát đối đáp nam nữ, qua những câu giao duyên, nhiều đôi trai tài gái sắc có dịp làm quen, thử tài nhau, cảm mến nhau rồi yêu thương, nên vợ nên chồng.

1.2. Lễ hội truyền thống: Số lượng 4 di sản.

* Hội làng truyền thống.

- Quá trình ra đời: Lễ hội làng truyền thống ở các làng, xã trên địa bàn huyện Thiệu Hóa phần lớn ra đời từ khi nào ít người biết đến; nếu có biết cũng chỉ là ước khoảng thời gian như: lễ hội làng truyền thống xã Thiệu Trung vào khoảng thế kỷ thứ 14; lễ hội làng Bái Giao xã Thiệu Giao có khoảng vào thời Lý, Trần. Hiện nay, các lễ hội làng truyền thống trên địa bàn toàn huyện đều được sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, Chính quyền địa phương, sự đồng tình ủng hộ của nhân dân nhằm giữ gìn, phát huy và duy trì tổ chức hằng năm, tồn tại ở một số xã như: Thiệu Châu, Thiệu Giang, Thiệu Duy, Thiệu Giao, Thiệu Trung.

- Hiện trạng: Phần lớn các lễ hội vẫn được giữ gìn bào tồn và phát huy tốt giá trị.

+ Số lượng nghệ nhân hiện có: 50 người, độ tuổi từ 50 tuổi đến 80 tuổi

Tiêu biểu một số người như:

+ Phạm Huy Nông, thôn 1, xã Thiệu Trung

+ Nguyễn Xuân Đoái, thôn 4, xã Thiệu Trung

+ Lê Văn Hãn, thôn 5, xã Thiệu Trung

+ Trần Thị Lư, thôn 4, xã Thiệu Trung

+ Lê Đình Dong, thôn 4 làng Bái Giao, Thiệu Giao

+ Lê Đình Bùi, thôn 1 làng Bái Giao, Thiệu Giao

+ Hàn Xuân Nhơn, làng Đa Lọc, xã Thiệu Giang

+ Hàn Xuân Ngọn, làng Đa Lọc, xã Thiệu Giang

+ Lê Chính Suất, làng Đường Thôn, xã Thiệu Giang

+ Lê Thị Thủa, làng Đường Thôn, xã Thiệu Giang

+ Lê Thế Dực, làng Đường Thôn, xã Thiệu Giang

+ Lê Đăng Khanh, thôn Sơn Thịnh, xã Thiệu Châu

+ Nguyễn Trọng Phú, thôn Châu Ngọc, xã Thiệu Châu

+ Lê Trọng Trường, thôn Châu Sơn, xã Thiệu Châu

+ Phùng Bá Thạnh, thôn Châu Ngọc, xã Thiệu Châu

+ Nguyễn Trọng Quân, thôn Châu Ngọc, xã Thiệu Châu

+ Lê Như Ượm, thôn Khánh Hội, xã Thiệu Duy

+ Lê Như Vượng, thôn Khánh Hội, xã Thiệu Duy

+ Lê Thế Phớt, thôn Khánh Hội, xã Thiệu Duy

- Số lượng người thực hành: 60 người

- Số học viên hiện nay: Chưa mở lớp

- Phương thức truyền dạy: Trao truyền trong cộng đồng

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành hội làng truyền thống xã Thiệu Trung: Hàng năm khi mùa xuân đến, cũng là lúc nông nhàn, nhân dân nơi đây lại náo nức chuẩn bị cho lễ hội làng mùng 10 tháng 2 âm lịch, một lễ hội làm ấm tình làng nghĩa xóm. Dưới thời phong kiến, các triều đại Đinh – Lê - Lý tôn sùng đạo phật thì ở địa phương cũng đã xuất hiện chùa thờ Phật. Chứng tỏ rằng Đạo Phật cũng đã du nhập và phát triển ở đây. Đến triều Trần một triều đại luôn chú ý đến việc học hành, chọn hiền tài theo giáo lý nho học thì vùng Kẻ Dị - Kẻ Chè này có Lê Văn Hưu, cháu đời thứ 7 của bộc xạ tướng công Lê Lương mở đầu cho học đạo nho, đỗ bản nhãn khoa Đinh Mùi (1247) đã mỡ đầu cho truyền thống hiếu học thi cử ở Thiệu Trung nói riêng và Thanh Hoá nói chung. Một vùng quê văn hiến có chùa Hương Nghiêm cổ kính, đền thờ Khổng Minh Không, ông tổ của nghề đúc đồng. Nơi đây cũng có nhiều hiền tài đi theo con đường nho học đổ đạt trong các khoa thi. Thiệu Trung từ xa xưa đã là vùng đất trù phú là trung tâm văn hoá, kinh tế của một vùng, nền văn hoá Đạo Phật, Đạo nho cùng song song phát triển. Đạo Phật có chùa thờ Phật, Đạo nho có đình thờ thành hoàng, thờ các danh tướng có công. Quê hương Kẻ Dị - Kẻ Chè xưa và Thiệu Trung ngày nay, vào thế kỷ thứ XIV có trạng nguyên Đào Tiêu có công, khi qua đời có phong phúc thần, dân làng lập đình thờ ông trước chùa Hương Nghiêm, tên gọi Đình Cả có bài vị sắc phong. Không chỉ vậy nơi đây còn có các miếu.

Miếu nhị thờ Thiên Phúc Phủ quân thần vị

Miếu tam thờ Đại Hành Phủ thần thần vị

Miếu tứ thờ Thái Tổ Phủ thần thần vị

Miếu Ngũ thờ Lão Phu Bạch Y Mẫu nhi thiên hạ

Miếu Trà Đông thờ Thiều Sỹ Quốc Nam triều vương quốc

Các miếu thờ trước đây đều có sắc phong, do biến thiên của lịch sử nên các sắc phong và miếu thờ không còn nữa chỉ còn các địa danh, riêng địa danh chùa Hương Nghiêm vẫn còn tồn tại. Các địa danh như quán học - Phản ánh nền học hành ngày xưa khi nho giáo gắn liền với khoa cử; Bàn hát - Thể hiện đời sống tinh thần ở làng xã thường diễn ra trong các lễ hội đầu xuân. Từ hai minh chứng trên cho thấy rằng quê hương Thiệu Trung có Đạo phật, Đạo nho cùng phát triển, một quê hương có nhiều danh nho võ tướng, việc thờ thần ở các đình miếu nhất định phát triển và trở thành lễ hội truyền thống mùng 10 tháng 2 hàng năm có từ thế kỷ thứ XIV khi làng xã có đền thờ các vị thành Hoàng.

Việc tổ chức lễ hội do các vị chức sắc trong làng, xã chủ trì được thực hiện trang nghiêm, có kiệu rước bài vị, có sắc phong của các vị thành hoàng về Đình Cả (nơi thờ Đào Tiêu - trước chùa Hương Nghiêm). Bài vị sắc phong được đặt theo ngôi thứ tại Đình Cả, tổ chức tế lễ trong ba ngày, trong tế lễ có hầu đồng, hát văn, hát trúc. Ngoài tế lễ còn có các trò chơi, trò diễn như đánh cờ người, đánh bài điếm, đánh đu, kéo co, nhảy dây, múa lân... Ca hát gồm có: Hát gẹo, hát ả đầu..... hết hội các thành Hoàng được kiệu rước về làng.

Lễ hội truyền thống mùng 10 tháng 2 là lễ hội tế thần tập chung, tỏ lòng biết ơn các vị thần, các bậc danh nhân có công với nước. Lễ hội làng nơi đây không phải tổ chức ở một làng, một thôn, mà được tổ chức trong toàn xã. Có ban tổ chức lên kế hoạch cụ thể và được chính quyền huyện, tỉnh chấp nhận. Ban tổ chức của lễ hội thường là những cán bộ xã và những người cao tuổi, trưởng thôn, bí thư của các thôn trong xã. Lễ hội truyền thống của xã được tổ chức tại sân chùa Hương Nghiêm nơi thờ các phật, trong có đền thờ nhà sử học Lê Văn Hưu, trước chùa là bàn thờ Đào Tiêu - Một trạng nguyên có công với nước.

Phần lễ:

Lễ hội làng truyền thống của xã được tổ chức trong ba ngày liên tiếp (từ ngày mùng 9 tháng 2 đến 11 tháng 2 âm lịch). Trong đó phần lễ bao gồm rước kiệu, múa lân, tế lễ. Trong buổi sáng ngày đầu tiên, kiệu của các thôn được rước từ đình làng hay nhà văn hoá của mỗi thôn (6 thôn của xã thì mỗi thôn có một đội rước kiệu và một đội tế lễ) về Đình Cả. Để có một đội rước kiệu, tế lễ đẹp, nhân dân trong xã phải chuẩn bị rất kỷ lưỡng từ đầu tháng riêng.

Các nghi thức chuẩn bị:

Phần lễ là một hệ thống các nghi thức, nhằm biểu hiện sự tôn kính của cộng đồng đối với các vị thần. Nó phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước những khó khăn gian khổ của cuộc sống mà bản thân họ không có khả năng khắc phục, cần phải có sự giúp đở của các vị thần linh. Tế lễ là nghi thức mời thần linh về, hiến dâng lễ vật cho thần linh và cầu xin thần linh ban phúc lộc và sự bình yên cho dân làng. Sau khi kết thúc lễ hội còn có các nghi thức cảm tạ thần linh. Lễ hội là nơi bày tỏ khát vọng được ấm no, an bình và thịnh vượng. Do đó các nghi thức tiến hành phải được cân nhắc kỷ lưỡng, đầu tiên là việc chọn nhân sự.

- Chuẩn bị nhân sự:

+ Ban nghi lễ: Quan trọng nhất là việc lựa chọn chủ tế hay còn gọi là cai đám. Người chủ tế là người điều hành toàn bộ công việc tế tự của lễ hội, sự thành công hay không của lể hội phụ thuộc vào tài trí và sự khéo léo của chủ tế. Sự thành công hay không là ảnh hưởng tới sự yên ổn, thịnh vượng của cả làng trong năm đó, cho nên dân làng chọn chủ tế rất cẩn thận và nghiêm khắc. Có ba tiêu chuẩn để chọn: Một là người có học vấn cao, có uy tín thuộc gia đình nề nếp, vợ chồng con cái hoà thuận; Hai là chủ tế phải là người cao tuổi trong làng; Ba là gia đình không có tang. Ngoài ra còn có một số yêu cầu khác như: Ngoại hình phải cân đối, khoẻ mạnh, là dân chính cư, hiền lành chân thật, được dân làng yêu quý. Những người đạt tiêu chuẩn được dân làng bầu ra rất vinh dự và từ hào, nhưng trách nhiệm cũng rất nặng nề vì cái phước của chủ tế tốt hay xấu đều ảnh hưởng đến vận may rủi của làng.

Một vấn đề không kém phần quan trọng là người viết văn cũng có những tiêu chuẩn giống chủ tế, đặc biệt về mặt học vấn phải đạt trình độ uyên thâm (Thường là các nhà nho).

Ngoài hai nhân vật trên để thực hành các hoạt động tế lễ còn phải chọn những người phục vụ gồm: Hai người bồi tế có nhiệm vụ đứng sau chủ tế trông và làm theo chủ tế; Hai người Đông xướng và Tây xướng đứng cạnh hương án để xướng lễ, đặc biệt là vai trò điều khiển các bước của Đông xướng, hai người nội tán đứng cạnh Đông xướng và Tây xướng để rước nến, khay rượu... Người đọc văn phải là người có học vấn, có chất giọng to truyền cảm. Những người này tuy không cần đạt tiêu chuẩn cao như chủ tế và người viết văn nhưng cũng phải đạt các yêu cầu sau: Gia đình không có tang, bố mẹ song toàn, con cái đông đủ và hạnh phúc, bản thân phải khoẻ mạnh, nhanh nhẹn, được dân làng quý mến.

+ Đoàn rước kiệu gồm tám người có nhiệm vụ khiêng kiệu đón về Đình Cả. Trong đó bốn người khiêng kiệu (do đặc điểm kiệu nơi đây không cồng kềnh và cũng không quá nặng nên chỉ cần bốn người khiêng), bốn người còn lại đội lễ vật dâng thần.

+ Ban nhạc gồm có năm người, đó là những người có thâm niên đánh trống, chiêng, thổi sáo, kéo nhị, đánh đàn... trong các “Hội hè đình đám” của làng xã, ban nhạc thường do ban tổ chức chọn ra.

Những người tham gia tế lễ nếu tham gia lần đầu thì sẽ tập tỉ mỉ trong thời gian dài, nếu đã tham gia trong một hoặc hai năm rồi thì chỉ cần tập trong thời gian nữa tháng. Tất cả điều tập tự giác và trước ngày tế thường tế thử một lần để hạn chế những sai sót và giúp cho những ngày tế chính được thành công.

- Chuẩn bị lễ vật và đồ lễ:

+ Lễ vật chính của các buổi tế lễ thường rất linh đình gồm: Xôi, thịt, trầu, cau, rượu, chè, vàng hương, chuối, oản... Xôi được nấu từ những hạt nếp thơm mẩy hạt thường được đơm vào các mâm đồng hoặc mâm nhôm, thịt có thôn chọn thịt gà có thôn chọn thịt lợn, trầu phải là trầu quế, cau phải vừa hạt...

+ Đồ dùng phục vụ tế lễ bao gồm: Lư hương, giá đựng bản văn, một bàn Đông xướng, một bàn Tây xướng. Bên bàn của Đông xướng có thêm một chậu rửa tay một khăn lau tay của chánh tế và hai người dâng hương (phải rửa tay trước khi dâng hương) một bộ chén để dâng rượu...

Ngoài ra trước khi tế người ta còn chuẩn bị về trang phục, quét dọn đình và các khu tế tự khác đặc biệt là các bài vị bát biểu đồ thờ... Như vậy, để tế lễ việc chuẩn bị rất được coi trọng và diễn ra khá nghiêm ngặt với hy vọng sẽ góp phần đưa lễ hội diễn ra suôi sẻ thành công, cùng với sự chuẩn bị trên nhân dân trong làng cũng mặc quần áo chỉnh tề, từ già tới trẻ ai cũng náo nức ra đình tham gia và chiêm ngưỡng không khí náo niệt thiêng liêng của lễ hội.

- Rước kiệu và tế lễ:

- Rước kiệu:

Rước kiệu diễn ra vào buổi sáng đầu tiên trong ba ngày lễ và được chọn vào giờ hoàng đạo. Các thôn rước kiệu từ đình làng, nhà văn hoá của mỗi thôn đến Đình Cả của xã. Trong kiệu gồm bài vị, một ít lễ vật (vàng, hương, trầu, rượu, hoa quả...) kiệu có lọng che và được trang trí đẹp đẽ có sơn son thiếp vàng.

Do việc thờ cúng các thần trong làng xã được tổ chức thường xuyên ở nhà thờ chung, đền, miếu, phủ, nghè, cho nên đến ngày tế lễ các làng phải tổ chức thần vị từ các nơi đó về Đình Cả và đến khi dã đám thì được rước “ Hoàng cung” (đưa thần vị về chỗ cũ). Kiệu là biểu trưng cho vị thần hoặc thánh trong lễ hội. Trong buổi rước kiệu cũng như tế lễ tất cả mọi người tham gia đón rước phải ăn mặc chỉnh tề, trong đó đội rước có trang phục riêng sẵn sàng vào cuộc rước, theo hiệu trống của người đánh trống cái, khi rước kiệu ở các nơi vào đến cổng Đình Cả, các kiệu phải quan xát và chờ nhau sắp xếp theo thứ tự. Kiệu rước được đặt ở sân đình, còn các lễ vật tế thần sẽ được mang vào trong các bàn thờ thành Hoàng, bàn thờ phật để tổ chức tế. Sau khi tế xong sẽ làm lễ tiễn thần về vị trí cũ.

Lễ rước kiệu thực sự là sự chuyển dịch thần vị một cách long trọng tự địa điểm này sang địa điểm khác, sự “điều động” thần linh đi dạo quanh làng xã, quan sát tình hình của nhân dân có được ấm no hạnh phúc hay không dưới sự phù hộ độ trì của thần. Trong lễ hội, lễ rước là thành phần chính giúp cho lễ hội thể hiện được chức năng xã hội của mình cuộc rước đó sẽ làm cho uy nghi của các vị thành hoàng linh thiêng hơn, gắn bó hơn với dân làng như một bộ phận hữu cơ. Đồng thời lễ rước trong hội làng còn là dịp để biểu dương, khẳng định sức mạnh cố kết cộng đồng làng xã từ đó đem lại cho dân làng lòng tự hào và yêu quý quê hương làng xóm của mình hơn. Ngoài ra qua đám rước các thành viên trong làng trở nên gần gũi thân thiết với nhau hơn.

- Tế lễ:

Tế lễ diễn ra sau khi đã hoàn chỉnh tất cả các nghi thức trên. Lúc này ở Đình Cả đã có đầy đủ các yếu tố của một buổi lễ như thần vị, văn tế, lễ vật tế, nhân sự tham gia tế lễ (một đội tế thường là mười ba người mà toàn bộ là nữ). Đây là lễ tế tiến vật phẩm dâng thần là dịp dân làng chúc tụng và bầy tỏ lòng biết ơn các đấng thần linh đã che trở phù hộ độ trì cho nhân dân. Trong buổi tế trước bàn thờ các vị thành Hoàng cũng là sân chính của chùa Hương Nghiêm thường trải bốn chiếu: Một chiếu thần, một chiếu chủ tế và hai chiếu bồi tế. Buổi tế của mỗi thôn trãi qua khoảng năm mươi lần xướng lạy kể từ câu đầu tiên “chấp sự gia các tư kỳ sự” cho tới câu cuối cùng là “Lễ tất” thì buổi tế của thôn đó hoàn thành. Các thôn trong xã theo thứ tự bắt thăm rồi lần lượt tế từ buổi khai hội đến buổi kết thúc hội, mỗi thôn sẽ tế trong một buổi. Còn các trò chơi trong phần hội sẽ được tổ chức kết hợp trong ba ngày lễ hội.

Trong tế lễ chủ tế đóng vai trò trung tâm, nhưng người dẫn dắt điều khiển cuộc tế lại là Đông xướng và Tây xướng. Chủ tế và các tế viên đều đội khăn xếp, mặc áo dài có thắt đai, đi hài, đứng xếp hàng hai bên chiếu chuẩn bị bước vào buổi tế. Các bài tế thường do các cụ già biết chữ nho trong làng soạn ra và dựa vào các bài tế của các thế hệ trước.

Buổi tế của các thôn trong xã gồm các thao tác sau:

Bất đầu Đông xướng xướng: “Chấp sự các gia cát sự kì sư” Tất cả các tế viên ai được ứng cử làm gì thì sẽ vào vị trí và chú ý việc ấy. sau đó Đông xướng lại xướng liên tục. “Khởi chinh cổ” hai chấp sự vào hai bên cạnh giá trống, giá chiêng. Một người đánh ba hồi chiêng trước sau đó người kia đánh ba hồi trống (theo ba hồi sáu tiếng). Cuối cùng hai người đánh ba tiếng nữa.

Nhạc tác! Ban nhạc chuẩn bị.

Nhạc công! Ban nhạc đánh trống.

Nhạc nhi! Điểm trống.

Chủ soái lễ vật! hai người chấp sự một người cầm cây nến người kia bưng cái để cắm hương dẫn chủ tế vào hậu cung xem xét lễ vật có sơ xuất gì không, chỉnh sửa cho nghiêm trang rồi trở ra.

Bồi tế tựu vị! Chủ tế và những người chấp sự đến chỗ chậu nước và hương án, chỗ cái kỷ rửa và lau khô tay.

Chủ tế tựu vị! Chủ tế bước vào chính giữa.

Phần hương! Một người chấp sự bưng lư hương và một người nữa bưng hộp hương trầm đem đến trước mặt chủ tế. Chủ tế lấy gói trầm bỏ vào lư rồi cầm cái lư, dâng lên vái một vái sau đó đưa lại cho chấp sự.

Thượng hương! Người chấp sự bưng lư hương đặt lên hương án ở giữa, sau lùi xuống vái một vái rồi cả hai chấp sự lui về chỗ cũ.

Nghinh lễ cúc cung bái! Chủ tế và bồi tế vái bốn vái.

Tây hướng: Hưng! Tất cả đều đứng lên.

Sau đó Đông hướng lại tiếp tục Xướng: “Hành sơ lễ nghệ tửu tôn sơ!” Hai bên Đông - Tây mở khăn đậy đài rượu, hai chấp sự bưng khay đạy đài rượu, tiến vào đứng bên cạnh chủ tế.

Lễ hội đại vương tôn thần vị tiền! Chủ tế cùng một người dâng tế văn, một người đọc chúc văn tiến lên chiếu trên.

Qụy quai qụy! Cả ba người cùng hai bồi tế quỳ xuống.

Chuyển chúc! Người dâng chúc chuyển lại cho chủ tế, chủ tế đở và dâng lên vái thần.

Chuyển đọc! Chủ tế chuyển chúc cho người đọc.

Đọc chúc! Người đọc chúc đọc hết bài sau đó vái chuyển lại cho chủ tế, chủ tế chuyển lại cho người dâng chúc. Người đọc chúc và dâng chúc vái, đứng lên người dâng chúc đưa chúc văn lên hương án sau dó tiến xuống cùng người đọc chúc lui ra.

Phủ phục! Chủ tế và bồi tế phủ phục.

Tây xướng: Hưng! Ba người đứng lên.

Đông xướng: Bình thân phụ vị, chủ tế về chiếu dưới.

Tiếp sau đó, sẽ tổ chức một lần dâng rượu tiếp theo, với thứ tự lần lượt như phần đầu trước phần đọc văn. Tuần rượu sau sưng là: “Á hiền lễ ”. Dẫn rượu lần này song, chủ tế sẽ được uống một ly rượu, gọi là “Thụ tộ” với ý nghĩa là thần ban phước lộc thì chủ tế phải uống hết ngay. Sau đó còn một số bước:

Đông xướng: Tạ lễ cúc cung bái! Chủ tế bồi tế vái bốn vái.

Tây xướng: Hưng! Ba người thôi bái...

Đông xướng: Lễ tất! Chủ tế và bồi tế vái ba vái rồi lui ra. Cuộc tế lễ kết thúc.

Như vậy nghi thức của phần tế lễ được tổ chức chặt chẽ và diễn ra theo trình tự, trở thành những nghi thức chung bắt buộc trong mỗi lần lễ hội.

- Phần hội:

Phần hội trong lễ hội làng truyền thống của xã Thiệu Trung có một điều đặc biệt khác với hội làng ở các vùng quê khác. Đó là phần hội nơi đây được tổ chức đan xen với phần lễ (kết thúc phần lễ của mỗi thôn là một số trò chơi được tổ chức) chứ không tổ chức khi phần lễ đã kép lại. Chính điều này đã tránh được sự đơn điệu, buồn tẻ của phần tế lễ, tạo không khí phấn khởi trong nhân dân.

Hội là những hoạt động phóng khoáng, sôi nổi diễn ra chủ yếu ở sân đình hoặc sân bãi rộng. Có thể nói đến với hội là đến với niềm tin và hy vọng. Tất cả mọi người có quyền tham dự trước sự cổ vũ của dân làng.

Các trò chơi trong phần hội thường được gọi là “trò bách huý” đây là phần sôi nổi nhất của lễ hội. Mỗi trò chơi thường có treo giải thưởng. Tuy giá trị giải thưởng của mỗi trò chơi không đáng bao nhiêu nhưng điều quan trọng là đều đem lại cho họ niềm vui. Hội làng của xã tổ chức linh đình với các trò chơi truyền thống. Ban ngày thì đánh cờ bàn, đánh cờ người, bắt trạch trong chum, thi nấu cơm nồi đất, kéo co, nhảy dây, nhảy bì ném bóng… Ban đêm thì tổ chức giao lưu văn nghệ, hát chèo… Các trò chơi dân gian thường thu hút đông đảo nhân dân hơn phần lễ vì nó không cấm kỵ. Chẳng hạn như trò chơi cờ bãi, cờ bàn. Đối tượng tham gia chủ yếu là các nam thanh niên và những người đàn ông trung niên không phân biệt độ tuổi mà trong mỗi thôn ở từng nước đi cờ của đội mình đều có sự bàn bạc với nhau. Riêng trò chơi kéo co là sôi động hơn cả, thu hút đông đảo nhân dân đứng xem nhất. Trong đó có kéo co Nam và kéo co Nữ, 6 thôn mỗi thôn có một đội gồm 12 người thi đấu vòng tròn một lượt rồi phân giải theo nhất nhì và ba. Ở trò chơi thi nấu cơm nồi đất thì số lượng người ít hơn. Mỗi đội chơi có 3 người, nồi đất được lồng vào một chiếc giắng có đòn do 2 người khiêng, một bó đuốc dài đốt cháy do một người cầm di động theo vòng nấu ở dưới nồi đất, cứ theo vòng tròn cho tới khi thời gian thi 5 phút, đội nào cơm chín đều, dẻo, thơm ngon thì đội đó nhất. Trò chơi này cũng thu hút được đông đảo người xem. Các trò chơi khác như trò nhảy dây, nhảy bì ném bóng… cũng thu hút người xem không kém.

Riêng đêm giao lưu văn nghệ mùng 10 tháng 2 mỗi đội có 2 tiết mục văn nghệ, các nhà trường, các đoàn thể cũng có những tiết mục góp vui. Trong đêm giao lưu văn nghệ nhân dân trong xã đã thể hiện được lòng biết ơn Đảng, biết ơn Bác Hồ, tình yêu quê hương đất nước qua những lời ca tiếng hát.

Khi đội chơi đã đủ người, ai không trong đội chơi thì đứng ngoài cổ vũ nhiệt tình cho đội mình. Và những người không trong đội hát múa thì đứng xem khích lệ tinh thần cho người chơi, làm cho hội làng thêm náo nhiệt và hứng khởi góp phần củng cố sợi dây đoàn kết giữa các thành viên.

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành hội làng Bái Giao: Lễ hội làng Bái Giao được biểu hiện trong toàn thể cộng đồng dân cư, cứ vào dịp lễ hội, dù làm ăn, sinh sống ở đâu những người con quê hương làng Bái Giao điều trở về quê hương tham gia lễ hội.

Trong không khí rộn ràng náo nhiệt và thiêng liêng của lễ hội, tình cảm gắn bó, gắn kết cộng đồng càng trở nên khăng khiết hơn.

Theo lệ xưa thì lễ hội hàng năm được mở hội thu nhị kỳ (một năm một kỳ) vào ngày 10/3 và 10/9 âm lịch hàng năm. Ngoài ra làng còn có lễ kỵ, chung vào ngày 10 tháng Giêng. Trong lễ hội được chia thành 2 phần gồm phần lễ và phần hội.

Phần Lễ:

- Lễ rước kiệu: Trong lễ rước kiệu các quân kiệu là những thanh nam khỏe mạnh, trang phục chỉnh tề, có đội nhạc, kèn, bat âm . rước thần làng từ nghè, miếu, đền về đình làng để làm lễ tế thần. Kiệu ở nghè miếu Cả được đi trước, các kiệu còn lại đi sau. Ngoài ra, còn rước văn chúc và cỗ soạn gọi là lễ vật chúng tế.

- Lễ tế: Được tiến hành sau khi lễ rước kiệu về đình làng. Những người trong ban hành tế gồm: Chủ tế; Hai bồi tế, Đông xướng và Tây xướng; Chủ văn (gọi là đọc trúc) và 8 người dẫn rượu. Cuộc tế do người Đông xướng chỉ huy, hiệu lệnh được bắt đầu từ khi khởi chiêng cổ đến khi nào Đông xướng hô lễ tất thì cuộc tế mới song.

Những người trong ban hành lễ được làng văn chọn rất kỹ, có quy định chức sắc, thứ tự trong làng.

Những người được chọn vào chủ tế phải là những người được dân làng tín nhiệm, ngoài ra còn có chức sắc coa nhất trong làng chọn theo đạo (tam cương, ngũ thường). Trong phần lễ làng còn tổ chức trò tế nữ quan của làng, đội tế nữ quan là những người thanh tân nữ tú trong làng.

Phần Hội: Trong những ngày diễn ra lễ hội ngoài các phần nghi thức lễ ra, nhân dân trong làng còn tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, TDTT, hát trò hội, các trò chơi dân gian như: đấu vật, đốt pháo bông, múa rồng … được diễn ra sôi nổi.

Lễ hội làng Bái Giao là mốn ăn tinh thần của nhân dân trong làng, mang lại ý nghĩa phục vụ đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân trong làng, ca ngợi công lao các vị thần đã có công xây dựng thành lập làng, mọi người dân trong làng đều phải cung kính tôn thờ, cầu cho quốc thái dân an, nhân dân trong làng đoàn két xây dựng làng ngày càng giàu đẹp và thể hiện lòng yêu quê hương, đất nước, con người, xây dựng làng trở thành làng văn hóa kiểu mẫu góp phần xây dựng quê hương, xây dựng nông thôn mới.

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành hội làng Đa Lọc: Lễ hội Làng Đa Lọc là lễ hội truyền thống của cộng đồng dân cư làng Đa Lọc chỉ diễn ra tại làng Đa Lọc xã Thiệu Giang, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa

Đối với người Đa Lọc họ quan niệm, đất đai, nhà cửa họ sinh sống, sự bình an trong thôn làng đều là do có thần linh giúp đỡ, họ biết ơn các vị thần muốn tỏ lòng thành kính, chính quan niệm và tín ngưỡng đó thể hiện rõ trong lễ hội làng. Lễ hội làng diễn ra vào đầu xuân, chính hội vào ngày 15/1 Âm lịch hàng năm và kéo dài trong suốt cả mùa xuân. Lễ hội này từ xa xưa tới nay không chỉ người dân trong làng mà con em làng Đa Lọc dù đi đâu vẫn nhớ về.

Lễ hội diễn ra với 4 phần như sau:

- Phần 1: Chuẩn bị lễ vật.

Chuẩn bị vào hội làng nhân dân trong làng nô nức chuẩn bị lễ vật. Ngày xưa khi vào mùa lễ hội thì việc chuẩn bị lễ vật được chỉ định luân phiên cho từng dòng họ trong làng và những người có học thức, có đị vị mới được chuẩn bị lễ vật dâng ngài.

Lễ vật gồm: sôi, thịt lợn (ngày xưa làm cả con), thịt gà, hoa quả, bánh kẹo, trầu rượu... Ngày xưa làng tổ chức lễ hội vào các dịp khác nhau thì phần chuẩn bị cũng khác nhau như: tổ chức ngày sinh nhật của hai ngài (9/4), ngày 21/11 ngày mất của các ngài, lễ vật gồm cơm, thịt lợn và hai quả trứng gà; Lễ hội đầu xuân thì lễ vật phong phú hơn.

- Phần 2: Trang phục vào lễ.

Trang phục của chủ tế, chủ lễ là áo dài đen, đầu trùm mũ, chân đi ủng

Trang phục của người đội lễ áo dài khăn xếp gọn gàng

Cấm kỵ: trong khi làm lễ cấm các chủ lễ mặc áo màu xanh và trắng nhạt.

- Phần 3: Tế lễ.

Bắt đầu buổi lễ hai Đông xướng và Tây xướng đứng hai bên của chủ tế với mục đích để ra hiệu cho các chủ lễ thực hiện nghi thức dâng lễ vật. Sau khi các nghi thức dâng lễ xong, thì đại diện chủ lễ người cao tuổi nhất sẽ cuối lạy Đông xướng và Tây xướng.

Đứng sau chủ tế là hai Bồi tế, sau mỗi nghi thức cúi lạy theo chủ tế và hai bồi tế có trách nhiệm trước khi vào buổi lễ, họ phải vào trong chính điện mỗi người phải mang một cây đèn có nến bên trong để kiểm tra xem lễ vật đã đầy đủ chưa, nếu đủ lễ mới bắt đầu tế lễ.

Đứng bên trái chủ tế, có một chủ lễ và người này có trách nhiệm đọc chúc văn, ở đằng sau chủ tế, bồi tế có 8 người chuyên phục vụ rót rượu vào các chén rượu thờ, sau khi đọc chúc văn chủ tế cúi lạy và sau đó mọi người đều cúi lạy.

Trong khi làm lễ cấm kỵ các chủ lễ mạc áo dài màu xanh, màu trắng nhạt và không được nói to, họ phải tập trung để lạy cho đều nếu lạy không đều sẽ không tốt, cấm kỵ người có tang, góa vợ, góa chồng làm chủ lễ và bê lễ.

Sau khi các nghi lễ được tổ chức xong coi như buổi lễ đã kết thúc và các lễ vật được chia đều cho tất cả mọi người dân trong làng.

- Phần 4: Phần hội. Trước đây có tổ chức hát ghẹo, diễn các tích tuồng chèo nhưng đến nay phần hội đã bị mai một chưa khôi phụ lại được.

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành Lễ hội đền Ngũ Vị Đại Vương: Lễ hội truyền thống của cộng đồng dân cư làng Đường Thôn diễn ra mục đích tưởng nhớ công ơn của 5 vị thần là vị thiên thần Thành Hoàng ông Phổ Minh, vị Nhân Thần Thành Hoàng ông Kim Ngô, vị thần Nhân Văn Đất Việt ông Khương Công Phụng, vị thần Tước Hầu Đô Thống Thượng Tướng Quân Lê Phụng Hiểu -Thánh Bưng.

Đối với người dân Đường Thôn họ quan niệm, các vị thần linh đã giúp đỡ đem lại sự bình an no ấm, thuận hòa cho nhân dân họ biết ơn các vị thần muốn tỏ lòng thành kính, chính quan niệm và tín ngưỡng đó thể hiện rõ trong lễ hội Đền Ngũ Vị Đại Vương.

- Lễ hội diễn ra gồm 5 phần

Phần 1: Chuẩn bị lễ vật.

Chuẩn bị vào ngày lễ hội tất cả nhân dân trong làng đều nô nức chuẩn bị lễ vật. Lễ vật gồm: sôi, thịt lợn, thịt gà, hoa quả, bánh kẹo, trầu rượu…phần lễ thì cả làng tập chung, các gia đình, dòng họ có điều kiện đều chuẩn bị lễ ra Nghè, bên cạnh các phần lễ của nhân dân thì Làng phải có một mâm lễ chính có thể xôi và đầu lợn, xôi gà, có năm còn chuẩn bị cả một con lợn quay tùy vào từng năm.

Phần 2: Trang phục vào lễ.

Trang phục của chủ tế, chủ lễ là áo dài vàng, đầu đội mũ vàng, chân đi hia nhiều màu sắc;

Trang phục của 2 bồi tế, 2 Thông xướng, 1 chúc văn quần áo dài, mũ màu xanh đỏ, chân đi hia.

Trang phục của người đội lễ áo dài nhiều màu sắc, khăn xếp gọn gàng

Trang phục của người khênh kiệu quần áo trắng, quấn khăn trên đầu, bụng buộc khăn màu đỏ.

Phần 3: Rước kiệu.

Trước khi vào buổi lễ sẽ có phần rước kiệu từ Đình đi xung quanh làng đoàn rước kiệu gồm 12 người, khênh nam khênh 2 kiệu, nữ khênh kiệu Đức Thánh Mẫu.

Yêu cầu đối với người khênh kiệu là nam thanh, nữ tú chưa có gia đình, gia đình cha mẹ anh chị em phải khỏe mạnh, gia đình hòa thuận hạnh phúc, không lấy nam giới, nữ gới đã có gia đình hoặc gia đình có tang.

Phần 4: Phần lễ.

Sau khi rước kiệu về đến nghè thì Bắt đầu buổi lễ, bước vào lễ ba hồi trống, ba hồi chiêng nổi lên bước vào tế lễ. Chủ tế là người có địa vị cao nhất trong làng ( là trưởng làng) sẽ dâng hương, dâng hương xong bái bốn bái, tiếp theo là đọc chúc văn , nội dung của chúc văn Tên các vị thần và cầu cho dân làng bình an, hạnh phúc, mùa màng tươi tốt…đọc chúc văn xong tất cả đều bái hai bái.

Tiếp theo buổi lễ là trống, chiêng, sáo, nhị nổi lên sẽ là hát dâng hương, hát chèo chãi, vừa hát vừa dâng hương, dâng rượu, dâng hương chúc tửu ba lần cứ mỗi lần chúc tửu, dâng hương thì bái hai bái.

Sau khi các nghi lễ được tổ chức xong coi như buổi lễ đã kết thúc và các lễ vật của gia đình nào thì gia đình đó hạ và đem về, riêng phần mâm cỗ chính của làng phải để đến cuối ngày và chia đều cho các cụ cao niên trong làng.

Phần 5: Phần hội. Được tổ chức ngay trước sân nghè với các trò chơi trò diễn dân gian nhưc kéo co, leo dây, hát đối, diễn các tích chèo cổ….Ngày hội đến trống dong cờ mở, cả làng nhộn nhịp đông vui sau khi đã xong công việc sản xuất.

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành Lễ hội Đình - Đền làng Đắc Châu: Được tổ chức vào ngày mùng 10 tháng giêng hàng năm, nhưng công tác chuẩn bị từ trước tết Nguyên đán, được biểu hiện phần lễ và phần hội: Phần lễ được tổ chức tại đình đền thông qua các nghi lễ, truyền thống được truyền tụng qua các thế hệ trong làng, Phần hội được tổ chức bởi các trò chơi , trò diễn dân gian như Rước kiệu, cờ tướng , kéo co, trọi gà…

Trước tết nguyên đán hàng năm, vào khoảng từ ngày 20 đến ngày 25 tháng chạp hàng năm, Ban quản lý đình đền, ban xây dựng làng đắc châu tổ chức họp và phân công từng thành viên để tổ chức điều hành làng văn, làng nhạc, đội trai kiệu,điều hành các trò chơi , trò diễn dân gian như: kéo co, trọi gà, cờ tướng, tổ chức rước kiệu đức thánh du xuân.

Đến hẹn lại lên,từ ngày mùng 8, 9 tháng giêng, là các ngày chuẩn bị cơ sở vật chất, sửa soạn các vật dụng cho lễ hội, tổ chức làm khán đài, làm rạp, định vị các sân chơi,sẵn sàng cho lễ hội chính thức vào ngày mùng 10 tháng giêng.

Ngày mùng 10 tháng giêng, ngay từ 5 giờ sáng mọi người ai vào việc nấy,việc đầu tiên là rước kiệu, Kiệu được trai làng (trai tịnh) khênh rước từ đình hạ , qua các thôn trong làng và trở về đình thượng, trong quá trình rước kiệu cùng với đoàn khênh bát bửu, xà mâu, khênh lọng , tàn, tiếp đến là làng nhạc và cuối cùng là nhân dân , du khách thập phương cùng đi rước kiệu , du xuân.

Sau khi rước kiệu về đến đình thượng thì bắt đầu tổ chức phần lễ, khai lễ là màn trống hội, nghi lễ chào cờ và sau đó là làng văn phối hợp với làng nhạc tiến hành các bước của buổi tế lễ, kết thúc phần lễ vào buổi trưa.

Sang buổi chiều của ngày mùng 10 tháng giêng, phần hội bắt đầu với các trò chơi, trò diễn dân gian như: trọi gà kéo co, cờ tướng…Kết thúc phần hội, ban tổ chức trao phần thưởng cho các đội tham gia và cũng là thời điểm kết thúc lễ hội.

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành Lễ hội Làng Khánh Hội: Là lễ hội truyền thống của cộng đồng dân cư làng Khánh Hội diễn ra tại làng Khánh Hội xã Thiệu Duy, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa

Đối với người Khánh Hội họ quan niệm, đất đai, nhà cửa họ sinh sống, sự bình an trong thôn làng đều là do có thần linh giúp đỡ, họ biết ơn các vị thần muốn tỏ lòng thành kính, chính quan niệm và tín ngưỡng đó thể hiện rõ trong lễ hội Làng. Lễ hội làng diễn ra vào đầu xuân, chính hội vào ngày 10 - 15/1 tết và kéo dài trong suốt cả mùa xuân. Lễ hội này từ xa xưa tới nay không chỉ người dân trong làng mà con em làng Khánh Hội dù đi đâu vẫn nhớ về.

- Lễ hội được diễn ra với các phần như sau:

Phần 1: Chuẩn bị lễ vật:

Chuẩn bị vào hội làng nhân dân trong làng nô nức chuẩn bị lễ vật. Ngày xưa khi vào mùa lễ hội thì việc chuẩn bị lễ vật được chỉ định luân phiên cho từng dòng họ trong làng và những người có học thức, có địa vị mới được chuẩn bị lễ vật dâng ngài.

Lễ vật gồm: sôi, thịt lợn, thịt gà, hoa quả, bánh kẹo, trầu rượu...

Phần 2: Trang phục vào lễ:

Trang phục của chủ tế, chủ lễ là áo the, khăn xếp, đi hài. Bốn bên là 4 ông trùm của 4 giáp: giáp đông, giáp đoài, giáp nhuệ, giáp thượng.

Cấm kỵ: cấm những người có tang không được đến dự.

Phần 3: Phần lễ:

Mân lễ để cúng thần hoàng làng trong ngày diễn ra lễ hội.

Nghi lễ: Người cao tuổi được mọi người tín nhiệm sẽ đọc văn khấn thành hoàng làng. Bên cạnh là 4 ông trùm của 4 giáp : giáp đông, giáp đoài, giáp nhuệ, giáp thượng, tiếp theo trong khu tế còn có 2 ông làng văn đứng điểm sướng còn các cụ và các quan viên, nhân dân trong làng ngồi dưới chiếu chắp bái.

Trong khi làm lễ cấm kỵ những người có tang không được xuất hiện, không được nói to, họ phải tập trung để lạy cho đều nếu lạy không đều sẽ không tốt, cấm góa vợ, góa chồng làm chủ lễ và bê lễ.

Sau khi các nghi lễ được tổ chức xong coi như buổi lễ đã kết thúc và các lễ vật được chia đều cho tất cả mọi người dân trong làng.

Phần 4: Phần hội:

- Tổ chức văn nghệ bằng các tiết mục văn nghệ, trò chơi dân gian.

- Báo cáo kết quả lao động sản xuất của cán bộ và nhân dân trong một năm, phương hướng nhiệm vụ năm tiếp theo.

- Thảo luận đóng góp xây dựng vào dự thảo báo cáo phương hướng của cán bộ và nhân dân trong làng.

- Ý kiến phát biểu của lãnh đạo xã.

- Đánh giá kết luận hội làng truyền thống.

Hàng năm làng vẫn duy trì tổ chức lễ hội theo thông lệ, phần lễ cùng như phần hội - tổ chức nhưng rất hạn hẹp vì nguồn kinh phí chưa đáp ứng đủ.

* Lễ tế thành hoàng làng.

- Quá trình ra đời: Lễ tế thành hoàng làng ra đời từ rất lâu, không ai biết rõ mốc thời gian cụ thể có từ bao giờ. Đến nay nhân dân làng Phú Lai Thiệu Long, làng Trí Cẩn thị trấn Vạn Hà chỉ biết đến như một sự kiện truyền thống hằng năm của làng.

- Hiện trạng: Số nghệ nhân hiện có: 25 người; độ tuổi 50 tuổi đến 70 tuổi

Tiêu biểu một số nghệ nhân như:

+ Trương Hồng Quý, thôn Phú Lai, xã Thiệu Long

+ Trương Đức Minh, thôn Phú Lai, xã Thiệu Long

+ Nguyễn Minh Vỹ, thôn Phú Lai, xã Thiệu Long

+ Lê Văn Duyệt, tiểu khu 3, thị trấn Vạn Hà

+ Lê Văn Diểu, tiểu khu 1, thị trấn Vạn Hà

+ Trịnh Văn Mùi, tiểu khu 1, thị trấn Vạn Hà

+ Trần Thanh Hải, tiểu khu 3, thị trấn Vạn Hà

- Số lượng người thực hành: 30 người

- Số học viên hiện nay: Chưa có các lớp truyền dạy.

+ Phương thức truyền dạy: Truyền miệng, trao truyền trong cộng đồng

- Hình thức thể hiện, quy trình thực hành lễ tế thành hoàng làng Phú Lai: Công tác tổ chức trước khi đưa vào hành lễ được tổ chức đội hình chu đáo có nề nếp thứ tự giống như đội hình đi vào nhà thờ đi đầu là các đồ lễ của các dòng họ được phân công theo thứ tự hàng năm gồm các mâm lễ truyền thống như xôi thủ lợn,vàng hương các mâm bánh kẹo của các bản hội và các gia đình cá nhân có tấm lòng thành kính

Đội hình tế lễ gồm 13 người có trang phục phù hợp với phong tục truyền thống đội hình được xắp xép theo nghi thức tế gồm

+ 1 chủ tế

+ 2 phụ tế

+ 1 đông xướng, 1 tây xướng

+ 2 bồi tế và 6 thực hành lễ

- Nội dung

- Thượng đăng ( thắp nến kiểm tra lễ vật )

- Dâng hương, hoa, rượu

- Đọc trúc văn báo cáo với thành hoàng làng kết quả đạt được về mọi mặt trong một năm qua và cầu cho năm mới làm ăn phát đạt mùa màng bội thu

- Hình thức thể hiện, quy trình thực hành lễ tế thành hoàng làng Trí Cẩn: Hằng năm vào 7 giờ, ngày mồng 7 tháng Giêng Âm lịch nhân dân, các dòng họ trong làng đều sắm sửa xôi, hoa quả tổ chức thành từng đoàn đến đình làng dâng hương xin Thần Hoàng phụ hộ con cháu trong gia đình, dân trong làng mạnh khỏe làm ăn gặp nhiều may mắn, cầu cho mưa thuận gió hòa.

Sau khi các dòng họ, nhân dân trong làng có lễ vật đến dâng hương Thần Hoàng, đúng 8 giờ 30 phút ban tổ chức tiến hành lễ dâng hương. Chủ tế là vị trưởng làng mặc áo dài đen, khăn xếp và 2 phụ tế cùng nhân dân trong làng ngồi phía tiến hành nghi lễ. Sau khi tế song lần lượt các dòng họ, con cháu trong làng vào dâng hương cầu phúc đầu xuân năm mới.

* Lễ rước kiệu.

- Qúa trình ra đời: Từ xa xưa, không rõ vào thời gian nào.

- Hiện trạng: Duy trì tổ chức hằng năm

* Số lượng nghệ nhân hiện có: 10 người; độ tuổi 55 tuổi đến 70 tuổi

+ Nguyễn Công Thiết, làng Nhuệ, xã Thiệu Thịnh

+ Lê Quang Dung làng Nhuệ xã Thiệu Thịnh

+ Lê Thế Thoi, làng Nhuệ xã Thiệu Thịnh

+ Lê Văn Khiêu, tiểu khu 7, thị trấn Vạn Hà

+ Hoàng Cao Khải, tiểu khu 7, thị trấn Vạn Hà

+ Vũ Công Xem, tiểu khu 12, thị trấn Vạn Hà

+ Lê Công Kỷ, tiểu khu 7, thị trấn Vạn Hà

- Số lượng người thực hành: 50

- Số học viên hiện nay: Không

+ Phương thức truyền dạy: Truyền miệng, trao truyền trong cộng đồng

- Hình thức thể hiện, quy trình thực hành lễ rước kiệu thôn Đương Phong:Lễ rước kiệu thành hoàng làng là lễ hội truyền thống của cộng đồng dân cư thôn Đương Phong được diễn ra tại đình làng vào rằm tháng Giêng và rằm tháng 7 hằng năm

Mỗi khi đến ngày rằm tháng giêng Thượng nguyên lễ tế thành hoàng và rằm tháng 7 là Trung nguyên tổ chức vu lan báo hiếu. Làng tổ chức là họp Ban thường trực làng và Trưởng các dòng họ trong làng để phân công và chuẩn bị các lễ vật cúng tại đình làng.

- Quy trình thực hành được thực hiện qua các bước như sau:

+ Chuẩn bị lễ vật: Chuẩn bị vào lễ rước kiệu nhân dân trong các dòng họ, trong làng làng nô nức chuẩn bị lễ vật dâng ngài. Lễ vật gồm: sôi, thịt lợn, thịt gà, hoa quả, bánh kẹo, trầu rượu... Ngày xưa làng tổ chức lễ hội vào các dịp khác nhau thì phần chuẩn bị cũng khác nhau như:

Rằm tháng Giêng là các dòng họ chuẩn bị khá công phu Mâm xôi gà, hoa quả.

Rằm tháng 7 chủ yếu là hoa quả.

* Trang phục vào lễ:

Trang phục của chủ tế, chủ lễ là áo dài đen, đầu trùm mũ, chân đi ủng

Trang phục của người khiêng kiệu áo dài gọn gàng, thắt lưng bó múi

Ghi lễ rước kiệu: Gồm 2 kiệu. Kiệu ông và Kiệu Bà mỗi kiệu có 4 người khiêng đó là do các nam thanh, nữ tú ăn mặc quần áo gọn gàng, thắt lưng bó múi vào khiêng kiệu, đi cùng với kiệu có lộng, tán và cờ hội đi trước.

Trước khi khiêng rước kiệu thì chủ tế phải thắp nhang để xin rước kiệu.

Lễ rước kiệu bắt đầu xuất phát đi từ đình và đi ra vòng quang làng sau đó trở về đình làm lễ tại đình.

Bắt đầu làng lễ:

- Khởi chinh cổ: Đánh trống (3 hồi, 9 tiếng)

- Mời chủ tế vào làm tế

- Nhạc tác: Tiểu sự hành lễ

- Mời chủ tế tư văn và hành lễ.

- Chủ tế bình thân (đứng im)

- Chủ tế kiểm soát vật: Đứng sau chủ tế là hai Bồi tế, sau mỗi nghi thức cúi lạy theo chủ tế và hai bồi tế có trách nhiệm trước khi vào buổi lễ, họ phải vào trong chính điện mỗi người phải mang một cây đèn có nến bên trong để kiểm tra xem lễ vật đã đầy đủ chưa, nếu đủ lễ mới bắt đầu tế lễ.

- Chủ tế dâng dương (gồm có 2 bồi tế cầm hương và nến theo: 1 người cấm hương và 1 người cầm nến)

- Dâng tửu (rượu): 03 lần Cúng hai bồi tế: Một người cầm cút rượi và một người cầm cốc rót rượu, khi rót xong đưa cho chủ tế để bái .

- Chuyển trúc: Người bồi đưa trúc cho chủ tế bái và đọc, sau khi đọc xong bái 4 bái rồi chuyển lại vị trí cũ.

Mỗi lần hành lễ đội múa hương ở dưới gồm sáu người con gái sẽ múa theo nhạc.

Sau khi tế lễ xong những cụ cao niên trong làng được thắp hương trước sau đó là các dòng họ vào thắp hương . sau khi thắp hương xong chủ tế bái tạ và hạ lễ.

Phần hội: trước đây có tổ chức hát chèo chải, tổ chức hội thi bắt trạch trong chum nhưng đến nay phần hội đã bị mai một chưa khôi phụ lại được.

- Hình thức thể hiện, quy trình thực hành lễ rước kiệu làng Kiến Hưng: Vào hồi 7 giờ 30 phút ngày mồng 7 tháng Giêng Âm lịch, ban tổ chức mời các đại biểu và bà con nhân dân tiến hành lễ rước kiệu nghinh thần du xuân.

Đi đầu là kiệu thần hoàng làng gồm có 16 thanh niên trai tráng khỏe mạnh khênh kiệu, 4 người một đòn. Sau kệu là đội hồng kỳ có 12 người cầm cờ xếp thành 2 hàng, đến đoàn múa lân có 5 đến 7 thanh thiếu nhi vừa đi vừa múa. Đến đoàn làng binh mặc quần áo làng binh đội nón đỏ gồm có 12 người, sau là ban nhạc, tiếp đến là hội làng văn gồm các cụ cao niên trong làng áo mũ khăn xếp, tiếp đến là đội nữ quan gồm 12 chị em phụ nữ, đến các dòng họ trong làng, bà con nhân dân, các du khách thập phương.

Cách thức tiến hành rước kệu du xuân, xuất phát từ đình làng, sau đó kiệu được rước đến các đường chính trong các tiểu khu, đi đến đơn vị tiểu khu nào thì giới thiệu thành tích của tiểu khu đó hết các đơn vị kiệu được rước về đình làng làm lễ.

Ban tổ chức mời các đoàn theo thứ tự vào đình làng và xếp thành 2 hàng quay mặt hướng vào nhau tiến hành lễ dâng hương Thần Hoàng làng. Tiếp đến là các dòng họ và các đơn vị tiểu khu, các bậc cao niên tế lễ theo dịp trống. Song các bài tế Thần Hoàng làng ban tổ chức mời các đại biểu đại diện địa phương, nhân dân vào dâng hương Thần Hoàng.

Sau lễ tế thần Hoàng làng lễ vật được đưa về các tiểu khu để nhân dân liên hoan, tạo không khí vui tươi phấn khởi, gắn tình đoàn kết cộng đồng dân cư.

* Lễ Du xuân cầu phúc:

- Qúa trình ra đời: Từ xa xưa, không rõ vào thời gian nào.

- Hiện trạng: Duy trì tổ chức hằng năm

* Số lượng nghệ nhân hiện có: 10 người; độ tuổi 50 tuổi đến 70 tuổi

+ Phùng Anh Thơ, tiểu khu 8, thị trấn Vạn Hà

+ Ngô Văn Gia, tiểu khu 8, thị trấn Vạn Hà

+ Phùng Quang Lỡ, tiểu khu 9, thị trấn Vạn Hà

+ Mai Xuân Thịnh, tiểu khu 11, thị trấn Vạn Hà

+ Nguyễn Quốc Giáp, tiểu khu 9, thị trấn Vạn Hà

- Số lượng người thực hành: 30

- Số học viên hiện nay: Không

+ Phương thức truyền dạy: Truyền miệng, trao truyền trong cộng đồng

- Hình thức thể hiện, quy trình thực hiện: Lễ hội du xuân cầu phúc làng Dương Hòa bắt đầu từ sáng ngày mồng 7 tháng Giêng Âm lịch, nhân dân làng Dương Hòa tập trung săm lễ vật để dâng lên Thàn Hoàng làng, cầu mong con cháu mạnh khỏe làm ăn may mắn.

Đúng 14 giờ các dòng họ, các tiểu khu đội lễ đến đình làng tập trung trước đình.Ban tổ chức thông báo và lần lượt mời các dòng họ vào dâng lễ, sau đó là các đơn vị tiểu khu. Khi lễ vật được dâng lên ban tổ chức mời nhân dân, con, cháu tập trung ngồi phía trước ban thờ Thàn Hoàng. Ban tổ chức mời 12 cụ cao niên trong làng mẫu mực vào ban tế lễ. Buổi lễ bắt diễn ra theo nhịp điệu của những tiếng nhạc, tiếng phách. Lễ cầu phúc du xuân là cầu cho năm mới mùa màng bội thu, con trẻ học hành thành đạt, nhân dân trong làng làm ăn khá giả, mọi nhà an khang thịnh vượng.

Sau lễ Thần Hoàng làng các dòng họ, các tiểu khu xin lễ đưa về các dòng họ, tiểu khu hưởng lộc rút kinh nghiệm.

1.3. Nghề thủ công truyền thống: Số lượng 3 di sản.

* Nghề đúc đồng truyền thống làng Chè (trà Đông) xã Thiệu Trung

- Quá trình ra đời: Ra đời từ xa xưa, các thế hệ ông cha truyền lại, chưa xác định được thời gian cụ thể.

- Hiện trạng:

- Số lượng nghệ nhân hiện có: 30 người, độ tuổi từ 50 tuổi đến 65 tuổi

Tiêu biểu một số người như:

+ Ông Nguyễn Bá Châu, thôn 5 xã Thiệu Trung

+ Ông Lê Văn Bảy, thôn 5 xã Thiệu Trung

+ Ông Đặng Ích Hoàn, thôn 5 xã Thiệu Trung

+ Ông Vũ Đình Trường, thôn 5 xã Thiệu Trung

+ Ông Lê Văn Đạo, thôn 6 xã Thiệu Trung

- Số lượng người thực hành: 50 người

- Số học viên hiện nay: 20

- Phương thức truyền dạy: Truyền miệng và hướng dẫn trực tiếp để thực hành.

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành: Từ đôi bàn tay khéo léo, tài hoa và đầu óc sáng tạo của thợ đúc - các nghệ nhân trong làng đã dùng đất để tạo ra các khuôn mẫu, sau đó nấu đồng ở nhiệt độ cao, nóng chảy và đổ vào khuôn tạo ra các sản phẩm theo yêu cầu.

+ Tạo mẫu: Từ ý tưởng, dự định một loại sản phẩm được mô tả như hình vẽ hay còn gọi là thiết kế làm cơ sở cho các thợ đúc tạo mẫu đúng theo bản vẽ về kiểu cách, hình dáng, kích thước, hoa văn ...

Nguyên liệu để tạo mẫu gồm có: Đất sét, sáp ong, thạch cao, nếu loại sản phẩm lớn có thể dùng bằng xi măng...

+ Tạo khuôn: Căn cứ vào hình mẫu để thợ đúc nặn khuôn, làm khuôn. Khuôn được chế tạo theo mẫu thiết kế hoặc mẫu có sẵn.

Nguyên liệu để tạo khuôn gồm: Đất sét, trấu lúa xay, hỗn hợp hữu cơ như trấu đốt thành tro, trấu đốt dở, bột Glophit…Trong quá trình chế biến nguyên liệu và pha trộn nguyên liệu phải tuân thủ một cách nghiêm ngặt tỷ lệ pha trộn nguyên liệu. Các khâu tạo khuôn, nung khuôn, ghép khuôn, rồi đổ đồng vào khuôn đều là những khâu kỷ thuật rất quan trọng.

+ Tạo hình khuôn ngoài (xe cốt): Khuôn ngoài được làm 2 mảng như nhau sau đó đến các bước “giọt khuôn”, “quang khuôn” rồi tạo hoa văn của sản phẩm theo bản vẽ (theo mẫu)

+ Khuôn trong “Cốt trong” hay còn gọi là “Thao”: Khi khuôn ngoài và khuôn trong đã tạo xong, tiến hành phơi, sấy và nung khuôn, làm cho khuôn khô, sau khi nung đến cung đoạn mài “ Giọt”, “ làm thịt thao”, trảm tháo, nóng nén để thử khuôn trong và khuôn ngoài, tạo khe hở theo độ dày, mỏng của sản phẩm để lắp ghép 2 mảnh khuôn ngoài với khuôn trong rồi thét khuôn lại. Phần “đường quan” giữa 2 khuôn ngoài dùng nguyên liệu đã pha chế (nguyên liệu làm khuôn) chát lại sau đó mổ xẻ, làm lỗ thoát khí khuôn hoàn chỉnh đến cung đoạn nấu đồng và đổ đồng vào khuôn.

Đúc đồng: Các dụng cụ đúc đồng gồm: nồi cơi, ống cơi và bể thổi lửa.

Khi mọi khâu đã chuẩn bị song, người thợ cho nguyên liệu vào nồi nấu gồm: Than đồng và kim loại pha chế, rồi đốt lửa, thổi lò, điều chỉnh quạt lò theo tốc độ phù hợp, khi than chảy đỏ hồng (thường nhiệt độ khoảng 800oC thì đồng bắt đầu chảy, nước đồng chảy từ nồi trên xuống nồi cơi còn than và cặn bả nổi lên trên. (khâu này quan trọng nhất là điều chỉnh nhiệt độ phù hợp để nước đồng trong sản phẩm được bóng, mịn, tự nhiên)

Khi thấy trong nồi đồng và ống cơi chỉ còn khói trắng là đồng đã chảy hết; tiếp theo nâng ống cơi ra gạt lọc hết tạp chất nỗi ở trên nồi đồng rồi dùng tro bếp dây mịn phủ kín để giữ nhiệt rồi đổ đồng vào khuôn. Khi rót đồng vào khuôn, đồng chảy phải có ngọn chảy đều và chảy liên tục cho đến khi đầy khuôn. Khi đổ đồng xong khẩn trương tháo đai nén để đồng co giản tránh làm xé võ khuôn, dính khuôn và dạn nứt sản phẩm.

Sau cung đoạn trên để một thời gian vừa phải (thời gian phụ thuộc vào loại sản phẩm to hay nhỏ) sau đó tháo khuôn ra lấy sản phẩm ra. Điều đáng chú ý là nhiều sản phẩm sau khi đúc song lấy sản phẩm ra vẫn bị hở, bị dỗ nên tiếp theo người thợ cần khéo léo khắc phục sữa chữa và làm nguội, đánh bóng sản phẩm. Lúc này sản phẩm đã hoàn thành.

* Nghề ươm tơ dệt nhiễu làng Hồng Đô.

- Quá trình ra đời: Nghề ươm tơ dét nhiễu có từ xã xưa, dân làng chưa ai xác định được thời gian cụ thể ra đời từ bao giờ, chỉ biết đời này truyền cho đời khác và tôn tại đến ngày nay.

- Hiện trạng: Vẫn duy trì và phát triển trong các hộ dân, Nhà nước đẫ quy hoạch phát triển vùng làng nghề ươm tơ dệt nhiễu tại làng Hồng Đô xã Thiệu Đô.

- Số lượng nghệ nhân hiện có: 30 người, độ tuổi từ 45 tuổi đến 65 tuổi

Tiêu biểu một số người như:

+ Hoàng Trong Thủy, làng Hồng Đô xã Thiệu Đô

+ Lê Văn Nghiên, làng Hồng Đô xã Thiệu Đô

+ Lê Văn Thành, làng Hồng Đô xã Thiệu Đô

+ Lê Văn Hạnh, làng Hồng Đô xã Thiệu Đô

+ Hoàng Bình Quyền, làng Hồng Đô xã Thiệu Đô

+ Hoàng Viết Đức, làng Hồng Đô xã Thiệu Đô

+ Hoàng Thị Kén, làng Hồng Đô xã Thiệu Đô

- Số lượng người thực hành: 60 người

- Số học viên hiện nay: 20 người

- Phương thức truyền dạy: Truyền nghề và hướng dẫn trực tiếp để thực hành.

- Hình thức biểu hiện: Từ đôi bàn tay kheo léo, tài hoa của người làng Hồng Đô cùng với các công cụ sản xuất truyền thống, con người nơi đây đã biểu hiện quá trình sản xuất thực hành nghề ươm tơ dệt nhiễu một cách thành thục tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị về văn hóa, kinh tế.

- Quy trình thực hành gồm:

+ Sản xuất nguyên liệu: Khi con tằm nhả tơ làm kén, sau thời gian 3 ngày, con tằm sẽ hóa nhộng, con người tiến hành như sau:

Bỏ kén vào chậu nước sôi 700C

Đặt sợi tơ vào guồng tơ, bắt các sợi tơ chia đều và cho guồng chạy

Sau khi sợi được rút đầy guồng thì thay sang guồng khác,tháo ra và phơi lên sào.

- Kỹ thuật để dệt nên tấm nhiễu: Con người cần tập trung tốt những khâu sau đây.

Đem tơ cuộn sang ống nứa để chọn sạch các vết ú tơ (ống nứa dài 25 cm) để chuẩn bị mắc vào tấm cử (dài 80cm,rộng 15cm), khi mắc phải chia đều các sợi tơ vào các răng cử và đóng các trực để những sợi tơ vòng đi vòng lại 2 lần.

Tấm nhiễu dài 8m và bắt đầu đưa lên khung cửi.

- Những sợi tơ dệt ngang phải thực hiện tốt những bước sau:

Bước 1: Phải đem ra đường để mắc vào kim sa, đánh đi đánh lại các sợi tơ kỹ càng, các ống phải đánh trái đánh phải, khi dệt nhiễu thì phải nhớ sót trái và sót phải.

Bước 2: Dệt nhiễu chỉ cần 2 con thoi làm bằng sừng trâu. Khi dệt bôi mỡ lợn vào cho trơn.thết trái 2 lần,thết phải 2 lần , cứ thế cho đến khi hoàn thành tấm nhiễu.

Bước 3: Khi làm xong tấm nhiễu thì đem vào ngâm nước vôi khoảng 10 giờ và sau đó đem vồ đập cho mềm tấm nhiễu. sau đó bỏ vào nồi nước có vỏ da trâu vào,nấu đi nấu lại cho tấm nhiễu mềm mới thôi.

Bước 4: Tấm nhiễu đem nhuộm màu gụ tạo nên những vẻ đẹp óng ánh của tơ tằm. Khăn nhiễu chủ yếu được đem đi bán tại Nghệ An và sang nước bạn Lào và Campuchia.

* Nghề sản xuất bánh đa, làng Đắc Châu, xã Thiệu Châu..

- Quá trình ra đời: Làng Đắc Châu, xã Thiệu Châu được hình thành từ xa xưa, không rõ từ năm nào, chỉ biết rằng thuở khai thôn lập ấp một số hộ về đây hội tụ làm ăn sinh sống theo chòm xóm nên cái tên làng chòm được đặt tên cho làng, sau đó được đổi thành làng Đắc Châu. Làng Đắc Châu gồm 4 thôn: Châu Giang, Châu Long, Châu Sơn và Châu Ngọc. Cùng với sự hình thành của làng là sự ra đời và phát triển của nghề sản xuất bánh đa thủ công truyền thống, nghề làm bánh đa được truyền từ đời này qua đời khác và cho đến nay vẫn gìn giữ được những nét độc đáo của nghề, bánh đa nơi đây sản xuất theo những quy trình, công đoạn, kỹ thuật bí truyền tạo nên hương vị đặc biệt của chiếc bánh đa làng đắc châu riêng biệt mà chỉ có nơi đây mới có.

- Hiện trạng: Nghề bánh đa làng chòm (làng đắc châu) được nhân dân tổ chức sản xuất lúc nông nhàn. Tạo công ăn việc làm cho nguồn nhân lực dồi dào của nhân dân dân trong làng, mang về nguồn thu nhập đáng kể cho các hộ dân, do đó trong làng hộ giàu, hộ khá ngày một tăng, hộ nghèo giảm đáng kể, nhờ đó nghề sản xuất bánh nơi đây được coi như nghề chính, ngày càng phát triển mạnh. Sản phẩm làm ra được người tiêu dùng khắp nơi xa gần ưa chuộng nên bánh đa làng chòm làm ra không đủ bán. Cùng với sự phát triển của nghề bánh đa truyền thống của làng đắc châu, được sự quan tâm của các cấp các ngành, đặc biệt ngày 21 tháng 01 năm 2015 vùa qua, chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hoá đã ra Quyết định số 203/QĐ-UBND công nhận làng nghề bánh đa truyền thống làng Đắc Châu, xã Thiệu Châu, huyện Thiệu Hoá.

- Số nghệ nhân hiện có: 30 người, độ tuổi từ 45 tuổi đến 60 tuổi

Tiêu biểu như:

+ Lê Đăng Ánh, thôn Châu Giang xã Thiệu Châu

+ Lê Thị Hoa, thôn Châu Long xã Thiệu Châu

+ Nguyễn Thị Oanh, thôn Châu Giang xã Thiệu Châu

+ Lê Duy Thao, thôn Châu Long xã Thiệu Châu

+ Lê Đức Nhẫn, thôn Châu Sơn xã Thiệu Châu

+ Phùng Thị Yến, thôn Châu Sơn xã Thiệu Châu

+ Phùng Bá Hưng, thôn Châu Sơn xã Thiệu Châu

- Số lượng người thực hành: 55 người

- Số học viên hiện nay: 30

- Phương thức truyền dạy: Truyền nghề trong cộng đồng

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành: Sản xuất bánh đa nem, bánh đa vừng phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng của nhân dân trong và ngoài địa phương, Nghề làm bánh được gắn liền với tên làng: bánh đa làng chòm (làng chòm tức là làng Đắc Châu)

Chiếc bánh đa vừng được sản xuất theo quy trình thủ công với các bước như sau:

Bước 1: Chọn gạo làm bánh (gạo được chọn theo bí quyết của nghệ nhân), đem gạo ngâm trong nước sạch trong khoảng thời gian nhất định, sau đó được nghiền thành bột loãng, bột gạo đem trộn với bột lọc theo tỷ lệ tương thích,cho hỗn hợp bột làm bánh.

Bước 2: Bột làm bánh được đưa vào khuôn (khuôn là một tấm vải được căng trên miệng một cái nồi ,phía trong nồi chứa nước, và nồi được đun trên bếp than để tạo hơi hấp bánh). Dưới bàn tay của nghệ nhân lớp bột được dàn đều khắp mặt khuôn,, sau đó dải một lớp vừng lên trên mặt bánh và đậy nắp lò lại để cho hơi nước hấp chín bột bánh. Cả quá trình trên chỉ được thực hiện trong ít phút, tiếp theo bánh sẽ được lột ra khỏi mặt khuôn lò và được đặt trên phên trành, rồi đem phơi ngoài trời nắng cho đến khi bánh khô ròn thì thu về.

Sau khi thu bánh về các nghệ nhân đem bánh nướng trên chậu than hồng , kỹ thuật nướng bánh rất quan trọng, làm sao để bánh chín vàng mà không bị cháy, cũng không được sống , chiếc bánh đa vừng làng chòm sau khi nướng xong có vị ngọt, thơm đặc trưng, lại ròn tan , những ai đã từng thưởng thức thì không thể quên được hương vị thơm ngon của bánh đa làng chòm.Ngày nay các nghệ nhân còn sáng tạo trộn thêm tinh bột gấc vào bột bánh để tạo ra bánh đa gấc được người tiêu dùng ưa chuộng.

Bên cạnh nghề sản xuất bánh đa vừng, làng đắc châu, xã thiệu châu còn có các nghệ nhân sản xuất bánh đa nem, cũng như bánh đa vừng, bánh đa nem được sản xuất dựa trên chất liệu gạo,gạo được chọn kỹ theo loại đặc trưng. gạo được ngâm trong nước sạch và được nghiền thành bột gạo (giống như làm bánh đa vừng). Chỉ khác là bánh đa nem được nghệ nhân dàn mỏng đều như tờ giấy và không cho bất cứ thứ gì vào bánh ngoài gạo. Bánh được hấp chín và đem ra trời nắng phơi khô,sau đó thu lại và xếp bánh thành từng bó đem đi bán.

1.4. Tri thức dân gian: Tổng số lượng 9 di sản.

* Thuốc chữa trị rắn cắn.

- Quá trình ra đời: Các bài thuốc trị rắn cắn của các cá nhân thuộc loại hình tri thức dân gian trên địa bàn huyện Thiệu Hóa đã có từ thời xa xưa; ra đời từ khi nào cơ bản không ai còn nắm rõ, chỉ biết đời này truyền cho đời khác và được duy trì trong dòng tộc, họ hàng, gia đình; hiện nay những bài thuốc trị rắn cắn vẫn được các nghệ nhân, tri thức dân gian nắm giữ và chữa trị khi có người bị rắn cắn.

- Hiện trạng:

+ Số lượng nghệ nhân hiện có: 5 người, độ tuổi 49 tuổi đến 75 tuổi gồm: ông Tô Ngọc Tuấn; sinh năm 1949 thôn 4 làng Viên Nội xã Thiệu Viên; bà Nguyễn Thị Đàn; sinh năm 1940 thôn Nguyên Tân xã Thiệu Nguyên; ông Tô Vinh Bắc; sinh năm 1966 thôn 5 và thôn Lạc đô xã Thiệu Vận; ông Hoàng Đăng Đức thôn Sơn Quý xã Thiệu Châu; ông Lê Hữu Hán thôn Sơn Thịnh xã Thiệu Châu huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

- Số lượng người thực hành: 10 người

- Số lượng học viên hiện nay: 05

- Phương thức truyền dạy: Trao truyền cho con, cháu của nghệ nhân.

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành phương thuốc chữa rắn cắn cá nhân ông Tô Ngọc Tuấn: Phương thuốc này là sự kết hợp giữa các loại lá và cây thuốc sẵn có thong tự nhiên. Nguyên liệu của phương thuốc gồm một số vị: lá, rễ cây và một số vị ông xin giấu tên, ông chỉ hái vò đi rồi cho bệnh nhân uống hoăc rã cho bệnh nhân uồn và lấy bã thuốc đắp vào chỗ bị răn căn. Phương thuốc chữa răn căn này nhai uông lấy nước để ngăn nọc độc của rắn chạy vào tim làm rối loạn tuần hoàn của tim, mạch. gây ức chế hệ thần kinh dẫn đến suy hô hấp, dẫn đến tắt thở. Sau đó dung bả thuốc đắp vào vết răn căn từ từ hút giải phóng nọc độc ra ngoài cơ thể dành lại sự sống cho bênh nhân.

Người bệnh đến miêu tả việc bị rắn cắn, biểu hiện bệnh của mình, ông sẽ kiểm tra nhịp tim, mạnh và theo kinh nghiệm nghề của mình ông đoán bệnh và tính toán liều thuốc để điều trị cho bệnh nhân. Đa số bệnh nhân đến với ông đều được chữa khỏi và cứu sống trong gang tấc, Trừ một số bệnh nhân khi mang đến nhà ông đã quá trễ, không thể nuốt được nước thuốc của ông thì đành phải chấp nhận.

Hiện nay tuy ông chưa truyền dạy lại cho ai nhưng con cái của ông trong nhà cũng học hỏi được.

Đây là phương thuốc quý, không nhưng chữa trị cho những bệnh nhân nhẹ mới bị rắn cắn trong 1 vài giờ đồng hồ mà còn cứu sống được nhiều bệnh nhân quá năng trong gang tấc. Với phương thuốc của ông, ông đã chữa trị cho rất nhiều người trong làng, trong xã, các xã khác, các huyện và nhiều trường hợp ở các tỉnh khác cũng đã tìm đến với ông và đều được ông cứu sông.

Ông lưu ý: Bệnh nhân không may khi bị rắn cắn trước tiên phải garô ngay phía trên vị trí rắn căn để hạn chế nọc độc phát tán nhanh. Không được tùy tiện truyền các loại dịch vì chỉ làm cho nọc độc của răn phát tán nhanh hơn mà thôi.

- Hình thức thực hiện, quy trình thực hành thuốc chữa rắn cắn của cá nhân bà Nguyễn Thị Đàn: Những người không may bị rắn cắn mà không biết là loại rắn nào thi chỉ sau khoảng một vài tiếng đồng hồ sẽ thấy trong người kho chịu, nôn nao, tim đập mạch dần, huyết áp tăng cơ thể tím tái, khó thở nếu nặng có thể dẫn đến hôn mê và tử vong

Khi tiếp cận bệnh nhân bị rắn cắn trước tin bà kiểm tra tim mạch, huyết áp và vết thương để biết được nặng hay nhẹ, lượng độc nhiều hay ít. Sau đó tiến hành làm vệ sinh vết thương bị rắn cắn sạch sẽ từ đó mới quyết định cho bệnh nhân dùng loại thuốc nào liều lượng ra sao.

Thuốc chữa rắn cắn là loại thuốc dùng bằng các loại lá cây có sẵn trong tự nhiên, sau khi hái là thuốc về giữ sạch, cho bệnh nhân nhai thuốc và nuốt hết nước, còn bã thuốc lấy đắp len vết rắn cắn buộc lại, sau đó cho bệnh nhân nằm nghi ngơi khoảng 1 giờ đông hồ rồi kiểm tra lại tim mạch, huyết áp, vết thương. Nếu chưa hút hết được chất độc của rắn cắn ra ngoài hoàn toàn và tim mạch chưa ổn định thì tiếp tục thực hiện miếng thuốc thứ 2, quy trình cũng giống miếng thuốc thứ nhất rồi lại cho bệnh nhân nghỉ ngơi một giờ sau. Sau đó kiểm tra lại tim mạch thấy ổn định hoàn toàn và vết thương đã được hút hết chất độc ra ngoài thì bệnh nhân có thể ra về.

Quá trình thực hành bài thuốc chữa rắn cắn được ông cha truyền lại cho đến nay chưa có ca bệnh nào phải chuyển tuyến các bệnh nhân đều được chữa khỏi tại nhà bà.

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành thuốc chữa rắn cắn của cá nhân ông Tô Vinh Bắc: Dùng 5 loại lá sẵn có mà rễ tìm trong nhân dân để chữa bệnh

Khi bị rắn cắn trước hết phải dùng dây nịt hoặc dây gì cũng được để buộc lại chỗ bị rắn cắn để không cho nọc độc của rắn phát tán vào cơ thể sau đó đi lấy thuốc.

Khi đi hái thuốc tránh tránh được gặp người (nếu gặp người thuốc sẽ không có tác dụng) và cần lấy 5 loại lá để kết kết hợp thành một bài thuốc. Nếu là con trai thì hái tay trái, con gái thì hái tay phải.

Cách chữa:

Dùng 5 loại lá hát về dã lẫn với nhau và lấy nước cho người bệnh uống, đồng thời lấy răng rắn ra và đắp bã lá thuốc vào chỗ bị rắn cắn buộc lại.

Sau từ 10 đến 15 phút người bệnh sẽ dần tỉnh lại và khỏi bệnh.

* Thuốc Nam - Bắc gia truyền.

- Quá trình ra đời: Nghề thuốc Nam - Bắc gia truyền ra đời từ khi nào thì rất nhiều người, nghệ nhân không ai còn biết; chỉ biết nghề thuốc được truyền từ đời này sang đời khác, thế hệ này sang thế hệ khác trong một dòng tộc, họ hàng, gia đình. Theo như một số thông tin của các nghệ nhân hiên còn kể lại thì nghề thuốc Nam - Bắc gia truyền có từ rất xa xưa. Vi dụ như: nghề thuốc Bắc gia truyền của cụ Cửu Nghiên được truyền qua 4 đời: Từ cố cai tên là Phùng Bá Chỉnh (hành nghề từ năm 1920 đến năm 1935), truyền lại cho đời thứ 2 là cụ Phùng Bá Trác (hành nghề từ năm 1935 đên năm 1969), đời thứ 3 kế tục là ông Phùng Bá Viên (kế tục hành nghề từ năm 1969 đến năm 2002). Từ năm 2002 đến nay nghề được hậu duệ đời thứ 4 là lương y Phùng Bá Thứ kế tục và phát huy có hiệu quả; Thuốc Bắc gia truyền của gia đình ông Đỗ Đức Khanh là nghề thuốc gia truyền từ lâu đời, từ thời ông cố truyền lại cho con cháu trong gia đình cho đến ngày nay, người được truyền lại phải là người có đức, có tài và có tâm với nghề, nhiệt tình với người bệnh và không phân biệt con trai hay con gái…

- Hiện trạng: Còn lưu giữ và phát huy tốt.

+ Số lượng nghệ nhân hiện có: 6 người; độ tuổi từ 45 tuổi đến 84 tuổi gồm: ông Phùng Bá Thứ, sinh năm 1970 thôn Châu Giang, xã Thiệu Châu; ông Đỗ Đức Khanh, sinh năm 1932 thôn Quý Hai, xã Thiệu Chính; ông Lê Hữu Bình, sinh năm 1944 thôn 7 xã Thiệu Lý; ông Lê Đình Dung, sinh năm 1941 thôn 9, xã Thiệu Lý; ông Đỗ Khắc Thuần, sinh năm 1931, thôn 2 xã Thiệu Tân; bà Đỗ Thị Cát, sinh năm 1963, thôn 1 xã Thiệu Vận.

+ Số lượng người thực hành: 15 người

+ Số lượng học viên hiện nay: 7

- Phương thức truyền dạy: Truyền nghề, cha truyền con nối

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành các bài thuốc bắc của lương y Phùng Bá Thứ: Khi bệnh nhân được chữa trị, việc đầu tiên là lương y tiếp xúc với bệnh nhân, hỏi bệnh, bắt mạch, xem sắc thái của bệnh nhân để chuẩn đoán bệnh theo kinh nghiệm gia truyền

Bước tiếp theo là kê đơn theo bệnh, và bốc thuốc hướng dẫn cho bệnh nhân sử dụng.

Trong quá trình điều trị, lương y theo dõi tình trạng bệnh của bệnh nhân để điều chỉnh cho phù hợp theo từng giai đoạn.

- Hình thức biểu hiện, Quy trình thực hành phương thuốc gia truyền của cá nhân ông Đỗ Đức Khanh: Chủ yếu là bắt mạch, kê đơn và bốc thuốc, giúp đỡ người bệnh ở khắp địa phương, đều tìm đến gia đình để chữa bệnh.

Quy trình thực hành: Gồm 6 bước:

Bước 1. Khám lâm sàng:

Sau khi tiếp cận người bệnh ông thuwch hiện theo quy trình khám bệnh, hỏi thăm về tình trạng bệnh, tìm hiểu nguyên nhân, triệu chứng, thời gian bị bệnh, kết hợp với việc quan sát các bộ phận như mắt, da, lưỡi, ……

Bước 2. Chuẩn mạch.

- Kế tiếp là chuẩn mạch, dựa trên tình trạng mạch thể mà có thể chuẩn đoán được bệnh mà bệnh nhân mắc phải.

Bước 3. Chuẩn đoán bệnh và kê đơn.

- Dựa trên những thông tin người bệnh cung cấp, kết hợp với kinh nghiệm, quan sát biểu hiện bệnh và chuấn đoán lâm sàng, ông tiến hành lên phác đồ và kê đơn thuốc cho bệnh nhân.

Bước 4. Chuẩn bị thuốc.

Thuốc mà ông sử dụng để trị bệnh chủ yếu là các các vị thuốc bắc cổ truyền từ ngàn đờn xưa truyền lại hàng trăm vị thuốc khác nhau như:

+ Kỷ tử; Đươc quy; Ý dĩ; Thảo quả; Đại hồi; xuyên khung; Bách phấn đằng;

Hoài sen; Đỗ trọng; Hồng hoa; Tam lăng; Nga truật; liên kiều; Quế chi; Phòng phong; cát cánh; Huyền liên; Mạch môn; Thiên môn; Xích thước; Thục địa; Cam toại; bạch truột; Độc hoạt; Cam toại; Huỳnh cầm; Trạt tả; Liên nhục; Trần bí; Cam thảo; Thảo quyết minh; Đinh hương; Bắc mộc hương; Hà thổ ô; Táo tầu; Nhục thụy dung; Ba kích; nhân sâm; Ngũ gia bì; Nhân trần; kim ngân hoa; Kim tiền thảo; Diệp hạ châu; Bạch hoa xà; Linh chi; Hoàng cầm; cát cánh…

Bước 5. Cắt thuốc.

+ Các loại thuốc bắc còn đang ở dang thô như cành cây, hoa, lá, vỏ cây thuốc, hay các dạng củ. cần phải được thái nhỏ, sao tẩm qua nhiều công đoạn để loại bỏ đi những độc tính không cần thiết, nhưng phải giữ lại được những dược tính quý của nguyên liệu.

+ Căn cứ vào đơn thuốc, kết hợp hài hòa các vị thuốc với nhau, để ra thang thuốc có thể điều trị tốt nhất cho người bệnh.

6. Sắc thuốc uốc, theo dõi và điều trị.

Bỏ thang thuốc vào nồi (Tốt nhất là siêu đất) Đổ 3 bát nước lã, sắc nhỏ lửa để không bị mất vị thuốc, thuốc ngấm dần, còn lại 1 bát thì cho ra bát để uống, ngày 2 bát (Sáng – Chiều) Nên uống thuốc khi còn ấm, để thuốc phát huy hết tác dụng. kết hợp với xoa bóp, bấm huyệt và châm cứu,

Lưu ý: Không sắc thuốc bằng củi đu, củi dâu, vì 2 loại củi này sẽ làm mất đi dược tính của thuốc.

Tùy thuộc vào tình trạng bệnh và cơ địa của người bệnh mà thời gian điều trị bệnh sẽ khác nhau. Trung bình mổi bệnh nhân điều trị khoản từ 21 đến 42 ngày. Trong quá trình điều trị bệnh, người bệnh tránh làm việc quá sức, hay tiếp xúc với môi trường độc hại, phải được nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng và tẩm bổ để đảm bảo sức khỏe và nhanh bình phục.

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành của cá nhân ông Lê Hữu Bình. Dùng các loại vỏ cây sẵn có mà rễ lấy trong cộng đồng dân cư để chữa bệnh, tiểu biểu như bó gãy xương, bong gân

Cách chữa: Lấy bã thuốc đắp vào chỗ xương bị gẫy và lấy lá chuối đùm vào chỗ gẫy buộc lại. Sau 5 đến 7 ngày lại thay bó khác khoảng 3 đến bốn lần là khỏi sau đó được uống Ba ấm thuốc gia truyền để hoàn thiện bài chữa, sau này động trời là không bị tê buốt chổ vết thương

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành của cá nhân ông Lê Đình Dung: Dùng thân cây, rễ cây, quả của cây để làm thuốc và bốc thuốc, sắc thuốc theo thang để uống. Trước hết mua nguyên liệu thuốc về, rữa sạch, phơi khô, sao, tẩm. Sau đó say nhỏ thành bột và viên thành viên nhỏ, có loại thì thái nhỏ tiếp tục phơi khô bỏ vào hộp để bảo quản nơi khô thoáng và để vào từng ngăn theo sự sắp đặt của gia đình.

Khi người bệnh đến bắt mạch để chuẩn đoán bệnh hoặc theo lời kể của người bệnh, sau đó kê đơn và bốc thuốc theo thang, mỗi bệnh theo từng loại đơn thuốc, thuốc uống phải theo đơn và sắc theo đơn. Khi sắc thuốc phải sắc theo thang bỏ 3 bát nước nấu lấy 1 bát nước để uống và ít nhất mỗi người bệnh phải uống 3 thang thuốc mới khỏi bệnh.

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành của bà Đỗ Thị Cát: Dùng thân cây, rễ cây, quả của cây để làm thuốc và bốc thuốc, sắc thuốc theo thang để uống.

Trước hết mua nguyên liệu thuốc về, rữa sạch, phơi khô, sao, tẩm. Sau đó say nhỏ thành bột và viên thành viên nhỏ, có loại thì thái nhỏ tiếp tục phơi khô bỏ vào hộp để bảo quản nơi khô thoáng và để vào từng ngăn theo sự sắp đặt của gia đình.

Khi người bệnh đến bắt mạch để chuẩn đoán bệnh hoặc theo lời kể của người bệnh, sau đó kê đơn và bốc thuốc theo thang, mỗi bệnh theo từng loại đơn thuốc, thuốc uống phải theo đơn và sắc theo đơn. Khi sắc thuốc phải sắc theo thang bỏ 3 bát nước nấu lấy 1 bát nước để uống và ít nhất mỗi người bệnh phải uống 3 thang thuốc mới khỏi bệnh.

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành ông Đỗ Khắc Thuần. Với cái tâm của người chữa bệnh, cộng với lòng yêu nghề ông Thuần đã không quản mệt mỏi ngày đêm nghiên cứu dựa trên nghề thuốc gia truyền chữa bệnh gãy trẹo xương khớp của cha ông truyền lại, ông còn sáng tạo ra cho riêng mình một nghề cũng liên quan đến xương khớp loại bệnh rất phổ biến ngày nay đó là: vôi hóa, gai hóa, thoái hóa xương khớp. Qua thời gian, nghề thuốc của ông ngày một phát triển, số lượng bệnh nhân đến điều trị rất đông, người khỏi giới thiệu cho người bệnh, cứ thế hàng năm có đến trên dưới 100 lượt bệnh nhân tới xin được ông điều trị.

- Quy trình thực hiện: Gồm: 5 bước cụ thể:

Bước 1: Khám lâm sàng.

Sau khi tiếp cận người bệnh, bước đầu tiên ông thực hiện trong quy trình thực hành là khám lâm sàng, bằng việc hỏi han nguyên nhân, lý do và thời gian bị bệnh; kết hợp với nắn trực tiếp bằng tay.Từ đó ông chẩn đoán bệnh / kết luận bệnh.

Bước 2: Sơ cứu

Kết luận bệnh nếu gãy xương ông sẽ sơ cứu bằng việc xoa thuốc nước vào chỗ đau, dùng nẹp buộc để cố định đoạn xương bị gãy.

Bước 3: Chuẩn bị nguyên liệu.

Nguyên liệu để điều trị cho một bệnh nhân gồm:

- Thuốc bột: Loại thuốc bột này được ông chuẩn bị sẵn. Vì đây là loại thuốc bột ngâm với rượu dùng để xoa, bóp nên để tạo ra được loại thuốc này phải tiến hành các quy trình sau:

Thành phần: 08 vị thuốc bắc.

Chọn thuốc: Yêu cầu phải lựa chọn thật tỉ mỉ, các vị thuốc này phải tươi, thơm tuyệt đối không được mốc, phải đủ được đúng 08 vị.

Giả thuốc: Giả thủ công bằng cối, giả thật nhỏ, đều, mịn như bột cho trẻ 6 tháng ăn dặm.

Bảo quản: Sau khi giả nhỏ được phơi thêm 03 ngày nắng to, rồi bỏ vào hộp dùng dần.

- Rượu gạo trắng: Rượu dùng ngâm thuốc bắc bột, yều cầu chọn loại rượu gạo nguyên chất, lấy lần đầu tiên của cả nồi rượu.

- Dây buộc: Dùng vải màn mềm.

Được cắt thành từng đoạn dài khoảng 80-100cm, Rộng 20 cm.

- Lá chuối: Dùng đựng thuốc lá sau khi giả nhỏ.

Loại lá này được nghệ nhân sử dụng như một chiếc áo, phần ngọn lá là phần ông sử dụng nhiều nhất.

Có thể để tươi hoặc có thể hơ qua lửa trước khi đem dùng.

Bước 4: Hái thuốc và giả thuốc lá.

- Hái thuốc lá.

Tùy theo loại bệnh và mức độ bệnh mà quy định các loại lá thuốc khác nhau. Tuy nhiên, một miếng thuốc đủ để đắp cho bệnh nhân yêu cầu khoảng 2-3 gam lá.

Lá thuốc xanh tươi, không bị sâu ăn, phẳng lá.

- Giả thuốc lá:

Giả thủ công bằng cối. Yêu cầu giả nhỏ lá là dùng được.

Bước 5: Đắp/ bó lá và điều trị.

Lá thuốc sau khi giả xong được tản đều trên lá chuối, phun một ngậm rượu và rắc thuốc bắc bột lên trên miếng thuốc lá rồi đắp/bó trực tiếp vào phần bị đau của bệnh nhân.

Mỗi một ngày được thay một lần thuốc. Trước khi đắp miếng thuốc mới ông sẽ xoa thuốc bột ngâm rượu khoảng 15 phút.

Thời gian điều trị: Tùy thuộc vào mức độ bệnh mà có thời gian điều trị khác nhau. Tuy nhiên, thời gian điều trị cho một bệnh nhân trung bình từ 15 đến 40 ngày.

Yêu cầu trong quá trình điều trị và sau khi khỏi thời gian đầu người bệnh không được làm việc nặng. Và việc tiếp tục xoa, bóp thuốc bột ngâm rượu là không thể thiếu cho đến khi người bệnh khỏi hoàn toàn. Bởi vì theo quy định của ông, ông chỉ điều trị bằng thuốc lá đạt 80%, 20% còn lại phụ thuộc vào thuốc bắc bột ngâm rượu.

* Thuốc trị mụn cơm, mụn cóc.

- Quá trình ra đời: Trong thời gian tham gia bộ đội và những kiến thức mày mò tự học tập Ông Lê Duy vinh, thôn Sơn Thịnh đã có cho mình bài thuốc chữa mụn cơm, mụn cóc thật kỳ diệu. Cho đến nay đã chữa trị cho nhiều người trong và ngoài địa phương rất hiệu quả .

- Hiện trạng:

+ Số lượng nghệ nhân hiện có: 01 người, là ông Lê Duy Vinh, sinh năm 1946, thôn Sơn Thịnh xã Thiệu Châu, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

+ Số lượng người thực hành: 1 người

+ Số lượng học viên hiện nay: 2 người

- Phương thức truyền dạy: Trao truyền cho con cháu của nghệ nhân.

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành: Khi người bệnh bị mụn cơm, mụn cóc trên cơ thể, Ông Vinh trực tiếp tiếp xúc với người bệnh, Người bị mụn cơm, mụn cóc chỉ cần cắt đưa cho ông Vinh đầu móng tay (nam giới thì 7 đầu móng tay, Nữ giới thì 9 đầu móng tay).

Sau khi lấy móng tay của người bệnh, ông vinh chế tác ra một loại thuốc dấu dạng bột khô, người bệnh nhận thuốc về và làm theo hướng dẫn truyền miệng: Người bệnh khi đang ăn cơm thì tự động đứng dậy nhưng không được bất cứ ai hỏi han gì,người bệnh mang theo bát cơm và đôi đủa đang ăn, cùng gói thuốc , chọn một địa thế vắng vẻ , không ai nhìn thấy , bước tiếp theo là dùng một chiếc đủa cắm xuống đất tạo thành một lỗ nhỏ trên mặt đất, sau đó nhặt hạt cơm trên bát bỏ vào lỗ vừa tạo ra (nam thì nhặt 7 hạt cơ, nữ thì nhặt 9 hạt cơm), tiếp theo bỏ toàn bộ gói thuốc vào lỗ trên, và lại nhặt hạt cơm bỏ vào lỗ theo công thức trên (nam 7 hạt cơm, nữ 9 hạt cơm). Bước cuối cùng dùng chiếc đũa ban đầu cắm vào lỗ trên, cắm cho đũa cặm luốt đất rồi trở về tiếp tục ăn cơm bình thường. Trong quá trình thực hành không được để cho bất cứ ai nhìn thấy .

Sau thời gian thực hành chừng 10 ngày người bệnh sẽ tự khỏi không còn mụn cơm hay mụn cóc trên người mà hoàn toàn không để lại vết sẹo nào.

* Thuốc trị lang ben.

- Quá trình ra đời: Học được bài thuốc trong quá trình tham gia quân ngũ, cùng với tự nghiên cứu, đến nay đã chữa khỏi cho nhiều người bị bệnh lang ben

- Hiện trạng:

+ Số lượng nghệ nhân hiện có: 01 người, là ông Nguyễn Văn Nam, sinh năm 1972, thôn Châu Giang, xã Thiệu Châu, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

+ Số lượng người thực hành: 1 người

+ Số lượng học viên hiện nay: Không

- Phương thức truyền dạy: Không

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành: Chế xuất được bài thuốc chữa bệnh lang ben dưới dạng bọt nước, người bệnh chỉ việc bôi nhiều lần trên phần da bị bệnh nhiều lần thì khỏi, cho đến nay bài thuốc đang phát huy có hiệu quả chữa khỏi cho nhiều người bệnh.

* Thuốc trị bệnh kiết lỵ .

- Quá trình ra đời: Bà Lê Thị Khơn, thôn Sơn Quý được ông Lê Văn Quý là người chồng quá cố truyền cho bài thuốc chữa bệnh kiết lỵ bằng các loại lá cây trong vườn.

Hiện trạng: Đến nay vẫn đang được sử dụng có hiệu quả để chữa bệnh cho người bị bệnh kiết lỵ

+ Số lượng nghệ nhân hiện có: 01 người, là bà Lê Thị Khơn, sinh năm 1935, thôn Sơn Quý, xã Thiệu Châu, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

+ Số lượng người thực hành: 1 người

+ Số lượng học viên hiện nay: 1

- Phương thức truyền dạy: Truyền nghề

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành: Bài thuốc được điều trị cho nhiều người bị bệnh kiết lỵ. Người bị bệnh được uống một loại thuốc triết xuất từ các loại lá cây khác nhau, ngày uống 2 đến 3 lần, dùng trong vong 2 ngày là khỏi. Đến nay bà Lê Thị Khơn đang truyền dạy cho con trai là anh Lê Văn Nghị để được lưu truyền về sau giúp đời cứu người.

* Khoán quai bị.

- Quá trình ra đời: Có từ thời xa xưa không xác định được thời gian.

Hiện trạng: Đến nay vẫn đang được sử dụng có hiệu quả

+ Số lượng nghệ nhân hiện có: 01 người, là ông Nguyễn Quang Thủy, sinh năm1965, thôn Lam Vỹ, xã Thiệu Vũ, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

+ Số lượng người thực hành: 2 người

+ Số lượng học viên hiện nay: 3

- Phương thức truyền dạy: Tiếp thu thực hành trực tiếp

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành: Người khoán quai bị dùng 3 nén hương xạ đen, đốt lên rồi hơ quanh chỗ người bị quai bị dồi đọc

Xứ thanh xứ nghệ xứ đoài

Đồng ngãi quy nhơn ai lỡ độ đường

Trên cho phép tắc, đói ăn rách mặc, ai nấy cũng thương

Thắp một nén hương, đồng cung bái thỉnh

Thằng nào làm bậy thì phải thay ra

Vào ngày mùng 3 ra ngày mùng 4 ở rốn mùng 5

Rắc ra ngoài cổng đánh năm roi đoàn

“ Cấp cấp như luật lệnh”

Nếu là trai đọc 7 lần, con gái đọc 9 lần và cứ vậy làm trong vòng 3 ngày sẽ khỏi

* Cao dán bỏng gia truyền.

- Quá trình ra đời: ra đời từ xa xưa, các thế hệ ông cha truyền lại, chưa xác định được thời gian cụ thể.

- Hiện Trạng:

+ Số lượng nghệ nhân hiện có: 01 người, ông Lê Văn Xồ, sinh năm 1939, thôn 5 xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa,

+ Số lượng người thực hành: 02 người

+ Số học viên hiên có: Không

+ Phương thức truyền dạy: Trao truyền cho con trai của nghệ nhân

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành: Phương thuốc này là sự kết hợp giữa 5 loại thuốc Bắc. Được nấu lên và cô lại thành cao (dạng thuốc mỡ, như mỡ xe). Khi nấu có thể nấu bằng củi hoặc bằng than, không nên nấu lửa to, nấu trong thời gian khoảng 3 – 4 tiếng.

Thuốc được dùng phết vào giấy và dán vào vết thương. Khi dán vào cảm thấy mát, dễ chịu, các chất mủ của vết thương được hút ra theo cao vào miếng giấy dán. Thuốc chữa được các bệnh như: Chữa bỏng; quai bị, nấm, tổ đỉa và các loại nhiễm trùng ngoài da …(loại trừ bệnh nhiễm trùng máu.)

Khi người bệnh đến, ông nhìn bệnh chuẩn đoán và bán thuốc. Tùy vào bệnh mà ông có thể bán nhiều hay ít, thông thường chỉ điều trị 7 – 10 ngày là khỏi. Những người bị nặng thì có thể lâu hơn.

Trong gia đình có 2 ông bà sinh sống, bà vợ ông cũng là người có thể làm được. Hiện nay ông chưa truyền dạy lại cho ai, song được biết ông sẽ truyền nghề lại cho con trai đầu. Đây là phương thuốc quý, chữa trị cho những bệnh nhân mắc bệnh mà dùng thuốc Tây không có khả năng chữa trị khỏi hẳn. Với phương thuốc của ông, ông đã chữa trị cho rất nhiều người trong xã, trong huyện.

* Thuốc chữa hóc xương.

- Quá trình ra đời: Có từ thời xa xưa không xác định được thời gian.

- Hiện Trạng:

+ Số lượng nghệ nhân hiện có: 01 người, ông Tô Vinh Tụ, sinh năm 1948, thôn 5 xã Thiệu Vận, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa,

+ Số lượng người thực hành: 01 người

+ Số học viên hiên có: 02

+ Phương thức truyền dạy: Trao truyền cho con trai của nghệ nhân

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành: Dùng các loại vỏ cây sẵn có mà rễ lấy trong cộng đồng dân cư để chữa bệnh.

Người chữa hóc xương lấy nứa hoặc tre, trẻ ra lấy cật cạo lấy vỏ cây để làm thuốc (không được dùng kim loại để cạo vỏ cây vì dùng kim loại sẽ không có tác dụng) sau đó rửa sạch dã lấy nước.

Cách chữa: Lấy bã thuốc đắp vào chỗ xương bị vướng và lấy khăn buộc lại. Sau đó cho nước thuốc vào miệng khi nào bảo uống thì người bệnh uống, đồng thời người chữa ấn mạnh vào chỗ xương bị vướng và xương sẽ chồi lên đường miệng.

Sau khi xương ra thì phải uống thuốc kháng sinh từ 3- 4 ngày để cho vết thương không bị nhiễm trùng và sau một tuần sẽ khỏi bệnh.

* Trao vía:

- Quá trình ra đời: Có từ thời xa xưa không xác định được thời gian.

- Hiện Trạng:

+ Số lượng nghệ nhân hiện có: 02 người, bà Nguyễn Thị Mùi sinh năm 1931 thôn 5 xã Thiệu Vận; bà Hoàng Thị Nam, sinh năm 1964, thôn Yên Lộ xã Thiệu Vũ

+ Số lượng người thực hành: 3 người

+ Số học viên hiên có: 2 người

+ Phương thức truyền dạy: Trao truyền cho con trai của nghệ nhân

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành. Người Trao vía yêu cầu gia đình nhà có người bị mất vía chuẩn bị một số đồ lễ sau:

- Hương 3 nén (hoặc có người dùng bằng giổ trao)

- 10 miềng cau và 3 lá trầu

- 7 quả trứng ( nếu là trai) 9 quả nếu là gái

- 7 con cá khô ( nếu là trai) 9 con nếu là gái

01 cái áo của người bị mất vía. Tất cả đều được đặt vào một chiếc mâm. Cái mâm này được đặt ở giữa sân (hoặc được đặt ở gian chính giữa nhà)

Lúc này người trao vìa bắt đầu đốt 3 thẻ hương và bắt đầu đọc

Hố vía 3 hồn 7 vía (nếu là trai) 3 hồn 9 vía nếu là nữ

Vía lành thì ở vía dữ thì đi ( rồi lại kêu 3 hồn 7 vía 3 hồn 9 vía)

Trên rừng dưới biển, ngọn cỏ ngọn cây

Bờ sông, bờ bến, đường xa bái ngái ở đâu thì về với Mẹ với Cha

Sau đó người trao vía hỏi vọng ra (nó đã về chưa) Rồi người nhà nói vọng ra (cháu đã về rồi) và cứ vậy làm từ 7 đến chín lần là khỏi bệnh

1.5. Tập quán xã hội. Số lượng 2 di sản.

* Đánh vía, chuộc vía.

- Quá trình ra đời. Ra đời từ xa xưa, không xác định được thời gian.

- Hiện trạng:

+ Số lượng nghệ nhân hiện có: Gồm ông Đỗ Như Thạnh, sinh năm 1935, bà Đỗ Thị Định; sinh năm 1945 thôn 2, xã Thiệu Tân, huyện Thiệu Hóa.

+ Số lượng người thực hành: 02 người

+ Số học viên hiện nay: Không

+ Phương thức truyền dạy: Tập tục.

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành: Theo quan niệm dân gian của người dân xã Thiệu Tân, con người sinh ra có thể xác và hồn vía, đàn ông 3 hồn 7 vía; đàn bà 3 hồn 9 vía. Có nhiều cách lý giải về sự chênh lệch vía giữa đàn ông và đàn bà. Có người cho rằng đàn ông và đàn bà đều có chín cửa (9 khiếu) để giao hòa với vũ trụ. Tuy nhiên, khi mất đi cả chín khiếu đều đóng lại để hồn thoát ra từ trên đỉnh đầu lên trời, tức là giúp cho hồn không bị siêu tán để sau này có thể đầu thai trở lại làm người. Đàn ông được coi là dương có tính chất thăng (lên cao) nhiều hơn nên phần hồn có lẽ tập trung ở phía trên nhiều hơn so với đàn bà là âm có tính chất giáng (trầm lắng) nhiều hơn.

Những người vía nặng là nghững người mà vía của người đó có nhiều khí xấu, năng lượng xấu. Do các trẻ nhỏ có sức đề kháng còn non nớt, lớp hào quang cơ thể của bé còn mỏng và loãng nên dễ bị xâm nhập. Khi những người vía nặng bế đứa bé năng lượng xấu từ người đó truyền sang bé khiến bé khó chịu, bất an, khóc lay lắt suốt đêm không chịu ngủ.

Chính từ quan niệm đó, trong dân gian lưu truyền rất nhiều câu chuyện về vía và chuyện vía lành vía dữ. Trong mỗi gia đình, trẻ mới sinh ra thường được bố mẹ ông bà rất chú ý kiêng kỵ. Đặc biệt là ái ngại những người vía dữ, khi có người lạ đến chơi mà trẻ khóc thì gia đình thường phải đốt vía, trường hợp nặng phải làm lễ cúng vía.

Có khi vì quá sợ hãi bất thần như bị ngã, bị kích động đứa trẻ mất vía hóa ra ngớ ngẩn, lúc ngủ hay giật mình. Muốn đứa trẻ trở lại bình thường, các gia đình phải nhờ thầy cúng làm lễ chuộc vía.

Có những đứa trẻ đang chơi ngoan nhưng gặp người lạ hoặc người có vía dữ thì sẽ quấy khóc suốt đêm và thậm chí là nhiều ngày sau đó ( trong dân gian còn gọi là khóc dạ đề), và theo quan niệm đứa trẻ chỉ hết khóc khi đuổi được vía dữ đi.

Việc cúng vía và đốt vía được cộng đồng người Thiệu Tân thực hành về cơ bản các quy trình là giống nhau, gồm một số bước cụ thể sau:

* Đốt vía:

- Xác định nguyên nhân, phân loại đối tượng (vía đàn ông hay đàn bà).

- Lựa chọn phương tiện đốt: cây gai hoặc dao hoặc đốt đóm lửa...

- Đọc bài đốt vía.

* Cúng vía:

- Xác định mức độ mất vía.

- Lựa chọn vật dụng cúng: áo hoặc quần hoặc mũ.... mà đứa trẻ thường xuyên sử dụng.

- Đọc bài cúng vía.

- Cho đứa trẻ mặc áo/quần/mũ đã cúng vía trong 1 ngày.

Sau khi mượn thầy cúng vía; đốt vía như một phép màu nhiệm đứa trẻ sẽ hết quấy khóc, ăn nhiều, ngủ ngoan. Chính vì lẽ đó, cho nên việc cúng vía hoặc đốt vía được mọi người dân rất coi trọng, nhất là những gia đình đang nuôi trẻ nhỏ.

* Tục kêu vía, cúng cơm mụ.

- Qúa trình ra đời: Quá trình ra đời của tập tục này có từ lâu đời.

- Hiện trạng:

+ Tập tục này do cá nhân bà Tô Thị Thìn, sinh năm 1923, thôn 5 xã Thiệu Viên, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

+ Số lượng người thực hành: 01 người

+ Số học viên hiện nay: Không

+ Phương thức truyền dạy: Tập tục.

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành: Nghi thức kêu vía, cúng cơm mụ phần lễ được sửa soạn hết sức quan trọng và cẩn thận bao gồm: nước, rượu, gạo muối, tiền vàng mã, trầu cau, 12 con cá mắm, 1 quả trứng luộc chia làm 12 miếng, 12 miếng trầu, 12 miếng cau, 12 chén, bát, đũa, kẹo bánh và hoa quả. Bà khấn lạy các bà mụ phù hộ cho đứa trẻ được khỏe mạnh, ngoan ngoãn, hay ăn chóng lớn, ngoan hiền.

Khi có trẻ nhà nào quấy khóc không rõ nguyên nhân, bỏ ăn, bỏ bú, sợ hãi, yếu ớt, hay giật mình. Bà đến dung một con dao và một roi dâu, khấn xin các “vía nặng”, “vía dữ” theo bà đi ra ngoài khỏi người cháu bé, để cháu bé được trở lại bình thường, nhanh nhẹn khỏe mạnh như trước. rất nhiều trường hợp đã được bà kêu vía, cúng cơm mụ và được khỏe mạnh trở lại bình thường, ăn ngủ tốt.

Hiện nay chưa có ai học lại tục kêu vía cúng cơm mụ từ bà, kể cả con cháu trong nhà.

Đây là tập tục có từ rất lâu đời, mang đậm nét văn hóa của người Việt nam. Thể hiện mong muốn tốt đẹp của các bậc cha mẹ đối với con cái mình. Qua việc kêu vía, cúng cơm mụ, trẻ đã khỏe mạnh bình thường trở lại, đem lại một giá trị tinh thần to lớn cho các gia đình. Có giá trị to lớn cả về mặt xã hội và tâm linh.

2. Di sản văn hóa phi vật thể có nguy cơ mai một: Tổng số 3 di sản

2.1. Nghềthủcông truyền thống: Số lượng 3 di sản

* Nghề mây tre đan truyền thống.

- Quá trình ra đời: Làng Thọ Sơn, xã Thiệu Châu gồm 4 thôn; Sơn Phú, Sơn Quý, Sơn Thịnh và Sơn Lộc, từ thuở khai thôn lập ấp, các hộ dân hội tụ về đây sinh sống dựa theo chân núi Go (tên chữ xưa kia núi Go gọi là núi Phượng Lĩnh), với nghề chính là sản xuất nông nghiệp thuần tuý, bên cạnh đó nhân dân làng Thọ Sơn dựa vào địa hình vườn tược rộng dãi, có nhiều tre, mây (tre, mây nơi đây được trồng trên chân đất núi, nên chất lượng rất tốt) đó là điều kiện thuận lợi nhất để phát triển nghề mây tre đan, các sản phẩm chủ yếu là thúng, mũng, dần, sàng, nia, nống …

Làng Thành Thiện vào năm 1952 có một số hộ dân ở nơi khác di cư đến cùng chung sống truyền dạy nghề đan lát cho người dân nơi đây; thủa đầu là đan gầu dai dùng để tát nước tưới cho đồng ruộng, sau đó là rá giổ, nong, nia để dùng và bán cho người dân trung khu vực.

- Hiện trạng: Những năm 1990 trở về trước, đây là nghề thịnh hành của người dân làng Thọ Sơn và làng Thành Thiện. Song đến nay, lao động chính trong của các làng phần lớn đi làm ăn xa, những người thiết tha với nghề cũng không còn nhiều, do đó nghề mây tre đan ở làng Thọ Sơn xã Thiệu Châu và làng Thành Thiện xã Thiệu Thành đang có nguy cơ bị mai một; hiện nay số nghệ nhân đan lát còn rất ít.

- Số nghệ nhân hiện có: 15 người, độ tuổi 60 tuổi đến 70 tuổi

Tiêu biểu một số người như:

+ Lê Xuân Tại, thôn Sơn Phú xã Thiệu Châu

+ Hê Hữu Sở, thôn Sơn Lộc xã Thiệu Châu

+ Lê Duy Đới, thôn Sơn Thịnh xã Thiệu Châu

+ Nguyễn Văn Vậy, thôn Thành Thượng xã Thiệu Thành

+ Hoàng Văn Bòng, thôn Thành Thượng xã Thiệu Thành

+ Hoàng Văn Viễn, thôn Thành Thượng xã Thiệu Thành

- Số lượng người thực hành: 19 người

- Số học viên hiện nay: Không

- Phương thức truyền dạy: Không

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành nghề mây tre đan làng Thọ Sơn: Các sản phẩm làm từ tre, mây, như thúng, mũng, dần, sàng, rỗ, rá, nia, mẹt, nống …được các nghệ nhân nơi đây làm theo kỹ thuật truyền nghề, đẹp mắt, bền, rất tiện dụng cho cuộc sống sinh hoạt, lao động của mỗi gia đình.

Từ cây tre được chặt vào, chẻ thành từng thanh, lọc hết phần bụng, còn lại phần cật tre và phần thân nạc của cây tre,các nghệ nhân sẽ tính toán để sử dụng các kích thước khác nhau cho phù hợp với từng loại sản phẩm, ngắn, dài, dầy, mỏng.

Sau khi phân loại, các thanh tre được chẻ thành nan để đan (cung đoạn này các nghệ nhân gọi là pha nan), chẻ nan xong, từng nan được nghệ nhân vút cho thật bóng,tiếp đến nan được đem vào cung đoạn đan, dát.

Tuỳ từng loại sản phẩm mà áp dụng các kỹ thuật đan khác nhau (đây là bí quyết nghề). Ví dụ: đan long mốt long hai dùng cho đan các loại rổ rủa, đan long ba dùng cho đan mẹt, thúng, mủng,nong, đan long tư sử dụng cho đan nia …ngoài ra sử dụng các kỹ thuật khó như “bỏ tim cho đan nia” - tức là tạo thành sóng nan chảy về mủi nia…

Sau khi đan các loại sản phẩm thành thành phên, thì tiến hành làm cạp sản phẩm và “lận”, rồi “nức”, đây là cung đoạn khó nhất, đòi hỏi nghệ nhân phải thực sự điêu luyện, để làm nên những sản phẩm được người tiêu dùng ưa chuộng.

Mọi sản phẩm đều được “nức” (tức là buộc phên sản phẩm với phần cạp) bởi sợi mây, - từ cây mây được phơi ngoài nắng một nắng cho tái, rồi nghệ nhân chẻ cây mây thành 4 sợi đều nhau, loại bỏ phần bụng, phần cật còn lại đem vút bóng làm dây buộc.

Các sản phẩm làm từ mây, tre của làng thọ sơn đều có chất lượng tốt nhất, và các nghệ nhân làm ra sản phẩm đẹp, đáp ứng được yêu cầu của người tiêu dùng gần xa.

- Hình thức thể hiện, quy trình thực hành nghề mây tre đan làng Thành Thiện: Sản phẩm làm hoàn toàn bằng tre, do lao động thủ công mà có. Qui trình cây tre khoảng 2 năm tuổi trở lên chặt bỏ phần gốc và ngọn, phàn thân lấy làm nan trẻ nhỏ, độ dài ngắn tùy thuộc vào dụng cụ lớn, bé, dùng dao sắc gọt sạch bề mặt, nan trẻ xong đem phơi dưới ánh nắng mặt trời ở nhiệt độ khoảng 30 độ, phơi trong vòng 1 đến 2 giờ đồng hồ, nếu tre già phơi 15 phút thì đem vào đan ngay để nan không bị giòn dễ gãy nan.

Hình thức đan: Đan từ giữa đan ra 4 xung quanh, 4 góc đan sau cùng, tùy theo dụng cụ để có thể đan nong 1,2,3,5.

Đan nong 1 là cài trên 1 nan trận dưới 1 nan; Nong 2,3,5 cũng đan như vậy.

Tiếp theo là phần cạp dùng nẹp buộc chặt bằng cây mây vườn trẻ nhỏ, sau khi hoàn thành sản phẩm, đem hun khói thành màu vàng xẩm là đạt yêu cầu đảm bảo cho sử dụng bền hơn.

Giá trị của sản phẩm đối với cộng đồng: gầu dai trước những năm 1990 dùng tát nước tưới cho đồng ruộng, các vật dụng khác trong gia đình sử dụng rất tiện lợi cho sinh hoạt. Nghề đan có thể thực hiện ở mọi thời điểm ở bất cứ vị trí nào trong gia đình cũng có thể đan được, tiết kiệm được thời gian lúc nông nhàn, để tăng thêm nguồn thu nhập.

* Nghề sản xuất Đậu Phụ.

Quá trình ra đời: Làng Phú Văn xưa kia còn gọi là làng Họ thuộc tổng Vận Quy, nhân dân trong làng sinh sống dọc theo hữu ngạn sông chu, chủ yếu sản xuất nông nghiệp thuần tuý. Từ thuở khai thôn lập ấp, không ai nhớ từ khi nào các hộ gia đình về đây quần tụ bên nhau làm ăn sinh sống, cũng từ đó nnghề sản xuất đậu phụ ra đời gắn liền với đời sống lao động sản xuất nông nghiệp của người dân nơi đây.

- Hiện trạng: Trong thời kỳ trước năm 2000 nghề sản xuất đậu phụ là nghề chính của nhân dân làng Phú Văn, cho thu nhập đáng kể, cho đến nay, trong cơ chế thị trường mở cửa, phần lớn lao động trong làng đi làm ăn xa nhiều nên các hhộ sản xuất đậu phụ giảm nhiều, cả làng chỉ còn 7 hộ gia đình là còn duy trì nghề này.

- Số nghệ nhân hiện có: 10 người

Tiêu biểu như:

+ Nguyễn Hữu Hoa, thôn Phú Văn xã Thiệu Châu

+ Lê Duy Đệ, thôn Phú Văn xã Thiệu Châu

+ Quảng Bá Tài, thôn Phú Văn xã Thiệu Châu

+ Đỗ Trọng Tuấn, thôn Phú Văn xã Thiệu Châu

+ Trần Anh Đài, thôn Phú Văn xã Thiệu Châu

- Số lượng người thực hành: 15 người

- Số học viên hiện nay: 2

- Phương thức truyền dạy: Truyền nghề

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành: Sản xuất đậu phụ là quá trình chuyển đổi từ hạt đậu tương (sản phẩm nông nghiệp) thành thực phẩm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của nhân dân trong vùng, đậu phụ được dùng làm thức ăn trong mỗi bữa cơm của người dân.

Đậu phụ làng Phú Văn được sản xuất theo quy trình thủ công truyền thống cụ thể: Nghệ nhân làm đậu phụ lựa chọn hạt đậu tương phù hợp (đậu tương được chọn hạt phải mẩy, béo, có màu vàng)

Trước tiên, hạt đậu tương được các nghệ nhân rửa sạch, và ngâm trong nước sạch từ 6 đến 8 tiếng đồng hồ. Hạt đậu sau khi ngâm, vỏ hạt đậu được bóc tách , nghệ nhân dùng tay xoa đều cho vỏ đậu bong ra,đãi sạch vỏ đậu còn lại nhân hạt đậu.

Nhân hạt đậu được nghiền thành bột nước, dùng túi vải lọc loại bỏ bả đậu từ đậu tương đã nghiền,giữ lại nước tinh bột đậu tương (hay còn gọi là nước đậu). Đem nước đậu đun sôi, bước tiếp theo dùng nước chua để đánh cái đậu, tức là dùng nước chua pha vào nước đậu đã được đun sôi theo tỷ lệ tương thích (đây là cung đoạn khó nhất của kỷ thuật làm đậu phụ đòi hỏi nghệ nhân phải có kinh nghiệm thực tiễn lâu năm mới có thể làm tốt), vừa pha nước chua vừa quấy đều tạo kết tủa cái đậu, nước chua pha vào nước đậu phải vùa đủ thì đậu mới thơm ngon,nếu ít nước chua, hoặc nhiều nước chua quá thì đậu phụ làm ra sẽ không ngon.Sau khi đánh cái đậu xong, nghệ nhân tách nước ra khỏi hỗn hợp, giữ lại phần cái đậu, cho vào khuôn rồi dùng vật nặng ép cho hết nước còn lẫn trong cái đậu, tạo đông kết thành những thanh đậu phụ cung cấp chô nhân dân sử dụng làm thực phẩm.

Phần nước được tách ra từ hổn hợp đậu kết tủa thì đem ủ theo kỷ thuật cho lên men tạo thành nước chua để dùng cho ngày sản xuất đậu phụ của ngày hôm sau.Bả đậu thì được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi.

* Nghề sản xuất bánh đúc.

- Quá trình ra đời: Làng Go, xưa kia thuộc tổng Vận Quy, huyện Thiệu Hoá, làng Go được cho là làng đứng đầu trong 4 làng của xã Thái Bình: làng Hồng Đô, làng Thọ Sơn, làng Go và làng Họ. Không biết tự bao giờ cái tên làng Go đã gắn liền với nghề làm bánh Đúc, đã có thơ ca rằng:

Bánh đúc Kẻ Go, bánh tày to Quán Lào

Bánh đúc bẻ ba, tôm canh quệt ngược, cửa nhà anh siêu.

- Hiện trạng: Trước những năm 2000 nghề bánh đúc nơi đây khá nổi tiếng là được phần lớn các hộ trong làng tổ chức làm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của nhân dân trong và ngoài địa phương. Cho đến nay, nghề làm bánh đang có nguy cơ mai một. Chỉ còn lại duy nhất một hộ trong làng còn làm nghề này, đó là hộ chị Hoàng Thị Khoa.

- Số nghệ nhân hiện có: 6 người

Tiêu biểu như:

+ Hoàng Thị Khoa, thôn Yên Tân, xã Thiệu Châu

+ Hoàng Duy Kế, thôn Phú Văn, xã Thiệu Châu

+ Quản Bá Tiến, thôn Yên Tân, xã Thiệu Châu

+ Trần Thị Xuân, thôn Yên Tân, xã Thiệu Châu

+ Hoàng Văn Năng, thôn Yên Tân, xã Thiệu Châu

- Số lượng người thực hành: 10 người

- Số học viên hiện nay: Không

- Phương thức truyền dạy: Truyền nghề

- Hình thức biểu hiện, quy trình thực hành: Cái tên làng Go được gắn liền với bánh đúc kẻ Go, khắp nơi xa gần hể nhắc đến làng Go là người ta nghĩ đến hương vị thơm ngon của những chiếc bánh đúc nơi đây.

Trước đây nghề làm bánh đúc được coi là nghề chính đảm bảo đời sống cho nhân dân, mọi người trong làng đều tham gia làm bánh đúc để bán vào các buổi chợ phiên của chợ Go, chợ Dị (xã thiệu Trung), chợ Bái (xã Thiệu Giao), chợ Vồm ( xã Thiêu Khánh ). Sản phẩm bánh đúc được mọi người biết đến và nó cũng mang về thu nhập đảm bảo đời sống cho các hộ trong làng.

Ngày nay, nghề làm bánh đúc ở làng Go tuy không còn thịnh hành, nhưng trong tâm trí mỗi người dân nơi đây luôn nhớ đến cái hương vị nồng nàn, thơm ngon của những chiếc bánh đúc quê mình, nhớ về cái nghề mà một thì đã nuôi sống cả làng trong những năm khó khăn trước đây.

Làm bánh đúc, việc đầu tiên là chọn gạo để làm bánh, việc chọn gạo được coi là bí quyết, chọn gạo phải là gạo tẻ, thơm, dẻo, mềm, không được lẫn các loại gạo khác.

Sau khi lựa chọn gạo chuẩn, gạo được thợ làm bánh ngâm trong nước vôi trong từ 3 đến 4 tiếng đồng hồ, sau đó đem rửa sạch bằng nước sạch, tiếp theo gạo được nghiền thành bột nước mà nước để nghiền bột lại là nước vôi trong với tỉ lệ tương thích (đây là bí quyết nghề đẻ làm nên chiếc bánh đúc ngon, đặc trưng của làng Go)

Bột gạo nghiền xong thì cho vào nồi đun với lửa nhẹ khoảng 1 đến 2 tiếng đồng hồ, trong quá trình đun (nghệ nhân gọi là nấu bánh đúc) người làm bánh dùng đôi đủa cả quấy liên tục đều tay cho đến khi nồi bánh chín, đặc quện lại thì không đun nữa (người làm bánh dựa vào kinh nghiệm để nhận biết)

Bước tiếp theo, nghệ nhân dùng lá chuối tươi, cắt thành miếng vuông kích thước khoảng 5cm x 5cm làm đế bánh, các miếng lá chuối được đặt ra chiếc chiếu được đặt sẵn dưới nền nhà, nghệ nhân dùng hai chiếc phít( phít là miếng mo cau được cắt thành míng hình thang có chiều cao khoảng 10cm, đáy khoảng 5cm và 3cm ). Dùng 2 chiếc phít để múc bột bánh từng ít một dàn thành từng lớp hình tròn vào đế bánh, lớp sau nhỏ hơn lớp trước, dần thu nhỏ dần, tạo thành hình chiếc bánh đúc như ngọn núi thu nhỏ vậy.

Bàn tay thoan thoát của nghệ nhân sau khoảng 30 phút đồng hồ, cả nồi bột bánh đã được làm thành những chiếc bánh đẹp , thơm ngon, bước tiếp theo thợ làm bánh đợi cho bánh nguội hẵn thì đem xếp vào thúng tùng lớp bánh và mang đi bán.

3. Di sản văn hóa phi vật thể đã bị mai một: Tổng số lượng 7 di sản

3.1. Nghệ thuật trình diễn dân gian: Số lượng 01 di sản

- Trò chơi, rước Pháo Ngò làng Ngò xã Thiệu Minh

3.2. Nghềthủcông truyền thống: Số lượng 01 di sản.

- Nghề tróc, đóng thảm bẹ ngô xã Thiệu Thịnh

3.3. Ngữ văn dân gian: Số lượng 2 di sản

- Truyện cổ tích làng Thành Sơn xã Thiệu Thành

- Hát ghẹo, vè, hát đối làng Ngo xã Thiệu Minh

3.4. Tập quán xã hội: Số lượng 3 di sản

- Tục bắt Cuốc cúng Dương Tam Kha làng Thành Đạt xã Thiệu Long

- Thờ cúng thần thành hoàng làng thôn 1 xã Thiệu Viên

- Tục ăn trạ làng Minh Đức xã Thiệu Long

IV. NHỮNG HẠN CHẾ, KHÓ KHẮN, TỒN TẠI TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ:

1. Hạn chế, khó khăn, tồn tại:

Cũng như các địa phương khác trên địa bàn tỉnh, công tác bảo tồn, phát huy giá trị Di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn huyện Thiệu Hóa đang còn rất nhiều những khó khăn, tồn tại:

- Đội ngũcán bộ chuyên môn quản lý di sản chưa được đào tạo đúng chuyên môn dẫn đến năng lực công tác còn hạn chế. Nhiều xã trên địa bàn, số lượng cán bộ văn hóa được đào tạo cơ bản không nhiều, hoặc chỉ được đào tạo bằng cách qua các lớp tập huấn, do đó chưa đủ năng lực để thực hiện công tác quản lý một cách bài bản, khoa học.

- Nguy cơ mai một của nhiều loại hình di sản văn hóa phi vật thể, do các nghệ nhân am hiểu hiểu về di sản đã chết, số nghệ nhân còn lại do tuổi cao, sức yếu, trí nhớ không còn minh mẫm dẫn đến việc sưu tầm, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa phi vật thể chưa tương xứng với tiềm năng hiện có.

- Đặc điểm của di sản văn hóa phi vật thể là tồn tại trong trí nhớ và được lưu truyền thông qua bằng con đường truyền miệng nên việc sưu tầm và xây dựng quy trình thực hành theo đúng truyền thống là rất khó khăn.

- Nguồn kinh phí, ngân sách, phương tiện, con người cần đầu tư­, bố trí cho lĩnh vực này chưa được Nhà nước quan tâm, đầu tư.

- Do đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, nguồn kinh phí xã hội hóa không có nên các lễ hội truyền thống không còn được tổ chức quy mô, bài bản như lễ hội gốc mà được một số người dân tự tổ chức rút gọn thành một nghi lễ nhỏ theo nhu cầu tín ngưỡng của mình, điều này ít nhiều làm mai một, làm biến dạng và mất đi bản chất cốt lõi, hồn cốt văn hóa, ý nghĩa tâm linh tốt đẹp của lễ hội.

- Việc trao truyền lại các nghệ thuật trình diễn, các nghi lễ trong lễ hội truyền thống cho thế hệ trẻ chưa được thực hiện thường xuyên, nhiều loại hình nghệ thuật có nguy cơ bị mai một.

- Ý thức bảo tồn văn hóa dân tộc của một bộ phận người dân (đặc biệt là lớp trẻ) còn yếu nên dễ bị ảnh hưởng bởi văn hóa ngoại lai, tâm lí sính ngoại, ít quan tâm đến văn hóa dân tộc mình.

2. Biện pháp bảo vệ:

Trước những khó khăn, hạn chế, tồn tại trong công tác quản lý di sản nói chung và di sản văn hóa phi di sản văn hóa phi vật thể nói riêng nhằm nâng cao đời sống văn hóa tinh thần, bảo tồn và lưu giữ những nét văn hóa truyền thống trên địa bàn huyện Thiệu Hóa trong thời gian tới cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

- Tăng cường tuyên truyền về bảo tồn văn hóa phi vật thể cho người dân nâng cao nhận thức về truyền thống văn hóa của dân tộc, từ đó mỗi cá nhân có ý thức bảo vệ di sản.

- Thực hiện tốt công tác kiểm kê, lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể tại địa phương một cách khoa học và có hệ thống thông qua việc tư liệu hóa, vật thể hóa hệ thống di sản văn hóa nhằm nhận diện và xác định mức độ tồn tại, giá trịvà sức sống của từng loại di sản văn hóa trong cộng đồng trên cơ sở đó đề xuất phương án bảo tồn, phát huy một cách hiệu quả.

- Nâng cao vai trò quản lý, định hướng của Nhà nước,đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động nhân dân tham gia bảo vệ di sản văn hóa, gắn hoạt động văn hóa dân tộc trong công tác, xây dựng đời sống văn hóa. Trong đó cần chú trọng đến nguyên tắc “bảo tồn sống” tức là bảo tồn các loại hình văn hóa phi vật thể ngay chính trong đời sống cộng đồng.

- Tiếp tục tăng cường công tác quản lý nhà nước về di sản trên địa bàn toàn Huyện, ban hành các văn bản nhằm triển khai có hiệu quả văn bản cấp trên. Gắn việc bảo tồn các giá trị văn hóa vào phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”.

- Có chính sách, chế độ thích đáng cho các nghệ nhân tài giỏi, những cá nhân và gia đình có công giữ gìn các di sản văn hóa dân tộc. Cử cán bộ đi cơ sở khảo sát và có kế hoạch mở lớp đào tạo, truyền dạy kỹ năng thực hành di sản văn hóa phi vật thể.

- Tổ chức nghiên cứu, s­ưu tầm, phục hồi,nâng cao di sản dân ca, dân nhạc, dân vũ của nhân dân để đáp ứng nhu cầu thực tế; xây dựng các tổ, đội văn nghệ truyền thống, nhân rộng các mô hình điểm và tiến tới hướng dẫn người dân biết thực hành các di sản đó.

- Cơ quan chuyên trách cần có chính sách khuyến khích và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân nghiên cứu, sưu tầm, lưu giữ và giới thiệu văn hóa phi vật thể của tỉnh. Đào tạo và tuyển dụng nhân sự yêu thích tìm hiểu nghiên cứu văn hóa dân tộc, có đủ trình độ chuyên môn nghiệp vụ để làm công tác bảo tồn văn hóa phi vật thể.

- Tiếp tục tổ chức các hoạt động liên hoan ca múa nhạc dân gian để chọn một số làng, xã tiêu biểu có giao thông thuận lợi, kết hợp phong cảnh thiên nhiên và ngành nghề thủ công truyền thống tiêu biểu lập dự án bảo tồn, phát huy gắn với hoạt động du lịch cộng đồng.

- Định hướng trong công tác chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức các lễ hội truyền thống, lễ hội dân gian tại các địa phương. Phục hồi một số lễ hội tiêu biểu để có thể tổ chức định kỳ hàng năm.

- Tăng cường, đẩy mạnh hoạt động đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa ở địa phương về công tác bảo tồn và phát huy giá trị cá di sản văn hóa dân gian, xây dựng, sử dụng lực lượng cộng tác viên tại địa phương nhằm tuyên truyền đến người dân ý thức khôi phục và giữ gìn vốn văn hóa của dân tộc.

- Sử dụng các phương tiện hiện đại trong hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc (quay, chụp ảnh lưu giữ làm tư liệu để tuyên truyền phát trên hệ thống đài phát thanh cơ sở...)

- Nhà nước cần đầu tư kinh phí cho các hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa phi vật thể, mở rộng các hình thức xã hội hóa để mọi người dân có thể tham gia bảo vệ di sản văn hóa. Đối với những di sản văn hóa có nguy cơ mai một thì cần đầu tư, nghiên cứu phục dựng lại.

- Trong hoạt động của các đội thông tin lưu động ngoài các thông tin tuyên truyền về pháp luật, về chính sách, lồng ghép tuyên truyền bảo tồn văn hóa dân tộc. Tổ chức các hội nghị tôn vinh những người có công trong hoạt động bảo tồn văn hóa dân tộc.

- Tổ chức duy trì, nhân rộng các câu lạc bộ, các đội văn nghệ xung kích trên địa bàn toàn huyện, bố trí tham gia các hội thao, hội thi, hội diễn văn nghệ quần chúng các làng văn hóa do huyện, tỉnh tổ chức.

3. Đề xuất, kiến nghị:

- Đề nghị Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch trình UBND tỉnh đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa các di sản: Múa đèn chạy chữ, nghề thủ công truyền thống đúc đồng, nghề ươm tơ đẹt nhiễu, nghề làm bánh đa truyền thống, lễ hội truyền thống, múa trống cung đình, đánh bài điếm … trên địa bàn huyện Thiệu Hóa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.

- Đề nghị Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng các cấp có thẩm quyền có kế hoạch phục dựng lại các lễ hội truyền thống nhằm lưu giữ lại những nghi lễ theo đúng truyền thống của dân tộc như: Lễ cúng thần thành hoàng …

- Đề nghị các cấp, các ngành quan tâm hơn nữa tới sự nghiệp văn hóa nói chung và công tác bảo tồn các giá trị văn hóa phi vật thể nói riêng. Quan tâm đầu tư cơ sở vật chất phục vụ việc sinh hoạt văn hóa cộng đồng của nhân dân để công tác tuyên truyền được hiệu quả hơn.

- Tăng cường công tác chỉ đạo của tỉnh đối với cơ sở, thường xuyên có các lớp tập huấn nâng cao nghiệp vụ quản lý di sản cho cơ sở đặc biệt là các huyện khó khăn để nắm bắt các chủ trương, nghị quyết kịp thời.

- Thường xuyên tổ chức các hội thi, hội diễn nhằm tôn vinh các giá trị truyền thống.

- Có những chính sách, chế độ thích hợp cho những người có công bảo tồn, lưu giữ văn hóa dân tộc. Có chế độ khuyến khích người dân thực hành các loại hình di sản một cách thường xuyên.

- Bố trí nguồn kinh phí đầu tư cho hoạt động truyền dạy các di sản.

Trênđây là kết quả kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể huyện Thiệu Hóa năm 2015. UBND huyện Thiệu Hóa báo cáo.

Nơi nhận: - Thường trực UBND; - Sở VHTTDL;

- Phòng Nghiệp vụ Văn hóa;

- Lưu: VT, VHTT.

KT. CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH

Đã ký

Lê Xuân Đào

0 bình luận
(Bấm vào đây để nhận mã)

CÔNG KHAI TIẾN ĐỘ GIẢI QUYẾT TTHC

CHI TIẾT