Ý kiến thăm dò

Bạn đánh giá thế nào về cổng thông tin điện tử huyện Thiệu Hóa

Truy cập

Hôm nay:
900
Hôm qua:
1178
Tuần này:
900
Tháng này:
40992
Tất cả:
2881778

Truyền thống hiếu học của Người Thiệu Hóa trong lịch sử

Đăng lúc: 06/02/2018 (GMT+7)
100%

Từ xa xưa, Thiệu Hóa đã là một địa phương có sự nghiệp Nho học phát triển với truyền thống “Tôn sư trọng đạo”. Nhân dân Thiệu Hóa rất coi trọng việc học và phát huy được truyền thống cử nghiệp.

Truyền thống hiếu học của Người Thiệu Hóa trong lịch sử

Từ xa xưa, Thiệu Hóa đã là một địa phương có sự nghiệp Nho học phát triển với truyền thống “Tôn sư trọng đạo”. Nhân dân Thiệu Hóa rất coi trọng việc học và phát huy được truyền thống cử nghiệp.

Trải qua 188 kỳ thi Đại khoa, từ khoa thi năm Ất Mão (1075) Triều Lý đến khoa thi cuối cùng năm Kỷ Mùi (1919) Triều Nguyễn, cả nước có 2.298 người đỗ Đại khoa, Thanh Hóa có 204 người, Thiệu Hóa có 29 người Đại khoa (trong đó Thời Hậu Lê có 25 người, triều Nguyễn có 4 người).

Có thể khẳng định, Thiệu Hóa trong lịch sử là một vùng đất sản sinh ra rất nhiều nhân tài cho đất nước. Ngày nay, khi đọc lại các chính sách chiêu hiền đãi sĩ của các triều đại phong kiến khi xưa; Hương ước, Quy ước của các làng xã, các danh ngôn, ngạn ngữ,…chúng ta thấy rằng, qua bao thăng trầm của lịch sử, giai đoạn nào cũng thấy xuất hiện những hiền tài và phần lớn trong số những hiền tài ấy đều xuất thân từ những gia đình lao động vất vả, từ những dòng họ, từ những làng quê có bề dày về truyền thống văn hóa, vượt lên mọi khó khăn gian khổ tôi luyện cốt cách, trí tuệ, dùi mài kinh sử để hy vọng có ngày vinh quy bái tổ. Có lẽ vì thế, nhìn vào lịch sử truyền thống các làng văn hóa Thiệu Hóa, chúng ta dễ nhận thấy, ở hầu hết các địa phương đều có những tấm gương hiếu học được sử sách ca ngợi bao đời. Tiêu biểu như:

- Lê Văn Hưu (1230 – 1322) người Phủ Lý Trung, xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa, với chí ham học mới 17 tuổi đã đỗ Bảng nhãn (năm Đinh Mùi 1247), sau làm tới chức Thượng thư Bộ Binh (đời vua Trần Thái Tông), Lâm viện học sĩ, kiêm Quốc Sử viện Giám tu (đời vua Trần Thánh Tông), và là thầy giáo của Thượng tướng Trần Quang Khải, một danh tướng của cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên –Mông. Ông là người khôi ngô tuấn tú, tư chất thông minh. Một hôm đi ngang qua lò rèn, thấy người ta đang làm những cái dùi sắt, Lê Văn Hưu muốn xin một cái để làm dùi đóng sách. Bác thợ rèn thấy chú bé mới tí tuổi đầu đã chăm lo việc học hành, bèn ra một vế đối để thử tài:

Than trong lò, sắt trong lò, lửa trong lò, thổi phì phò đúc nên dùi vở.

Lê Văn Hưu liền đối:

Nghiên ở túi, bút ở túi, giấy ở túi, viết lúi húi mà đậu khôi nguyên.

Bác thợ rèn ngạc nhiên khen ngợi mãi rồi tặng luôn một cái dùi thật xinh, lại kèm theo ít tiền để mua giấy bút.

- Lê Quát (còn gọi là Trạng Quét) sống vào đời vua Lê Nhân Tông, người Phủ Lý, xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, mồ côi cha từ nhỏ, dựng lều sống với mẹ ở chợ và sống bằng nghề quét rác, với chí khí vững bền, lại được vợ động viên cho nên ông đã chăm chỉ học tập và thi đỗ Thái học sinh, sau này làm quan tới chức Thượng thư hữu bật;

- Nguyễn Quán Nho (1637 - 1708) quê xã Vãn Hà, huyện Thụy Nguyên, (nay là thị trấn Vạn Hà, huyện Thiệu Hoá). Đỗ Tiến sĩ (1667) làm quan thời Lê Trịnh, trải các chức Ngự sử, Thị lang rồi đến chức Tham tụng (Tể tướng). Khi mất, tặng tước Quận công. Ông nổi tiếng là người giản dị, khoan hoà đức độ, được nhân dân quí mến. Là người mồ côi cha từ thuở còn thơ ấu. Hai mẹ con đùm bọc lấy nhau, gia cảnh rất ư bần hàn, phải lấy việc mò cua, bắt ốc, đan thừng làm kế mưu sinh.Có lần vào mùa đông lạnh giá, trong nhà không còn hạt gạo nào để nấu cơm, hai mẹ con lại không đi làm được, cậu bé Nho liền sang nhà hàng xóm mượn nồi về nấu cơm, nhưng nhà còn hạt gạo nào đâu để bếp lửa có thể hồng. Kỳ thực, Nho mượn nồi để vét lại những hạt cơm cháy thừa dưới đáy nồi cho hai mẹ con cầm cự qua cơn đói. Việc mượn nồi thỉnh thoảng diễn ra như thế, nhưng lạ nỗi là khi Nho trả nồi thì bao giờ chiếc nồi cũng sạch như chùi. Dần dà hàng xóm hiểu chuyện, thương gia cảnh mẹ con chú bé nghèo khó nên nhiều người khi cho mượn nồi cố tình để lại nhiều cơm cháy cho hai mẹ con. Sau này, dân trong vùng còn gọi ông với cái tên “chàng Cháy” là bởi thế. Dẫu chỉ được bữa đói, bữa no, nhưng chú bé họ Nguyễn lại có chí ham học, thấy bạn bè đi học cũng muốn theo. Ngặt nỗi, nhà nghèo không có tiền thuê thầy dạy huống hồ nói đến việc có sách, bút nghiên mà luyện chữ. Bởi vậy, nhân khi mẹ đi làm thuê cho nhà giàu, Nho theo mẹ, áp tai vào vách nghe thầy giảng bài cho con chủ, lại lấy que củi vạch chữ lên nền đất theo thầy. Nhờ thông minh, lại chăm chỉ luyện rèn, Quán Nho dần quen với chữ thánh hiền.

Cách học của cậu, cũng thật kỳ khôi và sáng tạo. Bút không có, giấy cũng không, cậu dùng gai viết lên các khúc thân xương rồng, rồi sau viết trên lá chuối đóng thành xếp, nhưng lá chuối héo chữ cũng nhăn nheo không đọc được. Thế là Quán Nho viết lên các tàu lá chuối tươi khắp vườn nhà. Nhờ tinh thần ham học ấy, cậu học trò nghèo sôi kinh nấu sử không thôi.Rồi kẻ có công, trời chẳng phụ...Khoa thi năm Đinh Mùi (1667) đời vua Lê Huyền Tông, cậu học trò lấy lá chuối làm vở, lấy que củi làm bút thuở xưa chiếm ngôi nhất bảng (khoa ấy không có tam khôi). Khi ấy, Nguyễn Quán Nho tròn 31 xuân, đúng tuổi “tam thập nhi lập”.

Nên đã có câu: “Tể tướng Vạn Hà, thiên hạ âu ca”.

Nhìn lại những chặng đường lịch sử, Thiệu Hóa cũng như bao địa phương khác, truyền thống hiếu học vẫn là đặc điểm nổi bật trong từng làng xã, dòng họ và từng gia đình của người dân nơi đây. Những tấm gương học sinh hiếu học, gia đình khuyến học, dòng họ khuyến học qua các giai đoạn khó có thể kể hết. Truyền thống hiếu học từ xưa, đến nay được nhân dân Thiệu Hóa giữ gìn và phát huy. Theo thống kê chưa đầy đủ, Thiệu Hóa có hàng trăm người đỗ học hàm giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, tiêu biểu như: GS.TS khoa học Lê Văn Nhương (Thiệu Thịnh), GS.TS Lê Kim Truyền (Thiệu Lý), GS.TS Lê Thành Vinh (Thiệu vũ)…

Điều đáng quan tâm là các thế hệ trưởng thành, công tác ở mọi ngành nghề trên cả nước luôn hướng về quê hương bằng những việc làm thiết thực. Họ là tấm gương cho thế hệ trẻ tiếp bước và góp sức xây dựng quê hương giàu đẹp, văn minh.

Trần Ngọc Tùng - Phó Trưởng phòng VHTT

Truyền thống hiếu học của Người Thiệu Hóa trong lịch sử

Đăng lúc: 06/02/2018 (GMT+7)
100%

Từ xa xưa, Thiệu Hóa đã là một địa phương có sự nghiệp Nho học phát triển với truyền thống “Tôn sư trọng đạo”. Nhân dân Thiệu Hóa rất coi trọng việc học và phát huy được truyền thống cử nghiệp.

Truyền thống hiếu học của Người Thiệu Hóa trong lịch sử

Từ xa xưa, Thiệu Hóa đã là một địa phương có sự nghiệp Nho học phát triển với truyền thống “Tôn sư trọng đạo”. Nhân dân Thiệu Hóa rất coi trọng việc học và phát huy được truyền thống cử nghiệp.

Trải qua 188 kỳ thi Đại khoa, từ khoa thi năm Ất Mão (1075) Triều Lý đến khoa thi cuối cùng năm Kỷ Mùi (1919) Triều Nguyễn, cả nước có 2.298 người đỗ Đại khoa, Thanh Hóa có 204 người, Thiệu Hóa có 29 người Đại khoa (trong đó Thời Hậu Lê có 25 người, triều Nguyễn có 4 người).

Có thể khẳng định, Thiệu Hóa trong lịch sử là một vùng đất sản sinh ra rất nhiều nhân tài cho đất nước. Ngày nay, khi đọc lại các chính sách chiêu hiền đãi sĩ của các triều đại phong kiến khi xưa; Hương ước, Quy ước của các làng xã, các danh ngôn, ngạn ngữ,…chúng ta thấy rằng, qua bao thăng trầm của lịch sử, giai đoạn nào cũng thấy xuất hiện những hiền tài và phần lớn trong số những hiền tài ấy đều xuất thân từ những gia đình lao động vất vả, từ những dòng họ, từ những làng quê có bề dày về truyền thống văn hóa, vượt lên mọi khó khăn gian khổ tôi luyện cốt cách, trí tuệ, dùi mài kinh sử để hy vọng có ngày vinh quy bái tổ. Có lẽ vì thế, nhìn vào lịch sử truyền thống các làng văn hóa Thiệu Hóa, chúng ta dễ nhận thấy, ở hầu hết các địa phương đều có những tấm gương hiếu học được sử sách ca ngợi bao đời. Tiêu biểu như:

- Lê Văn Hưu (1230 – 1322) người Phủ Lý Trung, xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa, với chí ham học mới 17 tuổi đã đỗ Bảng nhãn (năm Đinh Mùi 1247), sau làm tới chức Thượng thư Bộ Binh (đời vua Trần Thái Tông), Lâm viện học sĩ, kiêm Quốc Sử viện Giám tu (đời vua Trần Thánh Tông), và là thầy giáo của Thượng tướng Trần Quang Khải, một danh tướng của cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên –Mông. Ông là người khôi ngô tuấn tú, tư chất thông minh. Một hôm đi ngang qua lò rèn, thấy người ta đang làm những cái dùi sắt, Lê Văn Hưu muốn xin một cái để làm dùi đóng sách. Bác thợ rèn thấy chú bé mới tí tuổi đầu đã chăm lo việc học hành, bèn ra một vế đối để thử tài:

Than trong lò, sắt trong lò, lửa trong lò, thổi phì phò đúc nên dùi vở.

Lê Văn Hưu liền đối:

Nghiên ở túi, bút ở túi, giấy ở túi, viết lúi húi mà đậu khôi nguyên.

Bác thợ rèn ngạc nhiên khen ngợi mãi rồi tặng luôn một cái dùi thật xinh, lại kèm theo ít tiền để mua giấy bút.

- Lê Quát (còn gọi là Trạng Quét) sống vào đời vua Lê Nhân Tông, người Phủ Lý, xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, mồ côi cha từ nhỏ, dựng lều sống với mẹ ở chợ và sống bằng nghề quét rác, với chí khí vững bền, lại được vợ động viên cho nên ông đã chăm chỉ học tập và thi đỗ Thái học sinh, sau này làm quan tới chức Thượng thư hữu bật;

- Nguyễn Quán Nho (1637 - 1708) quê xã Vãn Hà, huyện Thụy Nguyên, (nay là thị trấn Vạn Hà, huyện Thiệu Hoá). Đỗ Tiến sĩ (1667) làm quan thời Lê Trịnh, trải các chức Ngự sử, Thị lang rồi đến chức Tham tụng (Tể tướng). Khi mất, tặng tước Quận công. Ông nổi tiếng là người giản dị, khoan hoà đức độ, được nhân dân quí mến. Là người mồ côi cha từ thuở còn thơ ấu. Hai mẹ con đùm bọc lấy nhau, gia cảnh rất ư bần hàn, phải lấy việc mò cua, bắt ốc, đan thừng làm kế mưu sinh.Có lần vào mùa đông lạnh giá, trong nhà không còn hạt gạo nào để nấu cơm, hai mẹ con lại không đi làm được, cậu bé Nho liền sang nhà hàng xóm mượn nồi về nấu cơm, nhưng nhà còn hạt gạo nào đâu để bếp lửa có thể hồng. Kỳ thực, Nho mượn nồi để vét lại những hạt cơm cháy thừa dưới đáy nồi cho hai mẹ con cầm cự qua cơn đói. Việc mượn nồi thỉnh thoảng diễn ra như thế, nhưng lạ nỗi là khi Nho trả nồi thì bao giờ chiếc nồi cũng sạch như chùi. Dần dà hàng xóm hiểu chuyện, thương gia cảnh mẹ con chú bé nghèo khó nên nhiều người khi cho mượn nồi cố tình để lại nhiều cơm cháy cho hai mẹ con. Sau này, dân trong vùng còn gọi ông với cái tên “chàng Cháy” là bởi thế. Dẫu chỉ được bữa đói, bữa no, nhưng chú bé họ Nguyễn lại có chí ham học, thấy bạn bè đi học cũng muốn theo. Ngặt nỗi, nhà nghèo không có tiền thuê thầy dạy huống hồ nói đến việc có sách, bút nghiên mà luyện chữ. Bởi vậy, nhân khi mẹ đi làm thuê cho nhà giàu, Nho theo mẹ, áp tai vào vách nghe thầy giảng bài cho con chủ, lại lấy que củi vạch chữ lên nền đất theo thầy. Nhờ thông minh, lại chăm chỉ luyện rèn, Quán Nho dần quen với chữ thánh hiền.

Cách học của cậu, cũng thật kỳ khôi và sáng tạo. Bút không có, giấy cũng không, cậu dùng gai viết lên các khúc thân xương rồng, rồi sau viết trên lá chuối đóng thành xếp, nhưng lá chuối héo chữ cũng nhăn nheo không đọc được. Thế là Quán Nho viết lên các tàu lá chuối tươi khắp vườn nhà. Nhờ tinh thần ham học ấy, cậu học trò nghèo sôi kinh nấu sử không thôi.Rồi kẻ có công, trời chẳng phụ...Khoa thi năm Đinh Mùi (1667) đời vua Lê Huyền Tông, cậu học trò lấy lá chuối làm vở, lấy que củi làm bút thuở xưa chiếm ngôi nhất bảng (khoa ấy không có tam khôi). Khi ấy, Nguyễn Quán Nho tròn 31 xuân, đúng tuổi “tam thập nhi lập”.

Nên đã có câu: “Tể tướng Vạn Hà, thiên hạ âu ca”.

Nhìn lại những chặng đường lịch sử, Thiệu Hóa cũng như bao địa phương khác, truyền thống hiếu học vẫn là đặc điểm nổi bật trong từng làng xã, dòng họ và từng gia đình của người dân nơi đây. Những tấm gương học sinh hiếu học, gia đình khuyến học, dòng họ khuyến học qua các giai đoạn khó có thể kể hết. Truyền thống hiếu học từ xưa, đến nay được nhân dân Thiệu Hóa giữ gìn và phát huy. Theo thống kê chưa đầy đủ, Thiệu Hóa có hàng trăm người đỗ học hàm giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, tiêu biểu như: GS.TS khoa học Lê Văn Nhương (Thiệu Thịnh), GS.TS Lê Kim Truyền (Thiệu Lý), GS.TS Lê Thành Vinh (Thiệu vũ)…

Điều đáng quan tâm là các thế hệ trưởng thành, công tác ở mọi ngành nghề trên cả nước luôn hướng về quê hương bằng những việc làm thiết thực. Họ là tấm gương cho thế hệ trẻ tiếp bước và góp sức xây dựng quê hương giàu đẹp, văn minh.

Trần Ngọc Tùng - Phó Trưởng phòng VHTT

CÔNG KHAI TIẾN ĐỘ GIẢI QUYẾT TTHC

CHI TIẾT