Ý kiến thăm dò

Bạn đánh giá thế nào về cổng thông tin điện tử huyện Thiệu Hóa

Truy cập

Hôm nay:
235
Hôm qua:
1202
Tuần này:
235
Tháng này:
22585
Tất cả:
570113

NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ HUYỆN THIỆU HÓA NHIỆM KỲ 2015 - 2020

Ngày 17/08/2017 08:36:01

Đại hội đại biểu lần thứ XIX Đảng bộ huyện Thiệu Hóa họp từ ngày 24 đến ngày 26 - 7 - 2015 tại Trung tâm Hội nghị huyện (thị trấn Vạn Hà). 257 đại biểu chính thức thay mặt cho 8.410 đảng viên của toàn Đảng bộ đã về dự Đại hội.

ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU

ĐẢNG BỘ HUYỆN THIỆU HÓA

LẦN THỨ XIX, NHIỆM KỲ 2015 - 2020

*

Số 01- NQ/ĐH

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM


Thiệu Hóa, ngày 26 tháng 7 năm 2015

NGHỊ QUYẾT

ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ HUYỆN THIỆU HÓA

LẦN THỨ XIX, NHIỆM KỲ 2015 – 2020

---------------------

Đại hội đại biểu lần thứ XIX Đảng bộ huyện Thiệu Hóa họp từ ngày 24 đến ngày 26 - 7 - 2015 tại Trung tâm Hội nghị huyện (thị trấn Vạn Hà). 257 đại biểu chính thức thay mặt cho 8.410 đảng viên của toàn Đảng bộ đã về dự Đại hội.

QUYẾT NGHỊ

I- Tán thành những nội dung cơ bản đánh giá việc thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2010 - 2015 và phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp nhiệm kỳ 2015 - 2020 nêu trong Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ khóa XVIII trình tại Đại hội:

1- Về đánh giá tình hình 5 năm 2010 – 2015, Đại hội khẳng định:

Nhiệm kỳ qua, bên cạnh những thuận lợi cơ bản cũng có không ít khó khăn tác động đến quá trình thực hiện các nhiệm vụ chính trị của huyện. Đảng bộ đã lãnh đạo nhân dân trong huyện tranh thủ thuận lợi, khắc phục khó khăn, nỗ lực phấn đấu đạt được những thành tựu quan trọng và tương đối toàn diện.

1.1. Kinh tế tăng trưởng khá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng; kết cấu hạ tầng được tăng cường. Tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm giai đoạn 2011 - 2015 đạt 11,8%. Thu nhập bình quân đầu người năm 2015 ước đạt 23,1 triệu đồng; vượt kế hoạch 1,6 triệu đồng và gấp 2,3 lần năm 2010. Tỷ trọng giá trị ngành nông nghiệp trong tổng sản phẩm của huyện giảm từ 43% năm 2010 xuống còn 36,4% năm 2015; công nghiệp - xây dựng tăng từ 26% lên 30%, dịch vụ tăng từ 31,1% lên 33,6%. Kết cấu hạ tầng tiếp tục được tăng cường, đã và đang phát huy tác dụng.

1.2- Văn hoá - xã hội, khoa học - công nghệ, môi trường có nhiều tiến bộ, kết hợp hài hoà với phát triển kinh tế. Giáo dục và đào tạo tiếp tục phát triển ổn định, vững chắc, đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân. Học sinh hoàn thành chương trình, tốt nghiệp các cấp học luôn đạt 98,5% trở lên. Kết quả thi học sinh giỏi một số năm đạt khá. Tỷ lệ trúng tuyển vào các trường đại học bình quân đạt 55% số dự thi. Cơ sở vật chất và các điều kiện phát triển giáo dục được tăng cường. Có thêm 22 trường đạt chuẩn quốc gia, đưa tổng số trường đạt chuẩn quốc gia lên 56/88 (63,6%).

Chất lượng công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân, dân số - kế hoạch hóa gia đình có bước tiến bộ. Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế tăng từ 60% năm 2010 lên 66,5% năm 2015. Đến nay, 100% số xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế giai đoạn 2001 – 2010 (trong đó 46,4% đạt chuẩn giai đoạn đến năm 2020). Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hàng năm 0,6%. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng về cân nặng còn 9%, giảm 6,5% so với năm 2010.

Hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao được tổ chức với nhiều hình thức phong phú, đa dạng. Tỷ lệ thôn, đơn vị, gia đình văn hóa tiếp tục tăng. Công tác thông tin, tuyên truyền được thực hiện thường xuyên, hiệu quả. Phong trào thể dục thể thao phát triển rộng khắp.

Các chính sách an sinh xã hội, chính sách đối với người có công luôn được chăm lo thực hiện hiệu quả. Các cấp, các ngành từ huyện đến cơ sở thường xuyên chăm lo đời sống các gia đình chính sách, người có công với cách mạng; đã huy động hàng chục tỷ đồng để giúp đỡ, hỗ trợ các gia đình chính sách, hộ nghèo, và các đối tượng bảo trợ xã hội. Tỷ lệ hộ nghèo cuối năm 2015 ước còn dưới 5%, giảm 17% so với năm 2010, đạt kế hoạch đề ra.

Lĩnh vực KHCN, môi trường có nhiều chuyển biến tích cực. Một số tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất từng bước được nhân ra diện rộng. Vệ sinh môi trường ở hầu hết các xã, thị trấn cơ bản bảo đảm. 5 xã đã đạt tiêu chí môi trường theo chuẩn nông thôn mới.

1.3- Nhiệm vụ quốc phòng, bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội được thực hiện tốt; các cơ quan nội chính hoạt động ngày càng hiệu quả. Thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc. Thực hiện tốt việc kết hợp bảo đảm quốc phòng – an ninh với phát triển kinh tế - xã hội, phòng chống lụt bão, giảm nhẹ thiên tai. An ninh trên các lĩnh vực được giữ vững; trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. Công tác cải cách tư pháp, tuyên truyền, phổ biến pháp luật được đẩy mạnh.

1.4- Các chương trình trọng tâm được triển khai đồng bộ, tổ chức thực hiện đạt kết quả, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.

1.5- Công tác xây dựng Đảng được tăng cường, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng được nâng lên. Công tác chính trị tư tưởng tiếp tục có sự đổi mới, mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần quan trọng thúc đẩy thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị. Công tác tổ chức, cán bộ tiếp tục được đổi mới, nhất là luân chuyển cán bộ đạt hiệu quả rõ rệt. Công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng nghiêm minh, kịp thời, bảo đảm quy định. Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí thường xuyên được quan tâm. Công tác dân vận có nhiều đổi mới, góp phần tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, chính quyền và nhân dân. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) và Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị được thực hiện nghiêm túc, đạt kết quả quan trọng. Phương thức lãnh đạo của các cấp uỷ đảng tiếp tục đổi mới theo hướng khoa học, thiết thực, hiệu quả.

1.6- Hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp được nâng lên; cải cách hành chính đạt kết quả bước đầu. Vai trò, trách nhiệm của HĐND trong việc hoạch định, quyết định các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội được thể hiện ngày càng rõ hơn. Chất lượng các kỳ họp, các hoạt động giám sát, chất vấn, tiếp xúc cử tri tiếp tục được nâng lên. Ủy ban nhân dân các cấp đã bám sát chủ trương của cấp uỷ, các nghị quyết của HĐND, có nhiều giải pháp tích cực để tăng cường công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực. Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức từng bước được nâng lên. Công tác cải cách hành chính đã có nhiều chuyển biến tích cực, thủ tục phiền hà cho người dân và doanh nghiệp.

1.7- Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân từng bước đổi mới về nội dung, phương thức hoạt động; khối đại đoàn kết toàn dân được tăng cường; quyền làm chủ của nhân dân được phát huy. Chất lượng tổ chức, tỷ lệ tập hợp đoàn viên, hội viên ngày càng tăng (đến năm 2014, tỷ lệ tập hợp đều tăng từ 3% - 12%), góp phần ổn định và phát triển toàn diện của huyện.

Đạt được những thành tích, kết quả là do việc thực hiện tốt đường lối đổi mới của Đảng trong những năm qua đã tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển toàn diện của huyện. Bên cạnh đó, huyện luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, sâu sát của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh và các sở, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh. Cấp uỷ đảng, chính quyền, các ban, ngành đoàn thể từ huyện đến cơ sở đã vận dụng sáng tạo chủ trương, đường lối của Đảng vào thực tiễn; phát huy được sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân. Đội ngũ cán bộ nhìn chung dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Nhân dân cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, tin tưởng vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, chính quyền, nỗ lực phấn đấu hoàn thành các nhiệm vụ đề ra.

1.8- Tuy nhiên, trong nhiệm kỳ qua còn có những hạn chế, khuyết điểm: Tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm không đạt kế hoạch; thu nhập bình quân đầu người thấp so với bình quân chung toàn tỉnh; chuyển dịch cơ cấu kinh tế chưa đạt mục tiêu; dự án đầu tư vào địa bàn huyện còn ít. Chất lượng một số lĩnh vực văn hoá - xã hội còn thấp: Chất lương giáo dục toàn diện còn hạn chế; số trường đạt chuẩn quốc gia không đạt chỉ tiêu kế hoạch; công tác đào tạo nghề hiệu quả thấp; chất lượng công tác khám, chữa bệnh, tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân có thời điểm chưa tốt; số trạm y tế có bác sĩ không đạt chỉ tiêu kế hoạch; chất lượng hoạt động của một số thôn, làng, đơn vị văn hóa chưa cao; tình trạng vệ sinh môi trường chưa được quan tâm đúng mức, ảnh hưởng đến đời sống nhân dân; công tác chính sách và an sinh xã hội có nơi thực hiện chưa tốt. Một số mặt công tác quốc phòng - an ninh chưa đáp ứng yêu cầu; chất lượng lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ ở một số địa phương, đơn vị chưa cao; công tác phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm, tai nạn, tệ nạn xã hội có lúc, có nơi chưa chuyển biến tốt; một số tệ nạn xã hội, nhất là cờ bạc, tín dụng đen còn xảy ra, tai nạn giao thông còn cao. Chất lượng một số mặt công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị chưa cao. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng ở một số địa phương, đơn vị hiệu quả hạn chế. Việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh ở một bộ phận cán bộ, đảng viên còn hình thức. Vai trò lãnh đạo của một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa rõ nét. Chất lượng sinh hoạt chi bộ còn hạn chế. Chất lượng quy hoạch cán bộ còn hạn chế, nguồn cán bộ nữ, cán bộ trẻ khó khăn. Quản lý đảng viên đi làm ăn xa chưa tốt. Công tác kiểm tra, giám sát, nhất là việc kiểm tra, giám sát cấp uỷ viên cùng cấp và đảng viên thuộc diện cấp ủy quản lý còn hạn chế. Việc sửa chữa, khắc phục những hạn chế, khuyết điểm đã được chỉ ra sau kiểm điểm theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) vẫn còn chậm. Hoạt động giám sát của HĐND có nơi còn hình thức. Công tác chỉ đạo, điều hành của UBND có việc chưa hiệu quả, thiếu quyết liệt, còn để chậm tiến độ, nhất là trong quản lý tài nguyên khoáng sản, đất đai, thực hiện các kết luận sau thanh tra. Công tác vận động quần chúng chậm đổi mới về nội dung và phương thức hoạt động. Tỷ lệ tập hợp đoàn viên, hội viên và chất lượng, hiệu quả hoạt động của một số chi hội, chi đoàn còn thấp.

Những hạn chế, khuyết điểm có nguyên nhân khách quan, song chủ yếu là nguyên nhân chủ quan. Năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của một số cấp ủy đảng, chính quyền; năng lực thực hiện nhiệm vụ và một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chưa ngang tầm với nhiệm vụ; ý thức trách nhiệm, tính tiền phong, gương mẫu, tính chủ động, sáng tạo chưa cao. Đoàn kết thống nhất, tinh thần phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ ở một số nơi chưa tốt. Công tác nắm bắt thông tin từ cơ sở, dự báo chưa kịp thời, chất lượng thấp, chậm đề ra chủ trương, biện pháp phù hợp. Công tác kiểm tra, giám sát, phát hiện sai phạm, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc ở một số cơ sở hiệu quả chưa cao.

1.9- Thống nhất 3 bài học kinh nghiệm nêu trong Báo cáo chính trị. Đại hội nhấn mạnh phải luôn giữ vững đoàn kết, thống nhất trong Đảng và trong nhân dân. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành của cấp ủy, chính quyền phải toàn diện, thường xuyên chăm lo những vấn đề chiến lược, có trọng tâm, trọng điểm. Tập trung chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” gắn với đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo tinh thần Chỉ thị số 03 của Bộ Chính trị. Thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra, giám sát, tập trung giải quyết kịp thời, dứt điểm những cơ sở yếu kém, xử lý nghiêm minh những cán bộ, đảng viên, tổ chức Đảng có sai phạm.

2- Về phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp nhiệm kỳ 2015 – 2020, Đại hội thống nhất:

2.1- Thống nhất phương hướng chung: Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở; phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân; huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực phát triển kinh tế với tốc độ cao, chất lượng và bền vững; tạo chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng các hoạt động văn hoá, xã hội; kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường, củng cố quốc phòng - an ninh, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân; xây dựng huyện đạt chuẩn nông thôn mới vào năm 2020.

2.2- Thống nhất phương châm hành động: Đoàn kết, dân chủ, kỷ cương, phát triển

2.3- Quyết nghị 28 chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2020:

- Về kinh tế

1. Tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân hàng năm đạt 14,5% trở lên. Trong đó khu vực nông nghiệp, thủy sản tăng 5,1%; khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 16,7%; khu vực dịch vụ tăng 18,9%.

2. Cơ cấu các ngành kinh tế theo giá trị sản xuất: nông, lâm nghiệp và thủy sản 23,5%; công nghiệp - xây dựng 43,4%; dịch vụ 33,1%.

3. Sản lượng lương thực có hạt bình quân hàng năm đạt 112 nghìn tấn.

4. Giá trị sản phẩm trên một ha là 130 triệu đồng.

5. Tổng giá trị hàng hoá xuất khẩu 15 triệu USD.

6. Tổng huy động vốn đầu tư phát triển 5 năm đạt 10.000 tỷ đồng.

7. Thu nhập bình quân đầu người năm 2020 đạt 40 triệu đồng trở lên.

8. Thu ngân sách tăng 15% so với dự toán tỉnh giao.

9. Tỷ lệ số xã, thôn đạt chuẩn nông thôn mới: 75% số xã, 90% số thôn.

10. Tỷ lệ đô thị hóa 18% trở lên.

11. Tỷ lệ đường giao thông trên địa bàn được cứng hóa đạt 100% (không tính quốc lộ và tỉnh lộ).

- Về văn hóa – xã hội

12. Tốc độ tăng dân số bình quân hàng năm 0,6%.

13. 90% số trường trên địa bàn đạt chuẩn quốc gia.

14. Tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động năm 2020 là 23%.

15. 100% xã đạt chuẩn quốc gia về y tế giai đoạn đến năm 2020.

16. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng còn 9%.

17. Có 95% trở lên số thôn, cơ quan, trường học đạt đơn vị văn hóa; 75% xã, thị trấn đạt chuẩn văn hóa; 88% gia đình văn hóa.

18. Tỷ lệ hộ nghèo mỗi năm giảm 2%.

19. Tỷ lệ lao động qua đào tạo 75% trở lên.

20. Số người được giải quyết việc làm mới trong 5 năm là 15.000 người.

21. Tỷ lệ nhà ở kiên cố đạt 75%.

22. Tỷ lệ xã, thị trấn đạt tiêu chí kiểu mẫu theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: 14,3% trở lên.

- Về môi trường

23. Tỷ lệ che phủ rừng: 1%.

24. Tỷ lệ dân số đô thị được dùng nước sạch đạt 95%.

25. Tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 99%.

- Về an ninh trật tự

26. Tỷ lệ khu dân cư đạt tiêu chuẩn an toàn về an ninh trật tự là 80%.

- Về xây dựng Đảng

27. Hàng năm có từ 45% trở lên tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch, vững mạnh.

28. Mỗi năm kết nạp 160 đảng viên trở lên.

2.4- Thống nhất thực hiện 3 chương trình trọng tâm:

1. Chương trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới

2- Chương trình phát triển hạ tầng cụm công nghiệp, làng nghề, thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp

3- Chương trình nâng cao chất lượng đào tạo nghề và xuất khẩu lao động

2.5- Tán thành các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu nêu trong Báo cáo Chính trị, đồng thời nhấn mạnh các nhiệm vụ và giải pháp sau đây:

2.5.1- Tiếp tục xây dựng mới và rà soát, bổ sung, hoàn chỉnh các quy hoạch; đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội theo hướng đồng bộ, từng bước hiện đại

Rà soát, bổ sung, triển khai thực hiện tốt quy hoạch. Xác định lộ trình, huy động các nguồn lực triển khai thực hiện Quy hoạch mở rộng không gian thị trấn Vạn Hà, phấn đấu đến năm 2020 cơ bản hoàn thành đồng bộ hệ thống hạ tầng đô thị, trở thành vùng kinh tế động lực tạo sự lan tỏa đối với các vùng trong huyện. Hoàn chỉnh quy hoạch và đầu tư xây dựng thị trấn Hậu Hiền. Xúc tiến quy hoạch thị trấn Thiệu Giang. Phát triển thị tứ tại trung tâm các xã Thiệu Chính, Thiệu Lý, Thiệu Tiến, Thiệu Công, Thiệu Long, Thiệu Duy.

Đến năm 2020, có 100% đường liên thôn, liên xã được rải nhựa và bê tông hoá; 100% đường thôn, xóm được bê tông hoá; tu sửa, nâng cấp các công trình đầu mối tưới, tiêu; cơ bản hoàn thành kiên cố hoá kênh mương nội đồng; nâng cấp Nhà máy nước sạch Thị trấn Vạn Hà, Thiệu Trung và có thêm 3 nhà máy nước sạch đi vào hoạt động.

2.5.2- Tập trung phát triển kinh tế với tốc độ cao, chất lượng, bền vững; nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm sản xuất trên địa bàn huyện

- Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa; đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới

Phấn đấu đạt mức tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân 5,4%/năm; đến năm 2020, tỷ trọng chăn nuôi chiếm 47% giá trị sản xuất nông nghiệp. Tích cực tham gia thực hiện Đề án tái cơ cấu nông nghiệp đến năm 2020, định hướng đến năm 2025. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với từng vùng, theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Tập trung phát triển sản phẩm có lợi thế. Nâng cao hiệu quả sản xuất vụ đông.

Tiếp tục tập trung chỉ đạo đầu tư xây dựng hệ thống giao thông, thủy lợi. Vận động nhân dân chuyển đổi, tích tụ ruộng đất. Đẩy mạnh chuyển giao công nghệ, tăng cường tập huấn khoa học kỹ thuật, đưa giống mới có chất lượng, giá trị kinh tế cao vào sản xuất. Kêu gọi đầu tư hình thành một số mô hình nông nghiệp công nghệ cao. Hỗ trợ, khuyến khích đẩy nhanh quá trình cơ giới hóa đồng bộ trong tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp.

Đẩy mạnh phong trào xây dựng nông thôn mới. Phấn đấu đến năm 2020 có 75% số xã nông thôn mới, huyện đạt chuẩn nông thôn mới.

- Đẩy mạnh phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nhất là các ngành nghề có lợi thế, nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm

Phấn đấu tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng thời kỳ 2016 - 2020 đạt 18,3%. Tập trung nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh của các sản phẩm hiện có như may mặc, tơ tằm, vật liệu xây dựng, đồ đồng, hàng thủ công mỹ nghệ, mộc dân dụng, nông sản... Bên cạnh đó, chủ động kêu gọi, tạo mọi điều kiện thuận lợi đầu tư các dự án lớn để phát triển những sản phẩm có lợi thế về nguyên liệu và khả năng cạnh tranh trên thị trường, các ngành công nghiệp mới như: chế biến thức ăn gia súc, sản xuất hàng tiêu dùng, gia dụng, điện tử, công nghiệp cơ khí phụ trợ, máy nông nghiệp.

- Phát triển nhanh và đa dạng các loại hình dịch vụ, đưa dịch vụ trở thành ngành tạo ra nhiều việc làm và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế

Phấn đấu giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng hàng năm 18,9%. Giá trị xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ đạt 10 triệu USD năm 2020. Thu hút đầu tư xây dựng trung tâm thương mại, siêu thị tại Thị trấn Vạn Hà, Thiệu Đô. Đẩy mạnh chuyển đổi mô hình quản lý chợ và thực hiện văn minh thương mại. Triển khai xây dựng các chợ theo quy hoạch: chợ đầu mối nông sản, thủy sản, giết mổ tập trung. Tạo điều kiện để nhân dân đầu tư và thu hút đầu tư phát triển hệ thống kho bãi, dịch vụ vận tải dọc Quốc lộ 45, từng bước trở thành trung tâm vận tải hàng hóa, hành khách cho khu vực các huyện phía Tây của tỉnh. Mở rộng, phát triển và nâng cao chất lượng các dịch vụ cơ khí, sửa chữa, viễn thông, ngân hàng, tài chính. Tăng cường quảng bá, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư, từng bước khai thác dịch vụ du lịch sinh thái dọc sông Chu gắn với tham quan các di tích lịch sử văn hóa, di tích cách mạng và các điểm du lịch tâm linh trên địa bàn huyện.

- Hỗ trợ và tạo môi trường thuận lợi thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp, kinh tế hợp tác và hợp tác xã, tăng thu ngân sách

Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, huy động cả hệ thống chính trị tích cực tham gia trong công tác vận động, xúc tiến đầu tư, thông tin, quảng bá hình ảnh, tiềm năng, thế mạnh của huyện.

Làm tốt công tác tư vấn, hướng dẫn, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho hộ sản xuất, kinh doanh cá thể thành lập doanh nghiệp, liên kết thành lập hợp tác xã, tổ hợp tác. Chăm lo phát triển kinh tế tập thể, nòng cốt là hợp tác xã. Hỗ trợ, tạo điều kiện cho hình thành, phát triển các tổ hợp tác kiểu mới và các mô hình kinh tế tập thể theo nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi, phát triển sản xuất.

Quản lý tốt các nguồn thu, có kế hoạch nuôi dưỡng, tạo nguồn thu mới, chống thất thu ngân sách. Khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn thu tiền sử dụng đất cho đầu tư phát triển. Quản lý chặt chẽ và nâng cao hiệu quả chi ngân sách.

- Làm tốt công tác quản lý tài nguyên, khoáng sản, bảo vệ môi trường

Quản lý, sử dụng đất theo quy hoạch, kế hoạch. Đến năm 2020 có 98% trở lên số hộ sử dụng đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thực hiện nghiêm túc Luật Tài nguyên, môi trường. Không để xảy ra tình trạng khai thác trái phép, lãng phí tài nguyên. Đẩy mạnh công tác bảo vệ môi trường. Bảo đảm 100% chất thải y tế được thu gom, xử lý đúng quy định và phấn đấu đến năm 2020, tỷ lệ thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt đạt 90%.

2.5.3- Nâng cao chất lượng toàn diện các lĩnh vực văn hoá - xã hội; đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất và đời sống

Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chất lượng học sinh giỏi, phấn đấu đứng vào tốp huyện có thành tích cao trong tỉnh, học sinh đỗ đại học, cao đẳng hàng năm đạt trên 60% số dự thi (quan tâm học các trường nghề). Đẩy mạnh xây dựng trường chuẩn quốc gia để đến năm 2020 có 90% số trường trên địa bàn huyện đạt chuẩn quốc gia; trong đó 100% trường mầm non, tiểu học (có 50% đạt mức độ II) và 75% trường THCS, 50% trường THPT. Nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm tại chỗ, tạo nguồn lao động trong huyện, trong tỉnh và xuất khẩu lao động. Quan tâm, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các nhóm đối tượng khó khăn, yếu thế được tham gia học nghề, tăng cơ hội việc làm, tự tạo việc làm.

Không ngừng nâng cao chất lượng công tác khám chữa bệnh, bảo vệ chăm sóc sức khỏe nhân dân. Tạo môi trường, điều kiện thuận lợi thu hút bác sĩ công tác tại trạm y tế xã đi đôi với quy định rõ cơ chế trách nhiệm đối với cán bộ các cơ sở y tế được cử đi đào tạo nâng cao trình độ. Đến năm 2020 đạt tỷ lệ 85% trở lên dân số tham gia bảo hiểm y tế.

Phát huy hiệu quả phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, nhất là việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội. Đẩy mạnh xây dựng xã văn hóa nông thôn mới. Hàng năm có 85% số gia đình đạt chuẩn gia đình văn hóa.

Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, chính sách đối với người có công. Bảo đảm các đối tượng đặc biệt khó khăn được trợ giúp để có cuộc sống ổn định và hoà nhập tốt hơn với cộng đồng. Quan tâm giảm nghèo bền vững, phấn đấu mỗi năm giảm 2% hộ nghèo trở lên.

Đẩy mạnh ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đời sống.

2.5.4- Tăng cường quốc phòng – an ninh, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan nội chính

Tiếp tục xây dựng nền quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc. Bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, giữ vững ổn định chính trị, không để xảy ra “điểm nóng”, đột xuất, bất ngờ.

2.5.5- Đổi mới toàn diện công tác xây dựng Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên

- Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác chính trị tư tưởng

Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đổi mới việc ban hành và triển khai thực hiện các chủ trương, nghị quyết của các cấp ủy, tổ chức đảng. Tăng cường tổng kết thực tiễn. Chủ động định hướng dư luận; tích cực đấu tranh, bác bỏ các quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch; làm tốt công tác phòng, chống sự suy thoái về chính trị tư tưởng trong cán bộ, đảng viên, không để xảy ra hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Tiếp tục nâng cao chất lượng toàn diện Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị. Quan tâm bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, thông tin thời sự chính sách cho đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp.

- Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ; tiếp tục xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh

Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ. Quan tâm quy hoạch phát hiện, tuyển chọn, trọng dụng những người có đức, có tài. Kiên quyết thay thế những cán bộ năng lực, phẩm chất đạo đức kém, vi phạm kỷ luật. Phát huy vai trò nền tảng và hạt nhân chính trị của các tổ chức cơ sở đảng. Đổi mới phương thức sinh hoạt của các chi bộ đảng nhằm phát huy trí tuệ, tính tiên phong, gương mẫu của đảng viên. Chú trọng công tác phát triển đảng viên mới.

- Tiếp tục nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp, giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật trong Đảng

Cấp uỷ các cấp phải tích cực, chủ động và trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát gắn với công tác thanh tra, xử lý sai phạm; tập trung vào các lĩnh vực dễ phát sinh sai phạm, phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh. Qua kiểm tra, giám sát phải có đánh giá, kết luận sát thực, kịp thời để phục vụ kịp thời cho công tác lãnh đạo của cấp uỷ.

- Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác dân vận, tạo sự thống nhất, đồng thuận cao trong Đảng và trong nhân dân

Đổi mới nội dung, phương pháp công tác dân vận theo hướng sâu sát cơ sở, nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng và đời sống của nhân dân. Tập hợp các tầng lớp nhân dân thi đua phát triển sản xuất kinh doanh, xây dựng nông thôn mới, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị.

- Làm tốt công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí

Lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

- Tiếp tục thực hiện có hiệu quả nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và Chỉ thị 03 –CT/TW của Bộ Chính trị

Tiếp tục thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp để khắc phục, xử lí, giải quyết dứt điểm những việc tồn đọng và những hạn chế, khuyết điểm đã được chỉ ra qua kiểm điểm theo nội dung Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI gắn với đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

- Đổi mới phương thức lãnh đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ

Các cấp ủy xây dựng và thực hiện nghiêm túc quy chế làm việc, đề cao nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình. Cụ thể hoá nội dung lãnh đạo tập thể, tăng trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu; không để xảy ra tình trạng buông lỏng sự lãnh đạo hoặc bao biện, làm thay. Xây dựng tác phong nói đi đôi với làm. Tăng cường hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, gắn kết quả thực hiện nhiệm vụ với đánh giá cán bộ, đảng viên hằng năm.

2.5.6- Đẩy mạnh xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh

Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND, đại biểu HĐND các cấp. Nâng cao chất lượng các kỳ họp, các hoạt động giám sát, tiếp xúc cử tri. Tăng cường hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn tại các kỳ họp. Tiếp thu và trả lời các ý kiến, kiến nghị của cử tri theo hướng mở rộng dân chủ, thiết thực, hiệu quả, kịp thời.

Nâng cao năng lực quản lý, điều hành của UBND các cấp. Xây dựng phong cách làm việc "trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân". Đẩy mạnh cải cách hành chính. Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trong việc chỉ đạo, quản lý, điều hành; phát huy tính tự chủ, sáng tạo của cấp dưới. Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước; kịp thời biểu dương, tôn vinh, nhân rộng các điển hình tiên tiến.

2.5.7- Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội

Tiếp tục đổi mới hoạt động của MTTQ và đoàn thể theo hướng cụ thể, thiết thực, hiệu quả. Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở. Chăm lo xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân. Phát huy vai trò của MTTQ và các đoàn thể nhân dân trong việc tham gia giải quyết các vấn đề bức xúc tại cơ sở, chăm lo đời sống, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội viên, đoàn viên, nhân dân; giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước.

II- Thông qua Báo cáo kiểm điểm của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa XVIII. Từ kinh nghiệm của khoá trước, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khoá XIX cần nghiên cứu phát huy ưu điểm, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác trong nhiệm kỳ tới.

III- Thông qua Báo cáo tổng kết kết thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Từ kinh nghiệm qua 3 năm thực hiện Nghị quyết, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khoá XIX tiếp tục nêu cao tinh thần, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ đảng viên nhất là người đứng đầu cấp uỷ, gương mẫu trong việc khắc phục những hạn chế, khuyết điểm trong thời gian tới.

IV- Thông qua các Báo cáo tổng hợp ý kiến đóng góp vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và dự thảo Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVII trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII. Giao Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khoá XIX tổng hợp ý kiến thảo luận tại Đại hội để bổ sung, hoàn chỉnh văn bản, báo cáo Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh.

V- Thông qua kết quả bầu Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khoá XIX gồm 39 đồng chí và bầu Đoàn đại biểu đi dự Đại hội đại biểu lần thứ XVII Đảng tỉnh gồm 14 đồng chí đại biểu chính thức và 02 đồng chí đại biểu dự khuyết. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa XIX hoàn chỉnh hồ sơ về kết quả bầu cử, báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy để quyết định chuẩn y theo quy định.

VI- Giao Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa XIX căn cứ vào Nghị quyết Đại hội, Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ XVIII Đảng bộ tỉnh, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, xây dựng chương trình hành động, các kế hoạch công tác để nhanh chóng đưa Nghị quyết Đại hội đi vào thực hiện trong thực tiễn.

Đại hội kêu gọi toàn thể cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong huyện tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, đoàn kết, nhất trí, khắc phục khó khăn, nêu cao tinh thần chủ động, sáng tạo, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, quyết tâm phấn đấu hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội đã đề ra, xây dựng huyện ngày càng giàu đẹp, văn minh.

Nơi nhận:

- Ban Thường vụ Tỉnh ủy (để b/c);

- Văn phòng, các ban Tỉnh ủy (để b/c);

- Thường trực HĐND, UBND huyện;

- Các đ/c Huyện ủy viên;

- Các đơn vị thuộc Huyện ủy, UBND huyện;

- Ủy ban MTTQ, các đoàn thể cấp huyện;

- Các tổ chức cơ sở đảng trong huyện;

- Lưu Văn phòng Huyện ủy.

T/M ĐOÀN CHỦ TỊCH

BÍ THƯ

Hoàng Văn Toản

NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ HUYỆN THIỆU HÓA NHIỆM KỲ 2015 - 2020

Đăng lúc: 17/08/2017 08:36:01 (GMT+7)

Đại hội đại biểu lần thứ XIX Đảng bộ huyện Thiệu Hóa họp từ ngày 24 đến ngày 26 - 7 - 2015 tại Trung tâm Hội nghị huyện (thị trấn Vạn Hà). 257 đại biểu chính thức thay mặt cho 8.410 đảng viên của toàn Đảng bộ đã về dự Đại hội.

ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU

ĐẢNG BỘ HUYỆN THIỆU HÓA

LẦN THỨ XIX, NHIỆM KỲ 2015 - 2020

*

Số 01- NQ/ĐH

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM


Thiệu Hóa, ngày 26 tháng 7 năm 2015

NGHỊ QUYẾT

ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ HUYỆN THIỆU HÓA

LẦN THỨ XIX, NHIỆM KỲ 2015 – 2020

---------------------

Đại hội đại biểu lần thứ XIX Đảng bộ huyện Thiệu Hóa họp từ ngày 24 đến ngày 26 - 7 - 2015 tại Trung tâm Hội nghị huyện (thị trấn Vạn Hà). 257 đại biểu chính thức thay mặt cho 8.410 đảng viên của toàn Đảng bộ đã về dự Đại hội.

QUYẾT NGHỊ

I- Tán thành những nội dung cơ bản đánh giá việc thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2010 - 2015 và phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp nhiệm kỳ 2015 - 2020 nêu trong Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ khóa XVIII trình tại Đại hội:

1- Về đánh giá tình hình 5 năm 2010 – 2015, Đại hội khẳng định:

Nhiệm kỳ qua, bên cạnh những thuận lợi cơ bản cũng có không ít khó khăn tác động đến quá trình thực hiện các nhiệm vụ chính trị của huyện. Đảng bộ đã lãnh đạo nhân dân trong huyện tranh thủ thuận lợi, khắc phục khó khăn, nỗ lực phấn đấu đạt được những thành tựu quan trọng và tương đối toàn diện.

1.1. Kinh tế tăng trưởng khá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng; kết cấu hạ tầng được tăng cường. Tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm giai đoạn 2011 - 2015 đạt 11,8%. Thu nhập bình quân đầu người năm 2015 ước đạt 23,1 triệu đồng; vượt kế hoạch 1,6 triệu đồng và gấp 2,3 lần năm 2010. Tỷ trọng giá trị ngành nông nghiệp trong tổng sản phẩm của huyện giảm từ 43% năm 2010 xuống còn 36,4% năm 2015; công nghiệp - xây dựng tăng từ 26% lên 30%, dịch vụ tăng từ 31,1% lên 33,6%. Kết cấu hạ tầng tiếp tục được tăng cường, đã và đang phát huy tác dụng.

1.2- Văn hoá - xã hội, khoa học - công nghệ, môi trường có nhiều tiến bộ, kết hợp hài hoà với phát triển kinh tế. Giáo dục và đào tạo tiếp tục phát triển ổn định, vững chắc, đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân. Học sinh hoàn thành chương trình, tốt nghiệp các cấp học luôn đạt 98,5% trở lên. Kết quả thi học sinh giỏi một số năm đạt khá. Tỷ lệ trúng tuyển vào các trường đại học bình quân đạt 55% số dự thi. Cơ sở vật chất và các điều kiện phát triển giáo dục được tăng cường. Có thêm 22 trường đạt chuẩn quốc gia, đưa tổng số trường đạt chuẩn quốc gia lên 56/88 (63,6%).

Chất lượng công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân, dân số - kế hoạch hóa gia đình có bước tiến bộ. Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế tăng từ 60% năm 2010 lên 66,5% năm 2015. Đến nay, 100% số xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế giai đoạn 2001 – 2010 (trong đó 46,4% đạt chuẩn giai đoạn đến năm 2020). Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hàng năm 0,6%. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng về cân nặng còn 9%, giảm 6,5% so với năm 2010.

Hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao được tổ chức với nhiều hình thức phong phú, đa dạng. Tỷ lệ thôn, đơn vị, gia đình văn hóa tiếp tục tăng. Công tác thông tin, tuyên truyền được thực hiện thường xuyên, hiệu quả. Phong trào thể dục thể thao phát triển rộng khắp.

Các chính sách an sinh xã hội, chính sách đối với người có công luôn được chăm lo thực hiện hiệu quả. Các cấp, các ngành từ huyện đến cơ sở thường xuyên chăm lo đời sống các gia đình chính sách, người có công với cách mạng; đã huy động hàng chục tỷ đồng để giúp đỡ, hỗ trợ các gia đình chính sách, hộ nghèo, và các đối tượng bảo trợ xã hội. Tỷ lệ hộ nghèo cuối năm 2015 ước còn dưới 5%, giảm 17% so với năm 2010, đạt kế hoạch đề ra.

Lĩnh vực KHCN, môi trường có nhiều chuyển biến tích cực. Một số tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất từng bước được nhân ra diện rộng. Vệ sinh môi trường ở hầu hết các xã, thị trấn cơ bản bảo đảm. 5 xã đã đạt tiêu chí môi trường theo chuẩn nông thôn mới.

1.3- Nhiệm vụ quốc phòng, bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội được thực hiện tốt; các cơ quan nội chính hoạt động ngày càng hiệu quả. Thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc. Thực hiện tốt việc kết hợp bảo đảm quốc phòng – an ninh với phát triển kinh tế - xã hội, phòng chống lụt bão, giảm nhẹ thiên tai. An ninh trên các lĩnh vực được giữ vững; trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. Công tác cải cách tư pháp, tuyên truyền, phổ biến pháp luật được đẩy mạnh.

1.4- Các chương trình trọng tâm được triển khai đồng bộ, tổ chức thực hiện đạt kết quả, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.

1.5- Công tác xây dựng Đảng được tăng cường, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng được nâng lên. Công tác chính trị tư tưởng tiếp tục có sự đổi mới, mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần quan trọng thúc đẩy thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị. Công tác tổ chức, cán bộ tiếp tục được đổi mới, nhất là luân chuyển cán bộ đạt hiệu quả rõ rệt. Công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng nghiêm minh, kịp thời, bảo đảm quy định. Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí thường xuyên được quan tâm. Công tác dân vận có nhiều đổi mới, góp phần tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, chính quyền và nhân dân. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) và Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị được thực hiện nghiêm túc, đạt kết quả quan trọng. Phương thức lãnh đạo của các cấp uỷ đảng tiếp tục đổi mới theo hướng khoa học, thiết thực, hiệu quả.

1.6- Hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp được nâng lên; cải cách hành chính đạt kết quả bước đầu. Vai trò, trách nhiệm của HĐND trong việc hoạch định, quyết định các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội được thể hiện ngày càng rõ hơn. Chất lượng các kỳ họp, các hoạt động giám sát, chất vấn, tiếp xúc cử tri tiếp tục được nâng lên. Ủy ban nhân dân các cấp đã bám sát chủ trương của cấp uỷ, các nghị quyết của HĐND, có nhiều giải pháp tích cực để tăng cường công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực. Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức từng bước được nâng lên. Công tác cải cách hành chính đã có nhiều chuyển biến tích cực, thủ tục phiền hà cho người dân và doanh nghiệp.

1.7- Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân từng bước đổi mới về nội dung, phương thức hoạt động; khối đại đoàn kết toàn dân được tăng cường; quyền làm chủ của nhân dân được phát huy. Chất lượng tổ chức, tỷ lệ tập hợp đoàn viên, hội viên ngày càng tăng (đến năm 2014, tỷ lệ tập hợp đều tăng từ 3% - 12%), góp phần ổn định và phát triển toàn diện của huyện.

Đạt được những thành tích, kết quả là do việc thực hiện tốt đường lối đổi mới của Đảng trong những năm qua đã tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển toàn diện của huyện. Bên cạnh đó, huyện luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, sâu sát của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh và các sở, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh. Cấp uỷ đảng, chính quyền, các ban, ngành đoàn thể từ huyện đến cơ sở đã vận dụng sáng tạo chủ trương, đường lối của Đảng vào thực tiễn; phát huy được sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân. Đội ngũ cán bộ nhìn chung dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Nhân dân cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, tin tưởng vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, chính quyền, nỗ lực phấn đấu hoàn thành các nhiệm vụ đề ra.

1.8- Tuy nhiên, trong nhiệm kỳ qua còn có những hạn chế, khuyết điểm: Tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm không đạt kế hoạch; thu nhập bình quân đầu người thấp so với bình quân chung toàn tỉnh; chuyển dịch cơ cấu kinh tế chưa đạt mục tiêu; dự án đầu tư vào địa bàn huyện còn ít. Chất lượng một số lĩnh vực văn hoá - xã hội còn thấp: Chất lương giáo dục toàn diện còn hạn chế; số trường đạt chuẩn quốc gia không đạt chỉ tiêu kế hoạch; công tác đào tạo nghề hiệu quả thấp; chất lượng công tác khám, chữa bệnh, tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân có thời điểm chưa tốt; số trạm y tế có bác sĩ không đạt chỉ tiêu kế hoạch; chất lượng hoạt động của một số thôn, làng, đơn vị văn hóa chưa cao; tình trạng vệ sinh môi trường chưa được quan tâm đúng mức, ảnh hưởng đến đời sống nhân dân; công tác chính sách và an sinh xã hội có nơi thực hiện chưa tốt. Một số mặt công tác quốc phòng - an ninh chưa đáp ứng yêu cầu; chất lượng lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ ở một số địa phương, đơn vị chưa cao; công tác phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm, tai nạn, tệ nạn xã hội có lúc, có nơi chưa chuyển biến tốt; một số tệ nạn xã hội, nhất là cờ bạc, tín dụng đen còn xảy ra, tai nạn giao thông còn cao. Chất lượng một số mặt công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị chưa cao. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng ở một số địa phương, đơn vị hiệu quả hạn chế. Việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh ở một bộ phận cán bộ, đảng viên còn hình thức. Vai trò lãnh đạo của một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa rõ nét. Chất lượng sinh hoạt chi bộ còn hạn chế. Chất lượng quy hoạch cán bộ còn hạn chế, nguồn cán bộ nữ, cán bộ trẻ khó khăn. Quản lý đảng viên đi làm ăn xa chưa tốt. Công tác kiểm tra, giám sát, nhất là việc kiểm tra, giám sát cấp uỷ viên cùng cấp và đảng viên thuộc diện cấp ủy quản lý còn hạn chế. Việc sửa chữa, khắc phục những hạn chế, khuyết điểm đã được chỉ ra sau kiểm điểm theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) vẫn còn chậm. Hoạt động giám sát của HĐND có nơi còn hình thức. Công tác chỉ đạo, điều hành của UBND có việc chưa hiệu quả, thiếu quyết liệt, còn để chậm tiến độ, nhất là trong quản lý tài nguyên khoáng sản, đất đai, thực hiện các kết luận sau thanh tra. Công tác vận động quần chúng chậm đổi mới về nội dung và phương thức hoạt động. Tỷ lệ tập hợp đoàn viên, hội viên và chất lượng, hiệu quả hoạt động của một số chi hội, chi đoàn còn thấp.

Những hạn chế, khuyết điểm có nguyên nhân khách quan, song chủ yếu là nguyên nhân chủ quan. Năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của một số cấp ủy đảng, chính quyền; năng lực thực hiện nhiệm vụ và một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chưa ngang tầm với nhiệm vụ; ý thức trách nhiệm, tính tiền phong, gương mẫu, tính chủ động, sáng tạo chưa cao. Đoàn kết thống nhất, tinh thần phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ ở một số nơi chưa tốt. Công tác nắm bắt thông tin từ cơ sở, dự báo chưa kịp thời, chất lượng thấp, chậm đề ra chủ trương, biện pháp phù hợp. Công tác kiểm tra, giám sát, phát hiện sai phạm, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc ở một số cơ sở hiệu quả chưa cao.

1.9- Thống nhất 3 bài học kinh nghiệm nêu trong Báo cáo chính trị. Đại hội nhấn mạnh phải luôn giữ vững đoàn kết, thống nhất trong Đảng và trong nhân dân. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành của cấp ủy, chính quyền phải toàn diện, thường xuyên chăm lo những vấn đề chiến lược, có trọng tâm, trọng điểm. Tập trung chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” gắn với đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo tinh thần Chỉ thị số 03 của Bộ Chính trị. Thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra, giám sát, tập trung giải quyết kịp thời, dứt điểm những cơ sở yếu kém, xử lý nghiêm minh những cán bộ, đảng viên, tổ chức Đảng có sai phạm.

2- Về phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp nhiệm kỳ 2015 – 2020, Đại hội thống nhất:

2.1- Thống nhất phương hướng chung: Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở; phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân; huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực phát triển kinh tế với tốc độ cao, chất lượng và bền vững; tạo chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng các hoạt động văn hoá, xã hội; kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường, củng cố quốc phòng - an ninh, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân; xây dựng huyện đạt chuẩn nông thôn mới vào năm 2020.

2.2- Thống nhất phương châm hành động: Đoàn kết, dân chủ, kỷ cương, phát triển

2.3- Quyết nghị 28 chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2020:

- Về kinh tế

1. Tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân hàng năm đạt 14,5% trở lên. Trong đó khu vực nông nghiệp, thủy sản tăng 5,1%; khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 16,7%; khu vực dịch vụ tăng 18,9%.

2. Cơ cấu các ngành kinh tế theo giá trị sản xuất: nông, lâm nghiệp và thủy sản 23,5%; công nghiệp - xây dựng 43,4%; dịch vụ 33,1%.

3. Sản lượng lương thực có hạt bình quân hàng năm đạt 112 nghìn tấn.

4. Giá trị sản phẩm trên một ha là 130 triệu đồng.

5. Tổng giá trị hàng hoá xuất khẩu 15 triệu USD.

6. Tổng huy động vốn đầu tư phát triển 5 năm đạt 10.000 tỷ đồng.

7. Thu nhập bình quân đầu người năm 2020 đạt 40 triệu đồng trở lên.

8. Thu ngân sách tăng 15% so với dự toán tỉnh giao.

9. Tỷ lệ số xã, thôn đạt chuẩn nông thôn mới: 75% số xã, 90% số thôn.

10. Tỷ lệ đô thị hóa 18% trở lên.

11. Tỷ lệ đường giao thông trên địa bàn được cứng hóa đạt 100% (không tính quốc lộ và tỉnh lộ).

- Về văn hóa – xã hội

12. Tốc độ tăng dân số bình quân hàng năm 0,6%.

13. 90% số trường trên địa bàn đạt chuẩn quốc gia.

14. Tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động năm 2020 là 23%.

15. 100% xã đạt chuẩn quốc gia về y tế giai đoạn đến năm 2020.

16. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng còn 9%.

17. Có 95% trở lên số thôn, cơ quan, trường học đạt đơn vị văn hóa; 75% xã, thị trấn đạt chuẩn văn hóa; 88% gia đình văn hóa.

18. Tỷ lệ hộ nghèo mỗi năm giảm 2%.

19. Tỷ lệ lao động qua đào tạo 75% trở lên.

20. Số người được giải quyết việc làm mới trong 5 năm là 15.000 người.

21. Tỷ lệ nhà ở kiên cố đạt 75%.

22. Tỷ lệ xã, thị trấn đạt tiêu chí kiểu mẫu theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: 14,3% trở lên.

- Về môi trường

23. Tỷ lệ che phủ rừng: 1%.

24. Tỷ lệ dân số đô thị được dùng nước sạch đạt 95%.

25. Tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 99%.

- Về an ninh trật tự

26. Tỷ lệ khu dân cư đạt tiêu chuẩn an toàn về an ninh trật tự là 80%.

- Về xây dựng Đảng

27. Hàng năm có từ 45% trở lên tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch, vững mạnh.

28. Mỗi năm kết nạp 160 đảng viên trở lên.

2.4- Thống nhất thực hiện 3 chương trình trọng tâm:

1. Chương trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới

2- Chương trình phát triển hạ tầng cụm công nghiệp, làng nghề, thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp

3- Chương trình nâng cao chất lượng đào tạo nghề và xuất khẩu lao động

2.5- Tán thành các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu nêu trong Báo cáo Chính trị, đồng thời nhấn mạnh các nhiệm vụ và giải pháp sau đây:

2.5.1- Tiếp tục xây dựng mới và rà soát, bổ sung, hoàn chỉnh các quy hoạch; đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội theo hướng đồng bộ, từng bước hiện đại

Rà soát, bổ sung, triển khai thực hiện tốt quy hoạch. Xác định lộ trình, huy động các nguồn lực triển khai thực hiện Quy hoạch mở rộng không gian thị trấn Vạn Hà, phấn đấu đến năm 2020 cơ bản hoàn thành đồng bộ hệ thống hạ tầng đô thị, trở thành vùng kinh tế động lực tạo sự lan tỏa đối với các vùng trong huyện. Hoàn chỉnh quy hoạch và đầu tư xây dựng thị trấn Hậu Hiền. Xúc tiến quy hoạch thị trấn Thiệu Giang. Phát triển thị tứ tại trung tâm các xã Thiệu Chính, Thiệu Lý, Thiệu Tiến, Thiệu Công, Thiệu Long, Thiệu Duy.

Đến năm 2020, có 100% đường liên thôn, liên xã được rải nhựa và bê tông hoá; 100% đường thôn, xóm được bê tông hoá; tu sửa, nâng cấp các công trình đầu mối tưới, tiêu; cơ bản hoàn thành kiên cố hoá kênh mương nội đồng; nâng cấp Nhà máy nước sạch Thị trấn Vạn Hà, Thiệu Trung và có thêm 3 nhà máy nước sạch đi vào hoạt động.

2.5.2- Tập trung phát triển kinh tế với tốc độ cao, chất lượng, bền vững; nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm sản xuất trên địa bàn huyện

- Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa; đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới

Phấn đấu đạt mức tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân 5,4%/năm; đến năm 2020, tỷ trọng chăn nuôi chiếm 47% giá trị sản xuất nông nghiệp. Tích cực tham gia thực hiện Đề án tái cơ cấu nông nghiệp đến năm 2020, định hướng đến năm 2025. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với từng vùng, theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Tập trung phát triển sản phẩm có lợi thế. Nâng cao hiệu quả sản xuất vụ đông.

Tiếp tục tập trung chỉ đạo đầu tư xây dựng hệ thống giao thông, thủy lợi. Vận động nhân dân chuyển đổi, tích tụ ruộng đất. Đẩy mạnh chuyển giao công nghệ, tăng cường tập huấn khoa học kỹ thuật, đưa giống mới có chất lượng, giá trị kinh tế cao vào sản xuất. Kêu gọi đầu tư hình thành một số mô hình nông nghiệp công nghệ cao. Hỗ trợ, khuyến khích đẩy nhanh quá trình cơ giới hóa đồng bộ trong tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp.

Đẩy mạnh phong trào xây dựng nông thôn mới. Phấn đấu đến năm 2020 có 75% số xã nông thôn mới, huyện đạt chuẩn nông thôn mới.

- Đẩy mạnh phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nhất là các ngành nghề có lợi thế, nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm

Phấn đấu tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng thời kỳ 2016 - 2020 đạt 18,3%. Tập trung nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh của các sản phẩm hiện có như may mặc, tơ tằm, vật liệu xây dựng, đồ đồng, hàng thủ công mỹ nghệ, mộc dân dụng, nông sản... Bên cạnh đó, chủ động kêu gọi, tạo mọi điều kiện thuận lợi đầu tư các dự án lớn để phát triển những sản phẩm có lợi thế về nguyên liệu và khả năng cạnh tranh trên thị trường, các ngành công nghiệp mới như: chế biến thức ăn gia súc, sản xuất hàng tiêu dùng, gia dụng, điện tử, công nghiệp cơ khí phụ trợ, máy nông nghiệp.

- Phát triển nhanh và đa dạng các loại hình dịch vụ, đưa dịch vụ trở thành ngành tạo ra nhiều việc làm và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế

Phấn đấu giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng hàng năm 18,9%. Giá trị xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ đạt 10 triệu USD năm 2020. Thu hút đầu tư xây dựng trung tâm thương mại, siêu thị tại Thị trấn Vạn Hà, Thiệu Đô. Đẩy mạnh chuyển đổi mô hình quản lý chợ và thực hiện văn minh thương mại. Triển khai xây dựng các chợ theo quy hoạch: chợ đầu mối nông sản, thủy sản, giết mổ tập trung. Tạo điều kiện để nhân dân đầu tư và thu hút đầu tư phát triển hệ thống kho bãi, dịch vụ vận tải dọc Quốc lộ 45, từng bước trở thành trung tâm vận tải hàng hóa, hành khách cho khu vực các huyện phía Tây của tỉnh. Mở rộng, phát triển và nâng cao chất lượng các dịch vụ cơ khí, sửa chữa, viễn thông, ngân hàng, tài chính. Tăng cường quảng bá, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư, từng bước khai thác dịch vụ du lịch sinh thái dọc sông Chu gắn với tham quan các di tích lịch sử văn hóa, di tích cách mạng và các điểm du lịch tâm linh trên địa bàn huyện.

- Hỗ trợ và tạo môi trường thuận lợi thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp, kinh tế hợp tác và hợp tác xã, tăng thu ngân sách

Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, huy động cả hệ thống chính trị tích cực tham gia trong công tác vận động, xúc tiến đầu tư, thông tin, quảng bá hình ảnh, tiềm năng, thế mạnh của huyện.

Làm tốt công tác tư vấn, hướng dẫn, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho hộ sản xuất, kinh doanh cá thể thành lập doanh nghiệp, liên kết thành lập hợp tác xã, tổ hợp tác. Chăm lo phát triển kinh tế tập thể, nòng cốt là hợp tác xã. Hỗ trợ, tạo điều kiện cho hình thành, phát triển các tổ hợp tác kiểu mới và các mô hình kinh tế tập thể theo nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi, phát triển sản xuất.

Quản lý tốt các nguồn thu, có kế hoạch nuôi dưỡng, tạo nguồn thu mới, chống thất thu ngân sách. Khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn thu tiền sử dụng đất cho đầu tư phát triển. Quản lý chặt chẽ và nâng cao hiệu quả chi ngân sách.

- Làm tốt công tác quản lý tài nguyên, khoáng sản, bảo vệ môi trường

Quản lý, sử dụng đất theo quy hoạch, kế hoạch. Đến năm 2020 có 98% trở lên số hộ sử dụng đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thực hiện nghiêm túc Luật Tài nguyên, môi trường. Không để xảy ra tình trạng khai thác trái phép, lãng phí tài nguyên. Đẩy mạnh công tác bảo vệ môi trường. Bảo đảm 100% chất thải y tế được thu gom, xử lý đúng quy định và phấn đấu đến năm 2020, tỷ lệ thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt đạt 90%.

2.5.3- Nâng cao chất lượng toàn diện các lĩnh vực văn hoá - xã hội; đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất và đời sống

Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chất lượng học sinh giỏi, phấn đấu đứng vào tốp huyện có thành tích cao trong tỉnh, học sinh đỗ đại học, cao đẳng hàng năm đạt trên 60% số dự thi (quan tâm học các trường nghề). Đẩy mạnh xây dựng trường chuẩn quốc gia để đến năm 2020 có 90% số trường trên địa bàn huyện đạt chuẩn quốc gia; trong đó 100% trường mầm non, tiểu học (có 50% đạt mức độ II) và 75% trường THCS, 50% trường THPT. Nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm tại chỗ, tạo nguồn lao động trong huyện, trong tỉnh và xuất khẩu lao động. Quan tâm, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các nhóm đối tượng khó khăn, yếu thế được tham gia học nghề, tăng cơ hội việc làm, tự tạo việc làm.

Không ngừng nâng cao chất lượng công tác khám chữa bệnh, bảo vệ chăm sóc sức khỏe nhân dân. Tạo môi trường, điều kiện thuận lợi thu hút bác sĩ công tác tại trạm y tế xã đi đôi với quy định rõ cơ chế trách nhiệm đối với cán bộ các cơ sở y tế được cử đi đào tạo nâng cao trình độ. Đến năm 2020 đạt tỷ lệ 85% trở lên dân số tham gia bảo hiểm y tế.

Phát huy hiệu quả phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, nhất là việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội. Đẩy mạnh xây dựng xã văn hóa nông thôn mới. Hàng năm có 85% số gia đình đạt chuẩn gia đình văn hóa.

Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, chính sách đối với người có công. Bảo đảm các đối tượng đặc biệt khó khăn được trợ giúp để có cuộc sống ổn định và hoà nhập tốt hơn với cộng đồng. Quan tâm giảm nghèo bền vững, phấn đấu mỗi năm giảm 2% hộ nghèo trở lên.

Đẩy mạnh ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đời sống.

2.5.4- Tăng cường quốc phòng – an ninh, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan nội chính

Tiếp tục xây dựng nền quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc. Bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, giữ vững ổn định chính trị, không để xảy ra “điểm nóng”, đột xuất, bất ngờ.

2.5.5- Đổi mới toàn diện công tác xây dựng Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên

- Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác chính trị tư tưởng

Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đổi mới việc ban hành và triển khai thực hiện các chủ trương, nghị quyết của các cấp ủy, tổ chức đảng. Tăng cường tổng kết thực tiễn. Chủ động định hướng dư luận; tích cực đấu tranh, bác bỏ các quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch; làm tốt công tác phòng, chống sự suy thoái về chính trị tư tưởng trong cán bộ, đảng viên, không để xảy ra hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Tiếp tục nâng cao chất lượng toàn diện Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị. Quan tâm bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, thông tin thời sự chính sách cho đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp.

- Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ; tiếp tục xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh

Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ. Quan tâm quy hoạch phát hiện, tuyển chọn, trọng dụng những người có đức, có tài. Kiên quyết thay thế những cán bộ năng lực, phẩm chất đạo đức kém, vi phạm kỷ luật. Phát huy vai trò nền tảng và hạt nhân chính trị của các tổ chức cơ sở đảng. Đổi mới phương thức sinh hoạt của các chi bộ đảng nhằm phát huy trí tuệ, tính tiên phong, gương mẫu của đảng viên. Chú trọng công tác phát triển đảng viên mới.

- Tiếp tục nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp, giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật trong Đảng

Cấp uỷ các cấp phải tích cực, chủ động và trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát gắn với công tác thanh tra, xử lý sai phạm; tập trung vào các lĩnh vực dễ phát sinh sai phạm, phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh. Qua kiểm tra, giám sát phải có đánh giá, kết luận sát thực, kịp thời để phục vụ kịp thời cho công tác lãnh đạo của cấp uỷ.

- Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác dân vận, tạo sự thống nhất, đồng thuận cao trong Đảng và trong nhân dân

Đổi mới nội dung, phương pháp công tác dân vận theo hướng sâu sát cơ sở, nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng và đời sống của nhân dân. Tập hợp các tầng lớp nhân dân thi đua phát triển sản xuất kinh doanh, xây dựng nông thôn mới, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị.

- Làm tốt công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí

Lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

- Tiếp tục thực hiện có hiệu quả nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và Chỉ thị 03 –CT/TW của Bộ Chính trị

Tiếp tục thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp để khắc phục, xử lí, giải quyết dứt điểm những việc tồn đọng và những hạn chế, khuyết điểm đã được chỉ ra qua kiểm điểm theo nội dung Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI gắn với đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

- Đổi mới phương thức lãnh đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ

Các cấp ủy xây dựng và thực hiện nghiêm túc quy chế làm việc, đề cao nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình. Cụ thể hoá nội dung lãnh đạo tập thể, tăng trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu; không để xảy ra tình trạng buông lỏng sự lãnh đạo hoặc bao biện, làm thay. Xây dựng tác phong nói đi đôi với làm. Tăng cường hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, gắn kết quả thực hiện nhiệm vụ với đánh giá cán bộ, đảng viên hằng năm.

2.5.6- Đẩy mạnh xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh

Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND, đại biểu HĐND các cấp. Nâng cao chất lượng các kỳ họp, các hoạt động giám sát, tiếp xúc cử tri. Tăng cường hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn tại các kỳ họp. Tiếp thu và trả lời các ý kiến, kiến nghị của cử tri theo hướng mở rộng dân chủ, thiết thực, hiệu quả, kịp thời.

Nâng cao năng lực quản lý, điều hành của UBND các cấp. Xây dựng phong cách làm việc "trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân". Đẩy mạnh cải cách hành chính. Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trong việc chỉ đạo, quản lý, điều hành; phát huy tính tự chủ, sáng tạo của cấp dưới. Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước; kịp thời biểu dương, tôn vinh, nhân rộng các điển hình tiên tiến.

2.5.7- Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội

Tiếp tục đổi mới hoạt động của MTTQ và đoàn thể theo hướng cụ thể, thiết thực, hiệu quả. Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở. Chăm lo xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân. Phát huy vai trò của MTTQ và các đoàn thể nhân dân trong việc tham gia giải quyết các vấn đề bức xúc tại cơ sở, chăm lo đời sống, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội viên, đoàn viên, nhân dân; giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước.

II- Thông qua Báo cáo kiểm điểm của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa XVIII. Từ kinh nghiệm của khoá trước, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khoá XIX cần nghiên cứu phát huy ưu điểm, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác trong nhiệm kỳ tới.

III- Thông qua Báo cáo tổng kết kết thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Từ kinh nghiệm qua 3 năm thực hiện Nghị quyết, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khoá XIX tiếp tục nêu cao tinh thần, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ đảng viên nhất là người đứng đầu cấp uỷ, gương mẫu trong việc khắc phục những hạn chế, khuyết điểm trong thời gian tới.

IV- Thông qua các Báo cáo tổng hợp ý kiến đóng góp vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và dự thảo Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVII trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII. Giao Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khoá XIX tổng hợp ý kiến thảo luận tại Đại hội để bổ sung, hoàn chỉnh văn bản, báo cáo Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh.

V- Thông qua kết quả bầu Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khoá XIX gồm 39 đồng chí và bầu Đoàn đại biểu đi dự Đại hội đại biểu lần thứ XVII Đảng tỉnh gồm 14 đồng chí đại biểu chính thức và 02 đồng chí đại biểu dự khuyết. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa XIX hoàn chỉnh hồ sơ về kết quả bầu cử, báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy để quyết định chuẩn y theo quy định.

VI- Giao Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa XIX căn cứ vào Nghị quyết Đại hội, Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ XVIII Đảng bộ tỉnh, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, xây dựng chương trình hành động, các kế hoạch công tác để nhanh chóng đưa Nghị quyết Đại hội đi vào thực hiện trong thực tiễn.

Đại hội kêu gọi toàn thể cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong huyện tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, đoàn kết, nhất trí, khắc phục khó khăn, nêu cao tinh thần chủ động, sáng tạo, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, quyết tâm phấn đấu hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội đã đề ra, xây dựng huyện ngày càng giàu đẹp, văn minh.

Nơi nhận:

- Ban Thường vụ Tỉnh ủy (để b/c);

- Văn phòng, các ban Tỉnh ủy (để b/c);

- Thường trực HĐND, UBND huyện;

- Các đ/c Huyện ủy viên;

- Các đơn vị thuộc Huyện ủy, UBND huyện;

- Ủy ban MTTQ, các đoàn thể cấp huyện;

- Các tổ chức cơ sở đảng trong huyện;

- Lưu Văn phòng Huyện ủy.

T/M ĐOÀN CHỦ TỊCH

BÍ THƯ

Hoàng Văn Toản