Ý kiến thăm dò

Bạn đánh giá thế nào về cổng thông tin điện tử huyện Thiệu Hóa

Truy cập

Hôm nay:
1
Hôm qua:
0
Tuần này:
3487
Tháng này:
43579
Tất cả:
2884365

Bản tin nội bộ Tháng 9

Đăng lúc: 01/10/2018 (GMT+7)
100%

HƯỚNG DẪN - CHỈ ĐẠO

Quy định về luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý

Ngày 10/8/2018, Ban Thường vụ Huyện ủy ban hành Quy định về luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện và cấp xã trên địa bàn huyện. Bản Tin nội bộ huyện trích giới thiệu một số nội dung của Quy định như sau:

Điều 1. Mục đích, yêu cầu.

1- Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chủ trương, nghị quyết của Đảng về công tác cán bộ và luân chuyển cán bộ, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

2- Đổi mới mạnh mẽ công tác luân chuyển cán bộ, bảo đảm dân chủ, khách quan, công khai, minh bạch, công bằng; ngăn chặn tiêu cực, tham nhũng, lợi ích nhóm, quan hệ dòng họ, thân quen.

3- Thực hiện chủ trương đào tạo, bồi dưỡng toàn diện và sử dụng hiệu quả đội ngũ cán bộ; tạo điều kiện cho cán bộ trẻ, có triển vọng, cán bộ trong quy hoạch được rèn luyện thực tiễn; tạo nguồn cán bộ lâu dài trong hệ thống chính trị cấp huyện và địa phương.

4- Kết hợp luân chuyển với điều động, bố trí hp lý đội ngũ cán bộ trong toàn hệ thống chính trị; tăng cường cán bộ cho những nơi khó khăn có nhu cầu, khắc phục tình trạng nơi thừa, nơi thiếu và cục bộ, khép kín trong công tác cán bộ.

5- Luân chuyển cán bộ nhằm thực hiện chủ trương “cán bộ chủ chốt cấp huyện nói chung phải kinh qua chức vụ chủ chốt cấp dưới”. Đồng thời tiếp tục thực hiện chủ trương luân chuyển cán bộ kết hợp chặt chẽ bố trí một số chức danh chủ chốt cấp xã, thị trấn (bí thư, phó bí thư CT UBND, PCT UBND xã, thị trấn) không là người địa phương và cán bộ không giữ chức vụ quá hai nhiệm kỳ liên tiếp.

Điều 2. Quan điểm, nguyên tắc.

1- Công tác luân chuyển cán bộ phải đặt dưới sự lãnh đạo thường xuyên, trực tiếp, toàn diện của Ban Thường vụ Huyện ủy, các cấp uỷ, tổ chức đảng; bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy vai trò, trách nhiệm của tập thể lãnh đạo và người đúng đầu; giải quyết tốt mối quan hệ giữa luân chuyển với ổn định và xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên sâu; vừa coi trọng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác, vừa coi trọng mục đích bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ, chuẩn bị đội ngũ cán bộ kế cận.

2- Luân chuyển cán bộ phải bảo đảm tổng thể, đồng bộ, liên thông, thưng xuyên, liên tục, có luân chuyển dọc, luân chuyển ngang giữa các cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị; phải gắn kết chặt chẽ vi quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, sắp xếp, bố trí, sử dụng cán bộ.

3- Bố trí cân đối, hài hoà giữa luân chuyển với việc phát triển nguồn cán bộ tại chỗ của các cơ quan, đơn vị, địa phương. Nói chung, chỉ luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý, không luân chuyển cán bộ chuyên môn về giữ chức vụ lãnh đạo ở xã, thị trấn. Không luân chuyển về huyện, về cơ sở hoặc sang địa phương, cơ quan, đơn vị khác những cán bộ bị kỷ luật, không hoàn thành nhiệm vụ, năng lực yếu, uy tín giảm sút, không có triển vọng phát triển.

4- Cán bộ luân chuyển nói chung phải là cán bộ trẻ, trong quy hoạch, có triển vọng phát triển; có phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và năng lực công tác tốt; quan tâm lựa chọn cán bộ trẻ, cán bộ nữ có năng lực.

5- Việc luân chuyển cán bộ phải có kế hoạch cụ thể và có lộ trình từng bước thực hiện; có chính sách đối với cán bộ luân chuyển, tạo điều kiện cho cán bộ luân chuyển phát huy năng lực, sở trường, chuyên môn, rèn luyện, tích luỹ kinh nghiệm thực tiễn; đồng thời, có quy định quản lý, giám sát đối với cán bộ luân chuyển.

6- Việc xem xét, bố trí cán bộ sau luân chuyển phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, tình hình thực tiễn; kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị gắn với trách nhiệm cá nhân của cán bộ được luân chuyển và nhận xét, đánh giá cán bộ.

Điều 3. Giải thích từ ngữ.

1- "Luân chuyển" cán bộ là việc cử có thời hạn cán bộ trẻ, có năng lực, triển vọng, trong quy hoạch từ cấp huyện về cấp, thị trấn và giữa các địa phương, cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị nhằm đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, thử thách cán bộ, làm cơ sở lựa chọn, bố trí, sử dụng cán bộ.

2- "Điều động" cán bộ là việc phân công, bố trí, chuyển đổi vị trí công tác có thời hạn hoặc không xác định thời hạn đối với cán bộ ở các địa phương, cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị (không phân biệt giữ chức vụ hoặc không giữ chức vụ) theo quy định của Đảng và Nhà nước, theo kế hoạch hoặc theo yêu cầu công tác của cơ quan có thẩm quyền.

3- "Người địa phương" được hiểu là người sinh ra, lớn lên và trưởng thành ở địa phương đó hoặc là người đã học tập, công tác từ 20 năm trở lên ở địa phương đó.

4- "Cán bộ giữ chức vụ không quá hai nhiệm kỳ liên tiếp" được hiểu là không giữ một chức vụ cấp trưởng (đối với cả chức danh bầu cử và bổ nhiệm) liên tục từ 8 năm trở lên ở cùng một địa phương, cơ quan, đơn vị.

5- Cơ quan nơi đi: Địa phương, cơ quan, đơn vị cử cán bộ đi luân chuyển.

6- Cơ quan nơi đến: Địa phương, cơ quan, đơn vị tiếp nhận cán bộ luân chuyển.

Điều 4. Phạm vi, đối tượng, chức danh luân chuyển.

1- Phạm vi luân chuyển.

- Luân chuyển cán bộ từ cấp huyện về cấp xã, thị trấn và ngược lại;

- Luân chuyển cán bộ giữa các xã, thị trấn;

- Luân chuyển cán bộ giữa các cơ quan thuộc khối đảng, chính quyền, mặt trận Tổ quốc, đoàn thể chính trị - xã hội với nhau.

2- Đối tượng luân chuyển.

- Cán bộ trẻ, có năng lực, triển vọng, trong nguồn quy hoạch cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy và các chức danh lãnh đạo chủ chốt cấp huyện, cấp;

- Cán bộ trong nguồn quy hoạch các chức danh trưởng hoặc phó các ban, trưởng phòng, CTMTTQ, trưởng các đoàn thể chính trị - xã hội cấp huyện;

- Cán bộ được luân chuyển để thực hiện chủ trương bố trí chức danh bí thư đảng ủy; phó bí thư đảng ủy, chủ tịch, phó chủ tịch ủy ban nhân dân xã, thị trấn không phải là người địa phương;

- Cán bộ là người đứng đầu đã giữ chức vụ hai nhiệm kỳ liên tiếp (từ 8 năm trở lên) ở một địa phương, cơ quan, đơn vị. Cụ thể: Trưởng các ban, phòng, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể chính trị - xã hội cấp huyện; Bí thư đảng ủy, chủ tịch ủy ban nhân dân xã, thị trấn; Trường hợp khác do Ban Thường vụ Huyện ủy xem xét quyết định. Riêng các đối tượng luân chuyển diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý trước khi thực hiện luân chuyển phải báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy cho ý kiến mới thực hiện.

3- Chức danh bố trí luân chuyển

- Đối với cán bộ đã giữ chức vụ cấp trưởng 02 nhiệm kỳ liên tục và những cán bộ luân chuyển để thực hiện chủ trương không phải là người địa phương, khi luân chuyển chủ yếu bố trí làm cấp trưởng hoặc chức danh tương đương;

- Đối với cán bộ trẻ trong nguồn quy hoạch khi luân chuyển để đào tạo, rèn luyện có thể bố trí làm cấp trưởng, hoặc cấp phó;

- Trường hợp khác do Ban Thường vụ Huyện ủy xem xét quyết định.

Điều 5. Tiêu chuẩn, điều kiện.

1- Có lập trường, tư tưởng chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt; có năng lực và triển vọng phát triển; về cơ bản đáp ứng tiêu chuẩn, tiêu chí chức danh luân chuyển theo quy định;

2- Có quy hoạch, có trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, đủ sức khoẻ công tác;

3- Còn thời gian công tác ít nhất 02 nhiệm kỳ (10 năm) tính từ thời điểm đi luân chuyển (50 tuổi đối với nam, 45 tuổi đối với nữ);

4- Cán bộ luân chuyển để bố trí không phải người địa phương, không giữ chức vụ quá hai nhiệm kỳ liên tiếp phải đủ thời gian công tác ít nhất trọn một nhiệm kỳ (tính từ thời điểm luân chuyển);

5- Trường hợp khác do Ban Thường vụ Huyện ủy xem xét quyết định.

Điều 6. Thẩm quyền, trách nhiệm.

1- Thẩm quyền: Thực hiện theo Quy định về phân công, phân cấp quản lý tổ chức bộ máy và cán bộ.

2- Trách nhim:

- Cấp có thẩm quyền quyết định luân chuyển cán bộ: Xây dựng kế hoạch luân chuyển cán bộ; thực hiện quy trình, thủ tục bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch; kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm; quản lý, đánh giá, nhận xét, bố trí, phân công công tác đối với cán bộ sau luân chuyển; sơ kết, tổng kết công tác luân chuyển cán bộ.

- Cơ quan nơi đi: Nhận xét, đánh giá, đề xuất cán bộ luân chuyển; phối hợp với cơ quan liên quan trong công tác quản lý, giám sát và theo dõi, giúp đỡ đối với cán bộ luân chuyển; có trách nhiệm tiếp nhận, bố trí công tác đối với cán bộ sau luân chuyển.

- Cơ quan nơi đến: Chấp hành nghiêm quyết định về luân chuyển cán bộ của Ban Thường vụ Huyện ủy; có trách nhiệm bố trí công tác, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để cán bộ luân chuyển phát huy năng lực, sở trường; quản lý, đánh giá cán bộ; phối hợp với các cơ quan liên quan đề xuất hướng bố trí, sử dụng cán bộ sau luân chuyển.

- Cán bộ luân chuyển: Chấp hành nghiêm các quy định, quy chế, phân công của Ban Thường vụ Huyện ủy; cơ quan nơi đi và nơi đến; tu dưỡng, rèn luyện, nỗ lực, cố gắng, phát huy năng lực, sở trường để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; chịu sự kiểm tra, giám sát, báo cáo định kỳ (06 tháng/lần) hoặc đột xuất theo yêu cầu của cơ quan quản lý; giữ mối liên hệ với cơ quan nơi đi, cơ quan tham mưu tổ chức - cán bộ.

-quan tham mưu về công tác tổ chức, cán bộ: Có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các ban đảng, cơ quan liên quan tham mưu giúp Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Huyện ủy: xây dựng kế hoạch luân chuyển, nhận xét, đánh giá, đề xuất bố trí, sắp xếp cán bộ trước và sau luân chuyển; tham mưu sơ kết, tổng kết,... về công tác luân chuyển cán bộ.

- Các cơ quan có liên quan: Tham gia thẩm định nhân sự luân chuyển theo chức năng, nhiệm vụ; phối hp với Ban Tổ chức, kiểm tra, giám sát và tham gia ý kiến trong việc bố trí, sắp xếp cán bộ sau luân chuyển.

Điều 7. Kế hoạch, quy trình, hồ sơ cán bộ luân chuyển.

1- Kế hoạch.

- Căn cứ quy hoạch cán bộ, nhu cầu công tác và năng lực, sở trường của cán bộ, cấp uỷ, tổ chức đảng và cấp có thẩm quyền xây dựng kế hoạch luân chuyến cán bộ thuộc phạm vi quản lý.

- Kế hoạch luân chuyển phải làm rõ các nội dung: Nhu cầu, vị trí luân chuyển; hình thức luân chuyển; địa bàn luân chuyển; thời hạn luân chuyển; cơ chế, chính sách cần thiết bảo đảm thực hiện; dự kiến phương án bố trí cán bộ sau luân chuyển...

- Trên cơ sở kế hoạch, lập danh sách cán bộ luân chuyển và phương án luân chuyển cụ thể đối với từng cán bộ.

2- Quy trình.

Bước 1: Căn cứ vào nhu cầu luân chuyển cán bộ, cấp uỷ, tổ chức đảng, lãnh đạo cơ quan, đơn vị tiến hành rà soát, đánh giá đội ngũ cán bộ của địa phương, cơ quan, đơn vị; xây dựng kế hoạch luân chuyển trình cấp có thẩm quyền xem xét, cho chủ trương.

Bước 2: Căn cứ vào chủ trương của Ban Thường vụ Huyện ủy, cơ quan tham mưu tổ chức - cán bộ thông báo để các địa phương, cơ quan, đơn vị đề xuất nhân sự luân chuyển.

Bước 3: Tổng hp đề xuất của các địa phương, cơ quan, đơn vị; cơ quan tham mưu tổ chức - cán bộ tiến hành rà soát tiêu chuẩn, tiêu chí và dự kiến địa bàn, chức danh và nhân sự luân chuyển. Ly ý kiến nhận xét, đánh giá đối với nhân sự dự kiến luân chuyển.

Bước 4: Cơ quan tham mưu tổ chức - cán bộ gửi văn bản lấy ý kiến thẩm định của các cơ quan liên quan, trao đổi với nơi đi, nơi đến, chức danh và nhân sự luân chuyển; tổng hp kết quả thẩm định và trao đổi với cán bộ dự kiến luân chuyển.

Tổ chức gặp gỡ cán bộ được luân chuyển để quán triệt mục đích, yêu cầu luân chuyển; đồng thời, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và xác định trách nhiệm đối với cán bộ luân chuyển.

Bước 5: Cơ quan tham mưu tổ chức - cán bộ trình Ban Thường vụ Huyện ủy xem xét, quyết định và lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện (công bố quyết định, chỉ đạo bầu cử và các công việc cần thiết khác).

3- Hồ sơ cán bộ luân chuyển: Hồ sơ cán bộ luân chuyển thực hiện như hồ sơ bổ nhiệm cán bộ và giới thiệu cán bộ ứng cử theo quy định hiện hành.

Điều 8. Thời gian luân chuyển.

- Thời gian luân chuyển từ 03 năm (36 tháng) trở lên đối với một chức danh (trừ chức danh kiêm nhiệm).

- Trường hợp đặc biệt do BTV Huyện ủy xem xét, quyết định.

Điều 9. Nhận xét, đánh giá đối vi cán bộ luân chuyển.

1- Cấp uỷ, tổ chức đảng và tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị quản lý cán bộ, đề xuất cán bộ luân chuyển có trách nhiệm nhận xét, đánh giá về phẩm chất đạo đức, lối sống; năng lực công tác và uy tín; quá trình công tác và ưu, khuyết điểm của cán bộ; có kết luận về tiêu chuẩn chính trị theo Quy định số 126- QĐ/TW, ngày 28/02/2018 của Bộ Chính trị "Một số vấn đề về bảo vệ chính trị nội bộ Đảng", báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định luân chuyển cán bộ.

2- Định kỳ 6 tháng, hằng năm hoặc đột xuất theo yêu cầu của Ban Thường vụ Huyện ủy, cấp uỷ, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị nơi có cán bộ luân chuyển đến tiến hành nhận xét, đánh giá cán bộ luân chuyển theo các tiêu chí quy định; báo cáo Ban Thường vụ Huyện ủy theo quy định.

3- Nhận xét, đánh giá khi hết thời gian luân chuyển:

- Cán bộ luân chuyển tự kiểm điểm về quá trình công tác trong thời gian luân chuyển.

- Ban thường vụ cấp uỷ, tập thể lãnh đạo địa phương, cơ quan, đơn vị nơi có cán bộ luân chuyển đến nhận xét, đánh giá cán bộ luân chuyển trong thời gian công tác tại địa phương, cơ quan, đơn vị.

- Cấp có thẩm quyền quyết định luân chuyển nhận xét, đánh giá về cán bộ luân chuyển.

4- Cấp uỷ, tổ chức đảng và tập thể lãnh đạo địa phương, cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm trước Ban Thường vụ Huyện ủy về nhận xét, đánh giá và kết luận của mình đối với cán bộ luân chuyển.

Điều 10. Bố trí cán bộ sau luân chuyển.

Sau thời hạn cán bộ đi luân chuyển, việc xem xét bố trí, phân công cán bộ sau luân chuyển phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, tình hình thực tế, kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị gắn với trách nhiệm cá nhân của cán bộ được luân chuyển và kết quả nhận xét, đánh giá cán bộ.

Điều 11. Chế độ, chính sách đối với cán bộ luân chuyển.

1- Thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ luân chuyển: hỗ trợ một phần kinh phí đi lại, sinh hoạt phí; bảo lưu chế độ, phụ cấp trách nhiệm đối với cán bộ luân chuyến nếu chức danh luân chuyển có chế độ, phụ cấp trách nhiệm thấp hơn.

2- Cán bộ luân chuyển có thành tích đặc biệt xuất sắc (có sáng kiến, sản phẩm công tác cụ th được cấp có thẩm quyền công nhận); được ưu tiên khi xem xét bố trí công tác sau luân chuyển.

Điều 12. Kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm.

Các cấp uỷ, tổ chức đảng lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát công tác luân chuyển cán bộ theo quy định; đề xuất khen thưởng, biểu dương đối với những nơi làm tốt và có biện pháp chấn chỉnh, xử lý đối với những tổ chức, cá nhân vi phạm.

Điều 13. Điều khoản thi hành.

1- Căn cứ quy định của Ban Thường vụ Huyện ủy, các đảng ủy, chi ủy, lãnh đạo các ban, phòng, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể cấp huyện thực hiện nghiêm Quy định này.

2- Giao Ban Tổ chức Huyện ủy phối hợp với UBND huyện đề xuất Ban Thường vụ Huyện ủy xây dựng quy định về chế độ, chính sách đối với cán bộ luân chuyển.

3- Giao Ban Tổ chức Huyện ủy chủ trì, phối hp với ủy ban Kiểm tra Huyện ủy hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy định này; đề xuất Ban Thường vụ Huyện ủy xem xét, biểu dương, khen thưởng đối với những nơi làm tốt và có biện pháp chấn chỉnh, xử lý đối với những t chức, cá nhân vi phạm; định kỳ 6 tháng tổng hợp, báo cáo Ban Thường vụ Huyện ủy.

Lãnh đạo kiện toàn chi bộ đảng

theo thôn, tiểu khu sau khi được sáp nhập

Ngày 18/9/2018, Ban Thường vụ Huyện ủy ban hành Công văn số 643 - CV/HU về việc kiện toàn chi bộ đảng theo thôn, tiểu khu sau khi được sáp nhập. Bản Tin nội bộ huyện giới thiệu toàn văn nội dung Công văn như sau:

Thực hiện Chỉ thị số 12-CT/TU, ngày 25/10/2017 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về lãnh đạo thực hiện sáp nhập thôn, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh; Quyết định số 3010/QĐ - UBND, ngày 17/8/2018 của UBND tỉnh; Nghị quyết số 106/NQ-HĐND, ngày 11/7/2018 của HĐND tỉnh về việc đổi tên, chuyển thôn thành khu phố, sáp nhập để thành lập thôn, tổ dân phố tại xã, phường, thị trấn thuộc các huyện, thị xã thành phố trên địa bàn tỉnh. Đối với huyện Thiệu Hóa đổi tên 8 thôn, tiểu khu; sáp nhập 102 thôn, tiểu khu để thành 49 thôn, tiểu khu mới tại 19 xã, thị trấn.

Để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện việc sáp nhập thôn, tiểu khu được tốt, Ban Thường vụ Huyện ủy đề nghị đảng ủy các, thị trấn lãnh đạo, chỉ đạo kiện toàn, sắp xếp tổ chức thôn, chi bộ đảng và các đoàn th thôn, tiểu khu, như sau:

1. Phải làm tốt công tác tuyên truyền đến cán bộ, đảng viên, nhân dân, tạo sự thống nhất cao và khí thế của thôn, tiểu khu mới, tạo ra phong trào hành động xây dựng thôn, tiểu khu phát triển toàn diện.

2. Tập trung lãnh, chỉ đạo, xây dựng phương án sắp xếp, kiện toàn thôn, chi bộ đảng và các tổ chức đoàn thể theo đúng quy định của Pháp luật, Điều lệ Đảng và quy định của điều lệ các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội. Khi tổ chức công bố quyết định thôn, tiểu khu mới, đồng thời tiến hành công bố quyết định thành lập chi bộ, các tổ chức đoàn thể theo thôn, tiểu khu mới để bộ máy của các tổ chức đi vào hoạt động.

3. Trong quá trình thực hiện việc sắp xếp, kiện toàn chi bộ và các tổ chức đoàn thể, cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác bố trí, sắp xếp nhân sự chi ủy viên, bí thư, phó bí thư chi bộ, trưởng thôn, trưởng tiểu khu; giải quyết kịp thời những vấn đề phát sinh, tồn đọng, vướng mắc; quan tâm, động viên và thực hiện chính sách đối với những cán bộ thôn, tiểu khu, nghỉ do việc sắp xếp, kiện toàn lại thôn, chi bộ thôn, tiểu khu, theo quy định.

- Công tác nhân sự: Phải thực hiện công khai, dân chủ, bảo đảm số lượng theo quy định, cơ cấu hợp lý; ưu tiên những cán bộ trẻ, có sức khỏe, trình độ, năng lực, trách nhiệm để tham gia chi ủy, bí thư chi bộ, trưởng thôn, trưởng tiểu khu.

- Tiếp tục thực hiện việc nhất thể bí thư chi bộ là trưởng thôn, trưởng tiểu khu theo chỉ đạo của BTV Tỉnh ủy và Công văn số 314-CV/HU, ngày 11/4/2017 của BTV Huyện ủy về việc chỉ đạo đại hội chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở, nhiệm kỳ 2017-2020 (những nơi quá khó khăn về việc nhất thể bí thư chi bộ kiêm trưởng thôn, trưởng tiểu khu, đảng ủy xem xét báo báo BTV Huyện ủy).

4. Về cơ sở vật chất của thôn, tiểu khu khi sáp nhập được giữ nguyên nhà văn hóa, bàn ghế, các cơ sở vật chất khác; chọn 01 nhà văn hóa có vị trí phù hợp, điều kiện cơ sở vật chất tốt hơn làm nơi hội họp và sinh hoạt thôn; công nợ, quỹ của thôn được bàn giao và thực hiện công khai dân chủ, minh bạch trước nhân dân trong thôn, tiểu khu.

5. Thời gian: Hoàn thành trước ngày 20/10/2018.

6. Việc tổ chức lễ công bố quyết định sáp nhập thôn, tiểu khu và cấp ủy chi bộ được thực hiện trong buổi lễ. Đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng, đề nghị các cấp ủy, chính quyền huyện, xã, thị trấn tập trung lãnh đạo, chỉ đạo để việc sáp nhập thôn, tiểu khu đảm bảo đúng quy định, trang trọng, tiết kiệm; đề nghị các đồng chí Thường vụ Huyện ủy phụ trách cụm, các đồng chí cấp ủy vòng 2 chỉ đạo; UBND huyện chỉ đạo hướng dẫn, thực hiện; Ban Tổ chức Huyện ủy, MTTQ, các đoàn thể huyện, xã hướng dẫn thực hiện theo Điều lệ Đảng, Điều lệ MTTQ và đoàn thể.

Hướng dẫn kiện toàn chi bộ đảng

theo thôn, tiểu khu sau khi được sáp nhập

Ngày 18/9/2018, Ban Tổ chức Huyện ủy ban hành Công văn số 221- CV/BTCHU về việc hướng dẫn kiện toàn chi bộ đảng theo thôn, tiểu khu sau khi được sáp nhập. Bản Tin nội bộ huyện trích giới thiệu một số nội dung như sau:

- Việc tiến hành lựa chọn nhân sự chi ủy viên, bí thư, phó bí thư chi bộ, trưởng thôn (tiểu khu) và cán bộ đoàn thể, cần m rộng dân chủ để lấy ý kiến của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trên cơ sở đó, đảng ủy xem xét, quyết định.

- Đối với những trường hợp sáp nhập 02 thôn (tiểu khu), trở lên (sáp nhập toàn bộ) thành mt thôn (tiểu khu) mới: Trên cơ sở chi ủy viên, bí thư, phó bí thư chi bộ, trưởng thôn, trưởng tiểu khu của các thôn (tiểu khu) được sáp nhập và nguồn nhân sự khác (nếu có), đảng ủy dự kiến số lượng, cơ cấu, nhân sự chi ủy viên, bí thư, phó bí thư chi bộ thôn (tiểu khu) mới, để tổ chức xin ý kiến giới thiệu ở các hội nghị như sau:

+ Hội nghị cán bộ chủ chốt thôn (tiểu khu), gồm: Chi ủy chi bộ, trưởng thôn, trưởng tiểu khu; trưởng, phó các chi hội trong thôn (tiểu khu). Hội nghị thảo luận về số lượng chi ủy viên, bí thư, phó bí thư chi bộ, trưởng thôn (trưởng tiểu khu) mới và tiến hành giới thiệu bằng phiếu kín.

+ Hội nghị chi bộ (toàn thể đảng viên): Thảo luận về số lượng, cơ cấu, nhân sự chi ủy viên, bí thư, phó bí thư chi bộ, trưởng thôn, (trưởng tiểu khu) và tiến hành giới thiệu bằng phiếu kín.

+ Hội nghị đảng ủy xã, thị trấn: Trên cơ sở phiếu giới thiệu tín nhiệm nhân sự tại các hội nghị của thôn (tiểu khu), đồng thời căn cứ tình hình thực tế và tiêu chuẩn, điều kiện cụ thể của cán bộ các thôn (tiểu khu), đảng ủy xem xét quyết định số lượng ban chi ủy, lựa chọn, quyết định chỉ định nhân s chi ủy viên, bí thư, phó bí thư chi b (trường hợp nhất thể bí thư chi b là trưởng thôn, (tiểu khu), thì đảng ủy giới thiệu để nhân dân bầu trưởng thôn, (trưởng tiểu khu) theo quy định).

- Đối với những trường hợp 01 thôn (tiểu khu) được chia tách để sáp nhập với nhiều thôn (tiểu khu) khác: Đảng ủy quyết định giải tán chi bộ cũ, đồng thời thực hiện chuyển sinh hoạt đảng cho đảng viên về sinh hoạt với các chi bộ của thôn (tiểu khu) được sáp nhập. Các chi bộ được ghép thêm, nếu xét thấy cần thiết tăng số lượng chi ủy viên thì đảng ủy xem xét quyết định, nhưng phải đảm bảo số lượng theo quy định của Điều lệ Đảng.

- Về thủ tục thực hiện chuyển giao, sáp nhập; công tác lưu trữ hồ sơ và tổ chức lễ công bố quyết định: Đảng ủy xã, thị trấn cần hướng dẫn cụ thể, thực hiện nghiêm túc, đảm bảo quy định.

Trong quá trình triển khai, thực hiện nếu có phát sinh, vướng mắc các đơn vị báo cáo về Ban Tổ chức Huyện ủy để trao đổi, giải quyết.

Ban Biên tập

Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây khoai tây vụ đông

Cây khoai tây là loại cây thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, thời gian sinh trưởng ngắn, trồng ở vụ đông từ 80-90 ngày, trồng ở vụ đông muộn (vụ xuân sớm) từ 85 - 95 ngày. Trồng khoai tây trên đất 2 vụ lúa, không căng thẳng thời vụ, giảm chi phí nhân công lao động, năng suất đạt cao từ 25 - 30 tấn củ/ha. Trạm khuyến nông giới thiệu đến bà con nông dân kỹ thuật trồng, chăm sóc cây khoai tây thương phẩm như sau:

1. Đất trồng. Khoai tây trồng được trên nhiều loại đất khác nhau, thích hợp là đất giàu dinh dưỡng, đất có thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình. Tùy theo chân ruộng, độ phì của đất. Bà con áp dụng cách trồng khoai tây bằng phương pháp làm đất tối thiểu hoặc trồng theo phương pháp truyền thống. Nhưng trồng theo phương pháp nào ruộng trồng khoai tây phải thuận lợi về tưới và tiêu nước.

2. Thời vụ

- Vụ đông: Trồng từ 30/10 đến 15/11. Khoai tây có thể trồng sớm từ ngày 20/10/2018, tùy vào từng địa phương và chân đất để cơ cấu phù hợp.

- Vụ đông muộn: Trồng 20/11 đến 05/ 12/2018 thu hoạch trung tuần tháng 2 năm sau.

3. Giống, làm đất, mật độ trồng cây khoai tây:

- Giống: Có thể dùng loại giống của Diamant, ĐaiMần (Hà Lan), Solara, Marabel (Đức), Eden (úc), Atlantic (Mỹ), giống Đà Lạt... và một số giống địa phương.

Xử lý giống: Giống mua về đã được xử lý thuốc kích thích nảy mầm, có thể trồng luôn hoặc ủ thúc mầm sau đó đem trồng. Bà con nên ủ khoai khi thấy mầm lên đều mới đem trồng, ủ thúc mầm tiết kiệm được giống, mầm khỏe, ruộng khoai đều, phát triển nhanh.

Cách ủ thúc mầm: Rải đều khoai ra đất hoặc cát ẩm, nơi râm mát, thoáng, phủ trên mặt một lớp rơm rạ ẩm, mỏng. Sau 5-7 ngày khoai mọc mầm đem ra trồng, trong quá trình ủ thúc mầm phải đảo củ để khoai ra nhiều mầm, đều mầm, theo dõi nhiệt độ ủ, nhiệt độ cao, nóng, lấy bớt rơm phủ mặt hạ nhiệt, nhặt bỏ những củ thối tránh lây sang củ khác..

Mỗi củ giống, miếng giống đem trồng cần từ 2-3 mầm do đó đối với củ to nhiều mầm cần cắt củ phân mầm để tiết kiệm giống. Cách phân mầm: Mỗi củ chỉ cắt 2 đến 3 miếng, cắt dọc củ, mỗi lần cắt nhúng dao vào nước xà phòng đậm đặc để tránh lây lan bệnh. Sau khi cắt phân mầm xong, chấm mắt cắt vào bột xi-măng khô với lượng vừa phải, không để bột xi măng bám nhiều sẽ hút nước làm khô, héo, củ giống, đồng thời bà con nên chọn tách mằm tốt sấu để mang trồng hoặc ủ thêm.

Lưu ý: Bà con đưa mầm khoai giống ra ruộng trồng phải sau cắt 1/2 ngày.Trường hợp cắt củ phân mầm mà phải ủ thúc mầm thêm bà con có thể để kéo dài 5 - 7 ngày.

- Làm đất: Có thể trồng khoai tây theo phương pháp truyền thống hoặc trồng theo phương pháp làm đất tối thiểu.

+ Trồng theo phương pháp truyền thống. Đất phải được cày bừa kỹ, sạch cỏ dại, nhỏ tơi xốp. Lên luống rộng từ 1-1,2m, rảnh rộng 30cm, trồng 2 hàng khoai trên luống, hạn chế làm luống trồng 1 hàng khoai.

+ Trồng khoai tây bằng phương pháp làm đất tối thiểu. Ruộng được dọn sạch cỏ, tạo rãnh thoát nước xung quanh và rãnh luống (luống rộng từ 1-1,2m), chuẩn bị rơm rạ, mùn, trấu, đất bột để phủ mầm khi trồng mầm khoai và phủ toàn bộ mặt luống sau khi trồng xong.

- Mật độ và khoảng cách trồng: Cần 55 - 60kg /1sào 500 m2 . Để khoai to củ, củ đều, năng suất cao, trồng 7- 8 củ mầm/m2, đặt củ mầm cách nhau 25 - 30 cm, hàng cách 45– 55cm. Khi trồng phải điều chỉnh, củ trồng theo luống riêng, miếng mầm theo luống riêng.

+ Tạo rãnh sâu 3 - 5cm hoặc cuốc hố sâu 3 - 5cm để trồng khoai, khi trồng đặt nghiêng củ (miếng) giống (không đặt ngửa hoặc úp mầm xuống để tạo điều kiện tốt nhất cho cây mọc nhanh), trồng đến đâu lấp đất đến đó.

+ Đối với trồng khoai tây bằng phương pháp làm đất tối thiểu. Đặt mầm đến đâu phủ mầm đến đó, phủ bằng trấu, mùn hoặc đất bột, sau trồng phủ rơm toàn bộ mặt luống và tưới nước đủ ẩm để cây mọc nhanh, đều.

4. Phân bón, chăm sóc và tưới nước.

- Lượng phân bón cho 1 sào 500 m2: Phân chuồng hoai mục từ 5 -6 tạ, 25 -30kg lân, 10 -12kg đạm, 8 -10 kg kali, 20 -30kg vôi bột.

- Bón lót: toàn bộ phân chuồng, vôi và lân + 20% lượng phân đạm và kali, bón rải đều trên luống, đảo phân vào đất trước khi tạo rảnh hoặc cuốc hố trồng khoai.

- Chăm sóc đợt 1: Khi cây cao 10 - 15cm, xới đất nhẹ, pha váng (trồng làm đất truyền thống), nhổ sạch cỏ dại. Bón phân thúc đợt 1, bón 50% lượng phân đạm kali rồi vun cao luống.

- Chăm sóc đợt 2: Sau chăm sóc đợt 1 khoảng 15 - 20 ngày, tiến hành xới nhẹ, làm cỏ. Bón phân thúc đợt 2, bón hết phân còn lại, vun luống lần cuối, vun cao luống, vét sạch đất ở rãnh.

- Tưới nước: Luôn luôn giữ ẩm để khoai tây phát triển.

Lưu ý: Bón phân vào giữa luống. Không bón hoặc tưới nước phân trực tiếp vào củ giống và gốc cây khoai làm thối củ, thân khoai tây. Đối với trồng bằng phương pháp làm đất tối thiểu phải chú ý không để hở gốc khoai, nhất là giai đoạn khoai có củ, do vậy phải thường xuyên kiểm tra phủ gốc.

5. Sâu bệnh hại.

Khoai tây thuờng mắc các loại bệnh: Héo xanh vi khuẩn, mốc sương, bệnh giả suơng mai và các loại sâu ăn lá, rệp, nhện. Cần kiểm tra đồng ruộng, phát hiện sớm các loại sâu bệnh để phònh trừ kịp thời hiệu quả.

6. Thu hoạch và bảo quản.

- Khi 2/3 thân lá cây khoai tây chuyển sang màu vàng, lựa ngày khô ráo thu hoạch.

- Lựa chọn và phân loại củ để bảo quản, tránh làm xây sát củ khoai, để khoai nơi râm, thoáng mát.

Lê Sơn - Cán bộ Trạm Khuyến nông Thiệu Hóa

TIN TỨC - SỰ KIỆN NỔI BẬT

Tình hình kinh tế - xã hội, quốc phòng – an ninh, công tác xây dựng đảng và hệ thống chính trị tháng 08 năm 2018

1. Tình hình kinh tế - xã hội.

Chỉ đạo các xã, thị trấn tập trung chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh cây trồng vụ thu - mùa, trọng tâm là sâu cuốn lá nhỏ lứa, rầy nâu hại lúa, bạc lá. Triển khai phương án sản xuất vụ Đông năm 2018 - 2019. Chỉ đạo khắc phục thiệt hai do ảnh hưởng của hoàn cơn bão số 4. Tổ chức diễn tập, báo động phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn năm 2018. Tiếp tục chỉ đạo các xã, thị trấn triển khai kế hoạch tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm đợt 2 năm 2018.

Chỉ đạo các xã huy động mọi nguồn lực, đẩy nhanh tiến độ đầu tư, hoàn thiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới đã đăng ký năm 2018. Phân công Thường trực, Ủy viên Ban Thường vụ phụ trách xã, tập trung chỉ đạo 6 xã đăng ký đạt chuẩn nông thôn mới năm 2018; thống nhất cơ chế chính sách hỗ trợ bù 30% tiền đấu giá cấp quyền sử dụng đất trong 2 năm đối với xã đạt chuẩn nông thôn mới trong năm 2018, nhưng không có trong Quyết định các xã đăng ký đạt chuẩn nông thôn mới của UBND tỉnh.

Tiếp tục đôn đốc, kiểm tra các nhà thầu thi công các dự án đang triển khai; nhắc nhở khẩn trương khởi công các dự án đã được phê duyệt. Trong tháng đã thành lập thêm 5 doanh nghiệp, đưa số doanh nghiệp thành lập mới là 40 doanh nghiệp, đạt 57,1%. Thu ngân sách tháng 8 năm 2018 ước đạt 9 tỷ 250 triệu đồng, 8 tháng ước đạt 97 tỷ 673 triệu đồng, đạt 54% dự toán huyện giao, 62% dự toán tỉnh giao, thấp hơn 0,7% CK, Chi ngân sách 8 tháng ước đạt 301 tỷ 452 triệu đồng, tỷ lệ 54% dự toán giao cả năm.

Công tác quản lý tài nguyên, môi trường được các cấp ủy đảng, chính quyền quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sát sao. Tiếp tục duy trì tổ liên ngành quản lý tài nguyên cát, phân công lãnh đạo huyện trực tiếp theo dõi, chỉ đạo công tác quản lý cát trên địa bàn huyện.

Chỉ đạo tổng kết năm học 2017- 2018, triển khai nhiệm vụ năm học 2018 - 2019. Tiếp tục rà soát, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, giáo viên ở các cấp học. Tổ chức thi tuyển nhân viên hành chính kiêm kế toán làm việc tại các trường mầm non. Chỉ đạo các xã, thị trấn, các nhà trường chuẩn bị cơ sở vật chất phục vụ năm học mới.

Chỉ đạo làm tốt công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân. Chỉ đạo xây dựng các mô hình liên kết sản xuất, chăn nuôi theo chuỗi đảm bảo vệ sinh ATTP. Hướng dẫn các xã đăng ký đạt chuẩn nông thôn mới năm 2018 hoàn thiện các tiêu chí đề nghị công nhận xã đạt xã ATTP.

Chỉ đạo các cơ quan tuyên truyền kỷ niệm 73 năm cách mạng tháng Tám và quốc khánh 2/9.

Tổ chức triển khai kế hoạch rà soát hộ nghèo năm 2018, phấn đấu hoàn thành trong tháng 9 năm 2018; tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg ngày 26/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ở; Quyết định số 2066/QĐ-UBND ngày 04/6/2018 của Chủ tịch UBND tỉnh về việc giao kế hoạch chi tiết vốn hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ở từ nguồn ngân sách Trung ương năm 2018 cho các xã, thị trấn.

2. Tình hình công tác quốc phòng - an ninh:

Duy trì nghiêm các chế độ trực chỉ huy, trực ban, trực phòng không, tuần tra, canh gác đơn vị bảo đảm an toàn. Thường xuyên theo dõi nắm chắc tình hình địa bàn không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Tổ chức huấn luyện cho các đối tượng tự vệ cơ quan theo đúng kế hoạch; kiểm tra bắn đạn thật cho các lực lượng, đảm bảo an toàn tuyệt đối. Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho đối tượng 4. Lực lượng Công an từ huyện đến cơ sở tổ chức thực hiện nghiêm túc các nhiệm vụ, giữ vững an ninh chính trị, đảm bảo trật tự an toàn xã hội.

Tiếp tục chỉ đạo UBKT Huyện ủy, UBND huyện, cấp ủy, chính quyền các xã, thị trấn giải quyết đơn thư của công dân theo quy định. Chỉ đạo giải quyết đơn của các hộ dân xã Thiệu Công về việc xã thu tiền cấp giấy chức nhận QSDĐ không đúng quy định.

3. Công tác xây dựng Đảng; hoạt động của chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân

Chỉ đạo các tổ chức cơ sở đảng tiếp tục tổ chức học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 và triển khai viết thu hoạch nghiêm túc. Ban Thường vụ Huyện ủy ban hành Quyết định luân chuyển đồng chí Phó trưởng phòng NN&PTNT huyện giữ chức Phó Bí thư Đảng ủy xã và giới thiệu để HĐND xã bầu giữ chức Chủ tịch UBND xã Thiệu Phúc, Quyết định nghỉ hưu trước tuổi theo Nghị định 108 của Chính phủ đối với đồng chí Giám đốc trung tâm BDCT huyện, Quyết định phân công đồng chí Trưởng Ban Tuyên giáo Huyện ủy kiêm Giám đốc Trung tâm BDCT huyện; Thường trực Huyện ủy cho ý kiến làm quy trình bổ sung cấp ủy viên ở các đảng bộ, chi bộ cơ sở; làm quy trình bổ nhiệm lại hiệu trưởng, hiệu phó các nhà trường mầm non, tiểu học, THCS theo quy định; tổ chức thi tuyển chọn hiệu trưởng, hiệu phó các nhà trường còn thiếu. Ban hành Quyết định về Quy định công tác luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện, cấp xã. Ban Thường vụ Huyện ủy chỉ đạo các cấp ủy đảng, chính quyền các cấp tập trung chỉ đạo làm tốt công tác kiểm tra, giám sát theo quy định.

Thường trực HĐND, các ban của HĐND tổ chức các cuộc giám sát theo chuyên đề và những lĩnh vực mà đại biểu và cử tri quan tâm, nâng cao chất lượng các cuộc giám sát; đại biểu HĐND huyện thực đúng quy chế hoạt động, triển khai thực hiện nghiêm lịch tiếp dân.

UBND các cấp đã quyết liệt trong chỉ đạo điều hành, nhất là trong lĩnh vực quản lý tài nguyên khoáng sản, khai thác cát trái phép, xe quá tải; đôn đốc các công trình dự án chậm tiến độ, tích cực đôn đốc thực hiện sau thanh tra; chỉ đạo Công an huyện điều tra sai phạm về đất đai dẫn đến khiếu kiện đông người tại xã Thiệu Công.

Hệ thống dân vận các cấp làm tốt công tác vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể cấp huyện, vận động hội viên, đoàn viên tích cực chăm sóc cây trồng vụ thu - mùa, chuyển đổi ruộng đất, xây dựng nông thôn mới; tích cực tham mưu giải quyết tình hình cơ sở.

Nguyễn Quang Thọ

Tưng bừng Lễ khai giảng năm học mới (2018 - 2019)

tại các trường học trên địa bàn huyện Thiệu Hoá

Hòa chung không khí cả nước, sáng ngày 5/9 các trường học trên địa bàn huyện đã long trọng tổ chức lễ khai giảng năm học mới 2018 – 2019. Dự lễ khai giảng tại các trường có các đồng chí lãnh đạo huyện, lãnh đạo các xã, các ngành, đơn vị, cơ quan, đông đảo các bậc phụ huynh và hơn 10.000 học sinh toàn huyện ở 4 cấp học.

Hoạt động tổ chức lễ khai giảng năm học mới đã được tổ chức long trọng với 2 phần: Phần lễ và phần hội. Năm nay, cơ bản phần lễ đều được các trường tổ chức trang nghiêm, ngắn gọn; phần hội được tổ chức phù hợp tạo không khí vui vẻ, phấn khởi cho ngày đầu tiên của năm học mới.

Tại các trường học, các đồng chí lãnh đạo huyện, xã, đều bày tỏ mong muốn các trường học thực hiện tốt các mục tiêu, nhiệm vụ của năm học mới. Xây dựng tập thể đoàn kết, vững mạnh, tạo môi trường giáo dục thân thiện, chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức và văn hóa truyền thống. Thực hiện tốt việc đổi mới giáo dục, tạo điều kiện tốt nhất cho các em học sinh, đặc biệt là những em có hoàn cảnh khó khăn yên tâm học tập. Tập trung nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên, khuyến khích đổi mới các phương pháp giáo dục, nhất là ứng dụng CNTT vào dạy học.

Dịp này, các đồng chí lãnh đạo huyện đã thừa uỷ quyền của Chủ tịch nước, tỉnh trao huân chương lao động và cờ thi đua cho các trường học đạt thành tích xuất sắc trong năm học. Các đồng chí lãnh đạo các xã đã trao nhiều phần quà, học bổng cho các em học sinh có hoàn cảnh khó khăn tại các trường.

Trường THCS Thiệu Đô khai giảng năm học 2018 - 2019 và đón nhận Huân chương Lao động hạng Ba

Sáng ngày 5/9, Trường THCS Thiệu Đô long trọng tổ chức lễ khai giảng năm học mới 2018 - 2019 và đón nhận Huân chương Lao động hạng Ba của Chủ tịch nước. Về dự có các đồng chí: Trịnh Văn Súy - PBT HU, CT UBND huyện, Nguyễn Thị Tâm – Phó Ban Thi đua Khen thưởng tỉnh, Lê Hồng Quang – UVBTV, Trưởng Công an huyện, đại diện một số phòng ban, ngành cấp huyện; đại diện lãnh đạo Đảng ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ cùng ban, ngành đoàn thể xã Thiệu Đô và toàn thể giáo viên, nhân viên và học sinh nhà trường.

Trong những năm học vừa qua, trường THCS Thiệu Đô luôn được sự chăm lo tích cực bằng những chính sách thiết thực cụ thể của các cấp các ngành, các tổ chức chính trị xã hội và nhân dân địa phương. Cơ sở vật chất phục vụ cho dạy và học ngày càng được tăng cường, đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng học sinh. 5 năm qua tỷ lệ học sinh được xếp loại hạnh kiểm tốt đạt từ 76.5% đến 91.9%, tỷ lệ học sinh được xếp loại học lực giỏi đạt từ 16.6% đến 19.0%, loại khá đạt từ 39.7% đến 50.9%. Học sinh tốt nghiệp THCS: Đạt từ 97,9% đến 98.9%, tỷ lệ học sinh trúng tuyển vào lớp 10 THPT hằng năm đạt từ 91,8% đến 100%, trong đó hàng năm nhà trường có từ 2-4 em thi đỗ THPT chuyên Lam Sơn. Công tác phổ cập giáo dục THCS hằng năm luôn đạt trên 90%; Chất lượng học sinh giỏi trong 5 năm học vừa qua xếp từ thứ nhất đến thứ ba toàn huyện, với 255 em đạt giải cấp huyện, 40 em đạt giải cấp tỉnh, 2 em đạt giải quốc gia. Năm học 2013 – 2014, 2016 – 2017, 2017- 2018 nhà trường đứng thứ nhất toàn huyện trong các kỳ thi học sinh giỏi. Hiện nay, 100% cán bộ, giáo viên của nhà trường đều có trình độ đạt chuẩn và trên chuẩn. Nhiều giáo viên được công nhận danh hiệu dạy giỏi các cấp, với 33 lượt chiến sĩ thi đua cơ sở, 2 CSTĐ cấp tỉnh, 35 SKKN cấp huyện, 6 SKKN cấp tỉnh. Cơ sở vật chất không ngừng được tu bổ và nâng cấp, đáp ứng được nhu cầu dạy và học trong tình hình mới.

Năm học 2017- 2018, trong cuộc thi vận dụng kiến thức liên môn cấp huyện, tỉnh trường đạt 2 giải nhất, 5 giải nhì, 8 giải ba, 5 giải khuyến khích. Kỳ thi học sinh giỏi các môn văn hóa lớp 9 cấp huyện, tỉnh trường đạt 4 giải nhì, 11 giải ba, 8 giải KK. Kỳ thi giao lưu học sinh giỏi các môn văn hóa lớp 8 cấp huyện đạt 4 giải ba, 12 giải KK. Cuộc thi dạy học theo chủ đề tích hợp: Cấp huyện, tỉnh đạt 4 giải nhì, 6 giải ba, 2 giải KK. Kỳ thi học sinh giỏi TDTT cấp huyện, tỉnh đạt 5 giải nhất, 1 giải ba cá nhân, 1 giải ba bóng đá, 9 giải KK, xếp thứ 2 toàn huyện. Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 nhà trường có 112 tham gia dự thi, đậu 108 em, trong đó có 3 em đậu Trường THPT Lam Sơn và 1 thủ khoa Trường THPT Lê Văn Hưu.

Trong 5 năm học vừa qua nhà trường liên tục đạt Tập thể lao động xuất sắc được Chủ tịch UBND tỉnh tặng cờ thi đua, Bằng khen; Giám đốc Sở GD&ĐT tặng giấy khen và được Thủ tướng chính phủ tặng bằng khen. Đặc biệt năm học 2016 - 2017 đã được Thủ tướng chính phủ tặng Huân chương Lao động hạng Ba. Với sự quan tâm của lãnh đạo và nhân dân xã nhà, trường THCS Thiệu Đô tiếp tục nỗ lực phấn đấu để giữ vững các thành tích đã đạt được trong năm học mới.

Thừa ủy quyền của Chủ tịch nước, đồng chí Trịnh Văn Súy - PBT HU, Chủ tịch UBND huyện đã trao Huân chương Lao động hạng Ba cho Trường THCS Thiệu Đô.

Phát biểu tại buổi lễ, đồng chí PBT HU, CT UBND huyện biểu dương những thành tích trường THCS Thiệu Đô đã đạt được trong 5 năm học qua, đồng thời đồng chí mong muốn các thy, cô giáo và các em học sinh nhà trường tiếp tục giữ vững chất lượng giáo dục toàn diện xứng đáng là trường chuẩn quốc gia và một trong những trườngtốp đầu về chất lượng dạy học khối THCS của huyện nhà. Tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua “Dạy tốt - Học tốt”, nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục đào tạo, xứng đáng với sự quan tâm, tin tưởng của các cấp lãnh đạo và các bậc phụ huynh.

Phùng Thanh Tuyên

Lãnh đạo huyện thăm, tặng quà cán bộ LTCM, TKN nhân kỷ niệm 73 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9

Ngày 28/8/2018, nhân dịp kỷ niệm 73 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, các đồng chí lãnh đạo huyện thăm, tặng quà cán bộ lão thành cách mạng, tiền khởi nghĩa trên địa bàn huyện.

Đồng chí Hoàng Văn Toản - TUV, BT Huyện ủy, CT HĐND huyện đã đến gia đình thăm, tặng quà các bác: Trần Lương Vị - Cán bộ LTCM, Hoàng Đình Bách - Cán bộ TKN xã Thiệu Minh và bác Nguyễn Văn Cận - Cán bộ TKN xã Thiệu Tâm. Đồng chí Bí thư Huyện ủy ân cần thăm hỏi sức khỏe, cuộc sống của các bác và gia đình; đồng thời bày tỏ lòng tri ân, sự trân trọng trước những đóng góp to lớn của những người tham gia kháng chiến từ những ngày đầu tiên, một lòng theo Đảng, theo cách mạng, giành chính quyền về tay nhân dân, đem lại độc lập tự do cho dân tộc.

Thay mặt Huyện ủy, HĐND, UBND huyện, đồng chí Bí thư Huyện ủy tặng quà và chúc các bác tiếp tục sống vui, sống khỏe, trường thọ, mãi là niềm tự hào của con cháu, quê hương; động viên con cháu và thế hệ hôm nay phát huy truyền thống cách mạng, thi đua học tập, lao động, sản xuất, đóng góp sức mình xây dựng huyện ngày càng giàu đẹp, văn minh.

Cùng ngày, huyện đã tổ chức 4 đoàn đi thăm, tặng quà cho 18 người hoạt động cách mạng đang sinh sống tại các xã trên địa bàn huyện, bao gồm: 13 cán bộ tiền khởi nghĩa và 5 lão thành cách mạng, mỗi suất quà trị giá 800.000đ.

Tại các nơi đến thăm hỏi, tặng quà, các đồng chí lãnh đạo huyện chúc sức khỏe, hạnh phúc tới các cá nhân, gia đình và khẳng định: Trung ương và các cấp ủy, chính quyền luôn trân trọng và biết ơn những đóng góp, hy sinh của các gia đình chính sách, những người có công với đất nước; các đồng chí mong muốn các gia đình tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, động viên con cháu tích cực thi đua lao động sản xuất, phát triển kinh tế, xây dựng gia đình ấm no hạnh phúc. Chúc các bác sống vui, sống khoẻ, trường thọ, tiếp tục động viên con cháu phát huy truyền thống cách mạng, là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ học tập, noi theo, tích cực đóng góp xây dựng quê hương, đất nước.

Nhân dịp này, các đồng chí lãnh đạo huyện đề nghị chính quyền địa phương và các đoàn thể cần tiếp tục quan tâm, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần các gia đình chính sách, người có công với đất nước trên địa bàn.

Đỗ Thị Lan

HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

Xây dựng phong cách lãnh đạo của người đứng đầu

theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

về “Phong cách dân chủ, nhưng quyết đoán”

Trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên đều có trách nhiệm tổ chức, lãnh đạo quần chúng, dẫn dắt quần chúng nhân dân đi theo Đảng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Khi Đảng cầm quyền, đảng viên được tín nhiệm và sắp xếp tham gia công tác lãnh đạo, quản lý ở các cơ quan, đơn vị. Vì vậy, phong cách của người lãnh đạo, người đứng đầu có vai trò quan trọng trong việc thực hiện quan điểm, đường lối của Đảng, trong kết quả triển khai thực hiện nhiệm vụ. Xây dựng phong cách lãnh đạo của người đứng đầu theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về “Phong cách dân chủ, nhưng quyết đoán” cần tập trung thực hiện các nội dung sau:

Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ lãnh đạo phải gom góp mọi ý kiến rời rạc, lẻ tẻ của quần chúng, rồi phân tích nó, nghiên cứu nó, sắp đặt nó thành những ý kiến có hệ thống. Rồi đem nó tuyên truyền, giải thích cho quần chúng và làm nó thành ý kiến của quần chúng, làm cho quần chúng giữ vững và thực hành ý kiến đó. Đồng thời nhân lúc quần chúng thực hành, ta xem xét lại, coi ý kiến đó đúng hay không. Rồi lại tập trung ý kiến của quần chúng, phát triển những ưu điểm, sửa chữa những khuyết điểm, tuyên truyền, giải thích, làm cho quần chúng giữ vững và thực hành.

Cứ như thế mãi thì lần sau chắc đúng mực hơn, hoạt bát hơn, đầy đủ hơn lần trước. Đó là cách lãnh đạo cực kỳ tốt”.

Trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cải cách tổ chức, bộ máy nhà nước và nhiều công việc khác, cần phải thực hành cách “liên hợp lãnh đạo với quần chúng” và “liên hợp chính sách chung với chỉ đạo riêng”, tức là vận dụng quan điểm, đường lối chung phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể. Theo Người, như vậy mới thật là biết lãnh đạo, quản lý.

Phong cách lãnh đạo dân chủ thì phải dựa vào quần chúng; là cán bộ lãnh đạo, nhất là người đứng đầu không được quan liêu, hách dịch, coi thường quần chúng nhân dân. Phải biết đời sống thực của Nhân dân như thế nào, khả năng thực của Nhân dân ra sao? Họ đang nghĩ và đang mong muốn những gì? Mỗi lời nói, mỗi việc làm của người cán bộ phải phù hợp với quần chúng, phản ánh đúng được khát vọng của quần chúng. Cán bộ phải biết được những băn khoăn trăn trở của dân để kịp thời uốn nắn và tháo gỡ cùng dân.

Người phê bình cách lãnh đạo của một số cán bộ không dân chủ, dẫn đến tình trạng người có ý kiến không dám nói, người muốn phê bình không dám phê bình, làm cho cấp trên cấp dưới cách biệt nhau, quần chúng với Đảng xa rời nhau, không còn sáng kiến, không còn hăng hái trong khi làm việc. Người chỉ rõ: “Người lãnh đạo muốn biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của mình, muốn biết công tác của mình tốt hay xấu, không gì bằng khuyên cán bộ mình mạnh bạo đề ra ý kiến và phê bình. Như thế chẳng những không phạm gì đến uy tín của người lãnh đạo mà lại tỏ ra dân chủ thật thà trong Đảng.

Nếu cán bộ không nói năng, không đề ý kiến, không phê bình, thậm chí lại tâng bốc mình, thế là một hiện tượng rất xấu. Vì không phải họ không có gì nói, nhưng vì họ không dám nói, họ sợ. Thế là mất hết dân chủ trong Đảng. Thế là nội bộ của Đảng âm u, cán bộ trở nên những cái máy, trong lòng uất ức, không dám nói ra, do uất ức mà hóa ra oán ghét, chán nản”.

Người đòi hỏi phải có phong cách làm việc thực sự dân chủ chứ không phải giả tạo, hình thức để che lấp ý đồ xấu của cá nhân. Bởi vì mọi sự giả tạo đều làm suy yếu, thậm chí phá vỡ tập thể, mọi thói hình thức chủ nghĩa sớm muộn sẽ làm xói mòn, thậm chí triệt tiêu dân chủ.

Cán bộ lãnh đạo, nhất là những người đứng đầu, là người có trọng trách trong một tập thể, vừa phải thực hành dân chủ, lắng nghe ý kiến của tập thể, đồng thời, phải quyết đoán, nhận thức đầy đủ trách nhiệm và dám ra quyết định, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Đây cũng chính là việc thực hiện nghiêm nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”.

Theo Hồ Chí Minh, một người dù tài giỏi đến đâu cũng không thể nắm được hết mọi mặt của một vấn đề, cũng không thể biết hết được mọi việc trong đơn vị cũng như đời sống xã hội. Cho nên, cần phải có cách làm việc tập thể để phát huy được trí tuệ của tập thể, của đông đảo quần chúng nhân dân nhằm hoàn thành sự nghiệp của một tập thể, một đơn vị hay địa phương mà nếu chỉ riêng người cán bộ lãnh đạo, quản lý thì không làm nổi. Tập thể lãnh đạo là dân chủ.

Cá nhân phụ trách là nêu cao trách nhiệm của người lãnh đạo, người quản lý. Có ý thức tập thể cao, tạo ra bầu không khí làm việc dân chủ, tôn trọng và lắng nghe ý kiến tập thể, phát huy trí tuệ tập thể, nhưng không có tính quyết đoán, không dám chịu trách nhiệm cá nhân trước tập thể, thì không thể có những quyết định kịp thời và công việc cũng không thể tiến triển được. Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý các cán bộ lãnh đạo, quản lý rằng: “Những việc bình thường, một người có thể giải quyết đúng, thì người phụ trách cứ cẩn thận giải quyết đi. Những việc quan trọng mới cần tập thể quyết định”.

Theo Hồ Chí Minh, trách nhiệm của người đứng đầu phải được đề cao, đôi khi mang tính quyết định đến hiệu quả công việc. Phong cách làm việc của người cán bộ lãnh đạo, quản lý đúng đắn là phải kết hợp thống nhất giữa cách làm việc dân chủ, tập thể với tính quyết đoán, dám chịu trách nhiệm cá nhân trước tập thể, kịp thời đưa ra những quyết định đúng. Trong những thời điểm quyết định, người lãnh đạo, quản lý phải dám nghĩ, dám làm, dám quyết… điều đó liên quan trực tiếp đến việc tận dụng được thời cơ. Người từng dạy: “Lạc nước hai xe đành bỏ phí, gặp thời một tốt cũng thành công”.

Kết hợp tập thể lãnh đạo với cá nhân phụ trách, thực hiện trách nhiệm của người lãnh đạo, người đứng đầu để khắc phục những hiện tượng coi thường tập thể, hoặc ngược lại, dựa dẫm, ỷ lại vào tập thể, không dám quyết đoán, không nêu cao trách nhiệm cá nhân… làm trì trệ, suy yếu năng lực lãnh đạo, hiệu quả quản lý của người cán bộ lãnh đạo.

Nguyễn Thành Hưng

Gương cán bộ văn phòng Đảng ủy học tập và làm theo lời Bác

Đồng chí Nguyễn Ngọc Thêm - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy kiêm Cán bộ Văn phòng Đảng ủy xã Thiệu Đô, đồng chí luôn nhiệt tình, trách nhiệm với công việc, thực hiện xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao và tích cực trong mọi phong trào của xã.

Nói đến đồng chí Thêm thì ai cũng ghi nhận là một cán bộ luôn hết lòng vì công việc, có lối sống giản dị, hòa đồng với đồng chí, đồng nghiệp, được mọi người quý trọng. Bản thân đồng chí Thêm đã đăng ký việc làm theo Bác trong thực hành tiết kiệm, tích cực học tập nâng cao trình độ.

Để làm tốt công tác tham mưu cho Ban Thường vụ, Ban Chấp hành và Ủy ban kiểm tra Đảng ủy thực hiện công tác kiểm tra giám sát của Đảng hàng năm; đồng chí đã tham mưu tổ chức kiểm tra công tác quản lý đảng viên ở các chi bộ theo quy định của Điều lệ Đảng. Bản thân đồng chí Thêm luôn tự học, tự nghiên cứu các văn bản trong công tác Đảng, công tác kiểm tra của Đảng nhằm nâng cao nghiệp vụ để áp dụng vào công việc, soạn thảo các văn bản đảm bảo nội dung, hình thức, thời gian. Thường xuyên phối hợp với các đoàn thể, chi bộ, cán bộ được phân công nhiệm vụ trong việc hoàn thành đúng tiến độ các nhiệm vụ theo nghị quyết của Đảng ủy; giúp lãnh đạo trong quản lý nghiệp vụ một cách khoa học, là một cán bộ gương mẫu, nói đi đôi với làm, chấp hành nghiêm kỷ luật lao động, được đồng nghiệp và lãnh đạo tin tưởng. Trong nhiệm vụ chuyên môn, nhiệm vụ được phân công cũng như tại các cuộc họp đồng chí đã mạnh dạn tham gia phát biểu ý kiến thể hiện quan điểm, chính kiến của mình, thường xuyên nêu lên những biện pháp tích cực để tổ chức thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và công tác xây dựng Đảng. Trong đánh giá cán bộ, đồng chí nghiêm túc tự phê bình và phê bình để giúp nhau cùng tiến bộ là một trong những cơ sở để đánh giá xếp loại đảng viên vào cuối năm.

Là một cán bộ không chuyên trách với phụ cấp thấp, đời sống còn gặp nhiều khó khăn xong đồng chí Thêm luôn lấy kết quả công việc làm nguồn động viên cho mình. Sự cố gắng của đồng chí trong công tác chuyên môn đã được lãnh đạo xã và các đoàn thể, chi bộ đánh giá cao. Nhiều năm liền được Đảng uỷ, chi bộ đánh giá cán bộ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Thị Hương

THÔNG TIN - TRAO ĐỔI KINH NGHIỆM

Đẩy mnh phong trào thi đua “Dân vn khéo”

trong xây dng nông thôn mi

Trong những năm qua, phong trào thi đua “Dân vận khéo” được triển khai rộng khắp trên địa bàn huyện, đã có gần 240 mô hình “Dân vận khéo” ở tất cả các lĩnh vực tại các xã, thị trấn. Tuy nhiên, việc xây dựng các mô hình “Dân vận khéo” trong xây dựng nông thôn mới chưa thực sự rõ nét, chất lượng còn hạn chế. Vì vậy, để thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIX nhiệm kỳ 2015-2020, phấn đấu đến năm 2020 huyện Thiệu Hóa đạt chuẩn nông thôn mới, Ban Dân vận Huyện ủy đã xây dựng Kế hoạch số 20-KH/BDVHU, ngày 08/8/2018 về triển khai một số mô hình “Dân vận khéo” trong xây dựng nông thôn mới, giai đoạn 2018-2020. Triển khai đồng loạt các mô hình “Dân vận khéo” trên địa bàn toàn huyện, nhằm tiếp tục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy đảng, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể, của cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên về xây dựng nông thôn mới. Thông qua xây dựng các mô hình “Dân vận khéo” để đẩy mạnh công tác tuyên truyền, động viên các tầng lớp nhân dân góp phần vào việc đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện. Ban Dân vận Huyện ủy tập trung triển khai 6 mô hình “Dân vận khéo” sau:

1. Mô hình “Trồng hoa thay thế cỏ dại”: do Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện chủ trì.

2. Mô hình “Môi trường không rác thải tại một số công trình công cộng: dòng sông và ven đê...”: do Huyện Đoàn chủ trì.

3. Mô hình “Xanh, sạch, đẹp khuôn viên cơ quan, đơn vị, trường học”: Do Liên đoàn Lao động huyện chủ trì.

4. Mô hình “Chỉnh trang nhà văn hóa thôn và xây dựng tủ sách pháp luật tại nhà văn hóa thôn, tiểu khu”: do Hội Cựu chiến binh huyện chủ trì.

5. Mô hình “Thu gom, xử lý vỏ, bao bì đựng thuốc bảo vệ thực vật đảm bảo vệ sinh đồng ruộng và cải tạo vườn tạp”: do Hội Nông dân huyện chủ trì.

6. Mô hình “Cùng chung tay xây dựng nông thôn mới”: do MTTQ huyện chủ trì.

Để triển khai thực hiện có hiệu quả các mô hình “Dân vận khéo” trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2018-2020, MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội cấp huyện, đảng ủy các xã, thị trấn, các đảng bộ, chi bộ trực thuộc xây dựng kế hoạch cụ thể để triển khai tới hội viên, đoàn viên và nhân dân.

Ban Dân vận Huyện ủy phối hợp với MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội huyện kiểm tra tiến độ, chất lượng các mô hình ở cơ sở để đánh giá xếp loại thi đua.

Nguyễn Thị Thường -UVBTV, Trưởng Ban Dân vận Huyện ủy

Lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không có lãnh đạo

Thời gian qua, các tổ chức cơ sở đảng trên địa bàn huyện luôn chú trọng đến công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, thường xuyên giáo dục nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên về vai trò, tầm quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát, coi đó là một khâu quan trọng trong toàn bộ hoạt động của tổ chức cơ sở đảng. Công tác kiểm tra, giám sát phải gắn chặt với công tác tư tưởng, công tác tổ chức, phải thực hiện toàn diện, đồng bộ, có hiệu lực, hiệu quả theo phương châm "giám sát phải mở rộng, kiểm tra phải có trọng tâm, trọng điểm" để chủ động phòng ngừa vi phạm. Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng phải kết hợp chặt chẽ giữa xây và chống, lấy xây là chính, khi các vụ việc vi phạm được phát hiện, phải kiên quyết xử lý nghiêm minh để răn đe và giáo dục.

Ngay sau Đại hội Đảng bộ huyện Thiệu Hóa lần thứ XIX, NK 2015 - 2020, cấp ủy, UBKT các cấp đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện nhiệm vụ do Điều lệ Đảng quy định, thực hiện các chủ trương, giải pháp “đổi mới và nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng” mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ đề ra. Cấp ủy, UBKT các cấp đã tiến hành kiểm tra 320 tổ chức đảng cấp dưới, 3685 đảng viên; giám sát 297 tổ chức đảng và 2257 đảng viên; kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với 66 đảng viên và 03 tổ chức đảng; kết luận có 62 đảng viên, 02 tổ chức đảng có vi phạm; thi hành kỷ luật 54 đảng viên và 02 tổ chức đảng; kiểm tra đối với 226 tổ chức đảng cấp dưới thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát; kiểm tra 70 tổ chức đảng cấp dưới trong việc quản lý, thu, chi trích nộp đảng phí theo quy định; đơn thư khiếu nại, tố cáo được tiếp nhận và giải quyết kịp thời. Kết quả kiểm tra, giám sát đã góp phần quan trọng xây dựng Đảng bộ ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Để tiếp tục thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm tra, giám sát của Đảng, thời gian tới cấp ủy, Ủy ban kiểm tra các cấp trên địa bàn huyện cần quán triệt và thực hiện tốt các quan điểm, nhiệm vụ cụ thể sau:

Một là, tiếp tục tuyên truyền nâng cao nhận thức của các cấp ủy, tổ chức đảng về ví trí, vai trò, ý nghĩa, tác dụng của công tác kiểm tra, giám sát. Đặc biệt, cần quán triệt sâu sắc luận điểm mà Đảng ta đã tổng kết từ thực tiễn lãnh đạo: “Lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không có lãnh đạo”, biến nhận thức đó thành hành động cụ thể, tự giác của các cấp ủy và tổ chức đảng, trước hết là người đứng đầu cấp ủy cần coi trọng công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát.

Hai là, bám sát nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng trong tình hình hiện nay, cấp ủy và UBKT các cấp cần tổ chức thực hiện toàn diện các nhiệm vụ kiểm tra, giám sát; đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, phát hiện và ngăn ngừa kịp thời những cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”,…; kiểm tra, giám sát việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) vềtăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ; kiểm tra, giám sát việc thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị khóa XII về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và thực hiện Quy định về những điều đảng viên không được làm.

Ba là, hằng năm, mỗi cấp ủy, tổ chức đảng và Ủy ban kiểm tra các cấp phải xây dựng và tổ chức thực hiện nghiêm túc các chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát. Các chương trình kiểm tra, giám sát cần thiết thực, vừa đảm bảo tính toàn diện, vừa tập trung vào những vấn đề nhạy cảm, dễ phát sinh sai phạm, đặc biệt những vấn đề mà dư luận xã hội bức xúc tại địa phương, cơ quan, đơn vị.

Bốn là, Uỷ ban kiểm tra các cấp phải chủ động kiểm tra dấu hiệu vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên, thực sự coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt của mình. Phải tìm hiểu, nghiên cứu, chọn lọc thông tin qua nhiều kênh (qua tự phê bình và phê bình trong nội bộ, qua đơn thư tố cáo, qua báo chí, qua nhận xét, đánh giá có căn cứ của cán bộ theo dõi...) để chủ động, phát hiện dấu hiệu vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên mà tiến hành kiểm tra, không để dư luận phản ứng kéo dài, gây phức tạp tình hình.

Năm là, các cấp ủy đảng phải thường xuyên quan tâm kiện toàn tổ chức bộ máy và tăng cường cán bộ kiểm tra bảo đảm tương xứng với chức năng, nhiệm vụ được giao, trước mắt là thực hiện tốt công tác quy hoạch và chuẩn bị nhân sự Ủy ban kiểm tra các cấp trong nhiệm kỳ tới, phát huy đầy đủ vai trò của ủy ban kiểm tra trong tham mưu, giúp cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác kiểm tra, giám sát theo quy định của Điều lệ Đảng.

Tạ Quang Du - Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy

Xã Thiệu Chính phấn đấu về đích nông thôn mới năm 2018

Sau hơn 6 năm nỗ lực thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, đến nay xã Thiệu Chính có 17/19 tiêu chí đạt chuẩn nông thôn mới. Trong quá trình xây dựng nông thôn mới, Thiệu Chính đã tập trung theo hướng phát triển bền vững, có trọng tâm, trọng điểm, lấy phát triển sản xuất nông nghiệp làm nòng cốt, tập trung đầu tư xây dựng hạ tầng, từng bước nâng cao mức sống, thu nhập cho người dân.

Trong xây dựng NTM, xã thực hiện dân chủ, công khai họp bàn trước nhân dân, ưu tiên xây dựng các công trình hạ tầng phúc lợi phục vụ phát triển KT-XH của xã, ưu tiên phục vụ sản xuất và dân sinh. Đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền, làm thay đổi nhận thức của người dân về xây dựng nông thôn mới; thực hiện hiệu quả các phong trào thi đua “Chung sức xây dựng nông thôn mới", “Đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, “Nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi”... Các giải pháp trong xây dựng nông thôn mới được xã chú trọng. Xác định mục tiêu xây dựng nông thôn mới là nâng cao đời sống người dân, cấp ủy, chính quyền xã Thiệu Chính đã tập trung chỉ đạo nhân dân phát huy tiềm năng, thế mạnh địa phương, tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mở rộng diện tích trồng cây rau màu các loại.

Từ năm 2011 đến hết năm 2017 Thiệu Chính đã huy động được 220,582 tỷ đồng từ các nguồn vốn để thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới; vận động nhân dân tích cực hiến đất, góp ngày công để từng bước hoàn thiện cơ sở hạ tầng, tạo diện mạo mới cho địa phương. Đến nay, toàn xã có 100% hộ sử dụng điện an toàn; 2/3 trường học đạt chuẩn Quốc gia; 10/10 thôn có nhà văn hóa và khu thể thao đạt chuẩn; thu nhập bình quân đầu người đạt 34,2 triệu đồng/người/năm, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 3,07%.

Đến thời điểm này xã đã hoàn thành 17/19 tiêu chí về xây dựng nông thôn mới, còn 2 tiêu chí đang xây dựng và đề nghị công nhận trong năm 2018: Tiêu chí số 5 về trường học, trường THCS đã đầu tư bổ sung, đang trình cấp có thẩm quyền công nhận lại đã đạt chuẩn quốc gia; Tiêu chí số 17 về môi trường và an toàn thực phẩm, trong đó tiểu mục 17.8 "Tỷ lệ hộ gia đình và cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm tuân thủ các quy định về đảm bảo an toàn thực phẩm của xã đạt 100%, hiện đang đợi quyết định của tỉnh".

Con đường về đích xã đạt chuẩn NTM của Thiệu Chính không còn xa. Tin tưởng rằng, với quyết tâm của cả hệ thống chính trị, sự hỗ trợ tích cực của các cấp, các ngành, Thiệu Chính sẽ phấn đấu “về đích” theo lộ trình đã đề ra trong năm 2018.

Thị Hương

LỊCH SỬ - VĂN HÓA - NGHỆ THUẬT

Nghề đúc đồng cổ truyền làng Chè (Trà Đông), di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia, xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa

Nghề đúc đồng Trà Đông xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa thuộc loại hình di sản nghề thủ công truyền thống, Chủ thể của di sản là một cộng đồng làng nghề Trà Đông. Nghề đúc Trà Đông không rõ chính thức ra đời từ bao giờ? Chưa có một tài liệu nào cho biết chính xác, nhưng theo truyền thuyết nghề đúc mới có từ cuối thời Tiền Lê đầu thời Lý do hai người họ Vũ mang đến cho làng trà Đông nên ở làng còn có câu ca “Đất họ Lê - nghề họ Vũ”, cũng có thuyết cho rằng, nghề đúc đồng ở làng Trà Đông là do ông Thái sư Không Lộ, tự Minh Không truyền nghề (Khổng Minh Không là một nhân vật huyền thoại). Sau khi từ Trung Quốc về, ngài cùng hai đồ đệ chu du khắp nơi tìm đất làm khuôn đúc đồng. Đi mãi, đến Trà Sơn Trang (Trà Đông) ngài mới tìm được đất tốt, đem về vùng Lâm Trúc Sơn (Hà Nội) để đúc bộ tứ khí gồm: Tháp Bảo Thiên, vạc Minh Đỉnh, tượng Quỳnh Lâm, chuông Phả Lại. Sau đó ngài cho 2 đồ đệ về Trà Sơn Trang mở lò truyền nghề đúc cho dân.

Quy trình sản xuất:

- Khâu tạo khuôn mẫu: Nguyên liệu chính là đất sét, trấu lúa xay. Hỗn hợp hữu cơ gồm trấu đốt cho cháy đỏ, loại cháy hết nhưng chưa thành tro bụi được nghiền lẫn với đất sét đã sử dụng thành bột cho ngâm ủ với nước vừa phải có thời gian từ 10 ngày trở lên để tạo độ kết dính. Trấu xay kết hợp với trấu đốt cháy đen sau đó được pha chế với bột chì (glo phíp) tỷ lệ 0,5% . Tạo khuôn mẫu đúc được chia làm 2 bộ phận:

- Khuôn ngoài: được tạo bởi hình dáng hoa văn được thể hiện trên sản phẩm sau khi đúc. Quá trình thể hiện được thực hiện qua các bước tạo hình “xe cốt”, khuôn mẫu được làm 2 mảnh như nhau, sau đó tạo hoa văn của sản phẩm.

- Khuôn trong (cốt trong hay còn gọi là thao): Nguyên liệu để làm khuôn trong cũng như khuôn ngoài, quy trình tạo mẫu khuôn ngoài gồm “dựng cốt”, tre ngáng “cao thao”, dặm thao và xẻ cốt.

- Phơi, sấy và nung làm cho khuôn khô. Khi khuôn ngoài và khuôn trong đã tạo xong mẫu thì tiến hành phơi, sấy và nung làm cho khuôn khô. Sau khi nung đến cung đoạn mài, giọt “làm thịt thao”, trảm thao, đống nén để thử khuôn trong và khuôn ngoài. Trước khi nung khuôn thường được phơi khuôn ngoài trời nắng cho khuôn khô nước, để khi nung khuôn được rắn chắc và giảm chi phí nguyên liệu. Khi nung khuôn chỉ tiến hành mài giọt, tạo khe hở theo độ dày mỏng của sản phẩm để khi lắp ghép khuôn ngoài và khuôn trong có khe hở theo độ dày mỏng. Sau khi “mài giọt” khuôn thì làm “dò khuôn” và trảm thao dò khuôn thì dùng bằng thanh tre nứa vuốt nhẵn, có kích thước theo độ dày mỏng của sản phẩm. Sau đó thét khuôn để kiểm tra độ dày, mỏng rồi tháo khuôn ra lấy tro mên ướt xoa lên toàn bộ thao dùng dẻ bọc “sành” cho phẳng mịn, sấy lại khuôn gọi là “trản khuôn” và sau đó lắp ghép khuôn.

- Đúc đồng: Là khâu kỹ thuật quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm. Dụng cụ đúc đồng gồm: nồi cơi, ống cơi và bể thổi lửa. Khi mọi công việc đã chuẩn bị xong, người thợ tiến hành đốt lò và cho nguyên liệu vào nồi nấu đồng gồm than các loại, đồng và kim loại đã pha chế. Khi nấu cho than và đồng vào ống cơi, dùng quạt gió thổi theo tốc độ phù hợp, theo từng cung đoạn than cháy hồng đến nhiệt độ khoảng 8000C là đồng bắt đầu chảy, nước đồng chảy qua đầu móng nồi trên xuống nồi cơi, còn than nổi lên trên lúc đó bổ sung thêm kim loại khác theo tỷ lệ, than đốt đến khi đồng chảy hết thấy nồi đồng và ống cơi chỉ còn khói trắng là được. Nâng “ống cơi” gạt lọc hết tạp chất nổi ở trên nồi đồng rồi dùng tro bếp dây mịn đắp phủ lên để giữ nhiệt, sau đó đổ đồng vào khuôn, khi rót đồng vào khuôn yêu cầu phải có kỹ thuật và kinh nghiệm. Khi đổ đồng vào khuôn, đồng chảy phải có ngọn chảy đều và đổ liên tục cho đến khi đầy. Khi vừa đổ đồng xong phải khẩn trương tháo sạch sẽ để đồng co giãn thoát khí nhanh để không bị dính khuôn và rạn nứt sản phẩm. Các cung đoạn trên hoàn tất để trong thời gian vừa phải (phụ thuộc vào từng loại sản phẩm dày hay mỏng, to hay nhỏ). Nhưng thông thường trống F 120mm đến 300mm khoảng 20 phút. F 300mm đến 450mm khoảng 30 phút là được rồi tháo khuôn ra để lấy sản phẩm. Sau khi lấy sản phẩm ra, làm nguội nhẵn đánh bóng sản phẩm là xuất xưởng.

Hiện nay, nghề đúc đồng phát triển khắp làng. Mỗi gia đình là một cơ sở sản xuất, chủ gia đình cũng là chủ lò đúc. Ngoài công việc chính là đúc ra sản phẩm, các khâu khác quan trọng như tìm kiếm nguyên vật liệu, tiêu thụ sản phẩm đều do các gia đình đảm nhận. Theo số liệu điều tra tại làng nghề hiện tại có 15 hộ theo nghề đúc, trong đó có 4 hộ chuyên đúc đồng, 11 hộ còn lại chuyên về nhôm, gang… Các sản phẩm như: chuông đồng, tượng đồng và chiêng đồng vẫn đảm bảo chất lượng và yếu tố thẩm mỹ như xưa vậy. Với những việc làm như vậy đã thực sự góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Do đó, ngày 04/9/2018 Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Ngọc Thiện đã ký ban hành quyết định số 3325/QĐ - BVHTTDL về việc công bố danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Trong đó, nghề đúc đồng cổ truyền làng Chè (Trà Đông), xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa (Thanh Hóa) được đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Trần Ngọc Tùng

Ý Đảng lòng dân

Mương máng dọc ngang thẳng tắp đồng

Xa gần, cao thấp nước lưu thông

Dồn điền, đổi thửa màu sai quả

Giống mới gieo trồng lúa trĩu bông

Ý Đảng dẫn đường thề xốc tới

Lòng dân đổi mới ắt thành công

Muôn đời ghi nhớ công ơn Đảng

Cuộc sống rạng ngời thỏa ước mong.

Nguyễn Thị Thúy (St)

Nguồn tuyển tập thơ "Tình Quê" - NXB Thanh Hóa năm 2013

Bản tin nội bộ Tháng 9

Đăng lúc: 01/10/2018 (GMT+7)
100%

HƯỚNG DẪN - CHỈ ĐẠO

Quy định về luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý

Ngày 10/8/2018, Ban Thường vụ Huyện ủy ban hành Quy định về luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện và cấp xã trên địa bàn huyện. Bản Tin nội bộ huyện trích giới thiệu một số nội dung của Quy định như sau:

Điều 1. Mục đích, yêu cầu.

1- Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chủ trương, nghị quyết của Đảng về công tác cán bộ và luân chuyển cán bộ, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

2- Đổi mới mạnh mẽ công tác luân chuyển cán bộ, bảo đảm dân chủ, khách quan, công khai, minh bạch, công bằng; ngăn chặn tiêu cực, tham nhũng, lợi ích nhóm, quan hệ dòng họ, thân quen.

3- Thực hiện chủ trương đào tạo, bồi dưỡng toàn diện và sử dụng hiệu quả đội ngũ cán bộ; tạo điều kiện cho cán bộ trẻ, có triển vọng, cán bộ trong quy hoạch được rèn luyện thực tiễn; tạo nguồn cán bộ lâu dài trong hệ thống chính trị cấp huyện và địa phương.

4- Kết hợp luân chuyển với điều động, bố trí hp lý đội ngũ cán bộ trong toàn hệ thống chính trị; tăng cường cán bộ cho những nơi khó khăn có nhu cầu, khắc phục tình trạng nơi thừa, nơi thiếu và cục bộ, khép kín trong công tác cán bộ.

5- Luân chuyển cán bộ nhằm thực hiện chủ trương “cán bộ chủ chốt cấp huyện nói chung phải kinh qua chức vụ chủ chốt cấp dưới”. Đồng thời tiếp tục thực hiện chủ trương luân chuyển cán bộ kết hợp chặt chẽ bố trí một số chức danh chủ chốt cấp xã, thị trấn (bí thư, phó bí thư CT UBND, PCT UBND xã, thị trấn) không là người địa phương và cán bộ không giữ chức vụ quá hai nhiệm kỳ liên tiếp.

Điều 2. Quan điểm, nguyên tắc.

1- Công tác luân chuyển cán bộ phải đặt dưới sự lãnh đạo thường xuyên, trực tiếp, toàn diện của Ban Thường vụ Huyện ủy, các cấp uỷ, tổ chức đảng; bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy vai trò, trách nhiệm của tập thể lãnh đạo và người đúng đầu; giải quyết tốt mối quan hệ giữa luân chuyển với ổn định và xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên sâu; vừa coi trọng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác, vừa coi trọng mục đích bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ, chuẩn bị đội ngũ cán bộ kế cận.

2- Luân chuyển cán bộ phải bảo đảm tổng thể, đồng bộ, liên thông, thưng xuyên, liên tục, có luân chuyển dọc, luân chuyển ngang giữa các cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị; phải gắn kết chặt chẽ vi quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, sắp xếp, bố trí, sử dụng cán bộ.

3- Bố trí cân đối, hài hoà giữa luân chuyển với việc phát triển nguồn cán bộ tại chỗ của các cơ quan, đơn vị, địa phương. Nói chung, chỉ luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý, không luân chuyển cán bộ chuyên môn về giữ chức vụ lãnh đạo ở xã, thị trấn. Không luân chuyển về huyện, về cơ sở hoặc sang địa phương, cơ quan, đơn vị khác những cán bộ bị kỷ luật, không hoàn thành nhiệm vụ, năng lực yếu, uy tín giảm sút, không có triển vọng phát triển.

4- Cán bộ luân chuyển nói chung phải là cán bộ trẻ, trong quy hoạch, có triển vọng phát triển; có phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và năng lực công tác tốt; quan tâm lựa chọn cán bộ trẻ, cán bộ nữ có năng lực.

5- Việc luân chuyển cán bộ phải có kế hoạch cụ thể và có lộ trình từng bước thực hiện; có chính sách đối với cán bộ luân chuyển, tạo điều kiện cho cán bộ luân chuyển phát huy năng lực, sở trường, chuyên môn, rèn luyện, tích luỹ kinh nghiệm thực tiễn; đồng thời, có quy định quản lý, giám sát đối với cán bộ luân chuyển.

6- Việc xem xét, bố trí cán bộ sau luân chuyển phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, tình hình thực tiễn; kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị gắn với trách nhiệm cá nhân của cán bộ được luân chuyển và nhận xét, đánh giá cán bộ.

Điều 3. Giải thích từ ngữ.

1- "Luân chuyển" cán bộ là việc cử có thời hạn cán bộ trẻ, có năng lực, triển vọng, trong quy hoạch từ cấp huyện về cấp, thị trấn và giữa các địa phương, cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị nhằm đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, thử thách cán bộ, làm cơ sở lựa chọn, bố trí, sử dụng cán bộ.

2- "Điều động" cán bộ là việc phân công, bố trí, chuyển đổi vị trí công tác có thời hạn hoặc không xác định thời hạn đối với cán bộ ở các địa phương, cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị (không phân biệt giữ chức vụ hoặc không giữ chức vụ) theo quy định của Đảng và Nhà nước, theo kế hoạch hoặc theo yêu cầu công tác của cơ quan có thẩm quyền.

3- "Người địa phương" được hiểu là người sinh ra, lớn lên và trưởng thành ở địa phương đó hoặc là người đã học tập, công tác từ 20 năm trở lên ở địa phương đó.

4- "Cán bộ giữ chức vụ không quá hai nhiệm kỳ liên tiếp" được hiểu là không giữ một chức vụ cấp trưởng (đối với cả chức danh bầu cử và bổ nhiệm) liên tục từ 8 năm trở lên ở cùng một địa phương, cơ quan, đơn vị.

5- Cơ quan nơi đi: Địa phương, cơ quan, đơn vị cử cán bộ đi luân chuyển.

6- Cơ quan nơi đến: Địa phương, cơ quan, đơn vị tiếp nhận cán bộ luân chuyển.

Điều 4. Phạm vi, đối tượng, chức danh luân chuyển.

1- Phạm vi luân chuyển.

- Luân chuyển cán bộ từ cấp huyện về cấp xã, thị trấn và ngược lại;

- Luân chuyển cán bộ giữa các xã, thị trấn;

- Luân chuyển cán bộ giữa các cơ quan thuộc khối đảng, chính quyền, mặt trận Tổ quốc, đoàn thể chính trị - xã hội với nhau.

2- Đối tượng luân chuyển.

- Cán bộ trẻ, có năng lực, triển vọng, trong nguồn quy hoạch cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy và các chức danh lãnh đạo chủ chốt cấp huyện, cấp;

- Cán bộ trong nguồn quy hoạch các chức danh trưởng hoặc phó các ban, trưởng phòng, CTMTTQ, trưởng các đoàn thể chính trị - xã hội cấp huyện;

- Cán bộ được luân chuyển để thực hiện chủ trương bố trí chức danh bí thư đảng ủy; phó bí thư đảng ủy, chủ tịch, phó chủ tịch ủy ban nhân dân xã, thị trấn không phải là người địa phương;

- Cán bộ là người đứng đầu đã giữ chức vụ hai nhiệm kỳ liên tiếp (từ 8 năm trở lên) ở một địa phương, cơ quan, đơn vị. Cụ thể: Trưởng các ban, phòng, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể chính trị - xã hội cấp huyện; Bí thư đảng ủy, chủ tịch ủy ban nhân dân xã, thị trấn; Trường hợp khác do Ban Thường vụ Huyện ủy xem xét quyết định. Riêng các đối tượng luân chuyển diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý trước khi thực hiện luân chuyển phải báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy cho ý kiến mới thực hiện.

3- Chức danh bố trí luân chuyển

- Đối với cán bộ đã giữ chức vụ cấp trưởng 02 nhiệm kỳ liên tục và những cán bộ luân chuyển để thực hiện chủ trương không phải là người địa phương, khi luân chuyển chủ yếu bố trí làm cấp trưởng hoặc chức danh tương đương;

- Đối với cán bộ trẻ trong nguồn quy hoạch khi luân chuyển để đào tạo, rèn luyện có thể bố trí làm cấp trưởng, hoặc cấp phó;

- Trường hợp khác do Ban Thường vụ Huyện ủy xem xét quyết định.

Điều 5. Tiêu chuẩn, điều kiện.

1- Có lập trường, tư tưởng chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt; có năng lực và triển vọng phát triển; về cơ bản đáp ứng tiêu chuẩn, tiêu chí chức danh luân chuyển theo quy định;

2- Có quy hoạch, có trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, đủ sức khoẻ công tác;

3- Còn thời gian công tác ít nhất 02 nhiệm kỳ (10 năm) tính từ thời điểm đi luân chuyển (50 tuổi đối với nam, 45 tuổi đối với nữ);

4- Cán bộ luân chuyển để bố trí không phải người địa phương, không giữ chức vụ quá hai nhiệm kỳ liên tiếp phải đủ thời gian công tác ít nhất trọn một nhiệm kỳ (tính từ thời điểm luân chuyển);

5- Trường hợp khác do Ban Thường vụ Huyện ủy xem xét quyết định.

Điều 6. Thẩm quyền, trách nhiệm.

1- Thẩm quyền: Thực hiện theo Quy định về phân công, phân cấp quản lý tổ chức bộ máy và cán bộ.

2- Trách nhim:

- Cấp có thẩm quyền quyết định luân chuyển cán bộ: Xây dựng kế hoạch luân chuyển cán bộ; thực hiện quy trình, thủ tục bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch; kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm; quản lý, đánh giá, nhận xét, bố trí, phân công công tác đối với cán bộ sau luân chuyển; sơ kết, tổng kết công tác luân chuyển cán bộ.

- Cơ quan nơi đi: Nhận xét, đánh giá, đề xuất cán bộ luân chuyển; phối hợp với cơ quan liên quan trong công tác quản lý, giám sát và theo dõi, giúp đỡ đối với cán bộ luân chuyển; có trách nhiệm tiếp nhận, bố trí công tác đối với cán bộ sau luân chuyển.

- Cơ quan nơi đến: Chấp hành nghiêm quyết định về luân chuyển cán bộ của Ban Thường vụ Huyện ủy; có trách nhiệm bố trí công tác, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để cán bộ luân chuyển phát huy năng lực, sở trường; quản lý, đánh giá cán bộ; phối hợp với các cơ quan liên quan đề xuất hướng bố trí, sử dụng cán bộ sau luân chuyển.

- Cán bộ luân chuyển: Chấp hành nghiêm các quy định, quy chế, phân công của Ban Thường vụ Huyện ủy; cơ quan nơi đi và nơi đến; tu dưỡng, rèn luyện, nỗ lực, cố gắng, phát huy năng lực, sở trường để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; chịu sự kiểm tra, giám sát, báo cáo định kỳ (06 tháng/lần) hoặc đột xuất theo yêu cầu của cơ quan quản lý; giữ mối liên hệ với cơ quan nơi đi, cơ quan tham mưu tổ chức - cán bộ.

-quan tham mưu về công tác tổ chức, cán bộ: Có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các ban đảng, cơ quan liên quan tham mưu giúp Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Huyện ủy: xây dựng kế hoạch luân chuyển, nhận xét, đánh giá, đề xuất bố trí, sắp xếp cán bộ trước và sau luân chuyển; tham mưu sơ kết, tổng kết,... về công tác luân chuyển cán bộ.

- Các cơ quan có liên quan: Tham gia thẩm định nhân sự luân chuyển theo chức năng, nhiệm vụ; phối hp với Ban Tổ chức, kiểm tra, giám sát và tham gia ý kiến trong việc bố trí, sắp xếp cán bộ sau luân chuyển.

Điều 7. Kế hoạch, quy trình, hồ sơ cán bộ luân chuyển.

1- Kế hoạch.

- Căn cứ quy hoạch cán bộ, nhu cầu công tác và năng lực, sở trường của cán bộ, cấp uỷ, tổ chức đảng và cấp có thẩm quyền xây dựng kế hoạch luân chuyến cán bộ thuộc phạm vi quản lý.

- Kế hoạch luân chuyển phải làm rõ các nội dung: Nhu cầu, vị trí luân chuyển; hình thức luân chuyển; địa bàn luân chuyển; thời hạn luân chuyển; cơ chế, chính sách cần thiết bảo đảm thực hiện; dự kiến phương án bố trí cán bộ sau luân chuyển...

- Trên cơ sở kế hoạch, lập danh sách cán bộ luân chuyển và phương án luân chuyển cụ thể đối với từng cán bộ.

2- Quy trình.

Bước 1: Căn cứ vào nhu cầu luân chuyển cán bộ, cấp uỷ, tổ chức đảng, lãnh đạo cơ quan, đơn vị tiến hành rà soát, đánh giá đội ngũ cán bộ của địa phương, cơ quan, đơn vị; xây dựng kế hoạch luân chuyển trình cấp có thẩm quyền xem xét, cho chủ trương.

Bước 2: Căn cứ vào chủ trương của Ban Thường vụ Huyện ủy, cơ quan tham mưu tổ chức - cán bộ thông báo để các địa phương, cơ quan, đơn vị đề xuất nhân sự luân chuyển.

Bước 3: Tổng hp đề xuất của các địa phương, cơ quan, đơn vị; cơ quan tham mưu tổ chức - cán bộ tiến hành rà soát tiêu chuẩn, tiêu chí và dự kiến địa bàn, chức danh và nhân sự luân chuyển. Ly ý kiến nhận xét, đánh giá đối với nhân sự dự kiến luân chuyển.

Bước 4: Cơ quan tham mưu tổ chức - cán bộ gửi văn bản lấy ý kiến thẩm định của các cơ quan liên quan, trao đổi với nơi đi, nơi đến, chức danh và nhân sự luân chuyển; tổng hp kết quả thẩm định và trao đổi với cán bộ dự kiến luân chuyển.

Tổ chức gặp gỡ cán bộ được luân chuyển để quán triệt mục đích, yêu cầu luân chuyển; đồng thời, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và xác định trách nhiệm đối với cán bộ luân chuyển.

Bước 5: Cơ quan tham mưu tổ chức - cán bộ trình Ban Thường vụ Huyện ủy xem xét, quyết định và lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện (công bố quyết định, chỉ đạo bầu cử và các công việc cần thiết khác).

3- Hồ sơ cán bộ luân chuyển: Hồ sơ cán bộ luân chuyển thực hiện như hồ sơ bổ nhiệm cán bộ và giới thiệu cán bộ ứng cử theo quy định hiện hành.

Điều 8. Thời gian luân chuyển.

- Thời gian luân chuyển từ 03 năm (36 tháng) trở lên đối với một chức danh (trừ chức danh kiêm nhiệm).

- Trường hợp đặc biệt do BTV Huyện ủy xem xét, quyết định.

Điều 9. Nhận xét, đánh giá đối vi cán bộ luân chuyển.

1- Cấp uỷ, tổ chức đảng và tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị quản lý cán bộ, đề xuất cán bộ luân chuyển có trách nhiệm nhận xét, đánh giá về phẩm chất đạo đức, lối sống; năng lực công tác và uy tín; quá trình công tác và ưu, khuyết điểm của cán bộ; có kết luận về tiêu chuẩn chính trị theo Quy định số 126- QĐ/TW, ngày 28/02/2018 của Bộ Chính trị "Một số vấn đề về bảo vệ chính trị nội bộ Đảng", báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định luân chuyển cán bộ.

2- Định kỳ 6 tháng, hằng năm hoặc đột xuất theo yêu cầu của Ban Thường vụ Huyện ủy, cấp uỷ, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị nơi có cán bộ luân chuyển đến tiến hành nhận xét, đánh giá cán bộ luân chuyển theo các tiêu chí quy định; báo cáo Ban Thường vụ Huyện ủy theo quy định.

3- Nhận xét, đánh giá khi hết thời gian luân chuyển:

- Cán bộ luân chuyển tự kiểm điểm về quá trình công tác trong thời gian luân chuyển.

- Ban thường vụ cấp uỷ, tập thể lãnh đạo địa phương, cơ quan, đơn vị nơi có cán bộ luân chuyển đến nhận xét, đánh giá cán bộ luân chuyển trong thời gian công tác tại địa phương, cơ quan, đơn vị.

- Cấp có thẩm quyền quyết định luân chuyển nhận xét, đánh giá về cán bộ luân chuyển.

4- Cấp uỷ, tổ chức đảng và tập thể lãnh đạo địa phương, cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm trước Ban Thường vụ Huyện ủy về nhận xét, đánh giá và kết luận của mình đối với cán bộ luân chuyển.

Điều 10. Bố trí cán bộ sau luân chuyển.

Sau thời hạn cán bộ đi luân chuyển, việc xem xét bố trí, phân công cán bộ sau luân chuyển phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, tình hình thực tế, kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị gắn với trách nhiệm cá nhân của cán bộ được luân chuyển và kết quả nhận xét, đánh giá cán bộ.

Điều 11. Chế độ, chính sách đối với cán bộ luân chuyển.

1- Thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ luân chuyển: hỗ trợ một phần kinh phí đi lại, sinh hoạt phí; bảo lưu chế độ, phụ cấp trách nhiệm đối với cán bộ luân chuyến nếu chức danh luân chuyển có chế độ, phụ cấp trách nhiệm thấp hơn.

2- Cán bộ luân chuyển có thành tích đặc biệt xuất sắc (có sáng kiến, sản phẩm công tác cụ th được cấp có thẩm quyền công nhận); được ưu tiên khi xem xét bố trí công tác sau luân chuyển.

Điều 12. Kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm.

Các cấp uỷ, tổ chức đảng lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát công tác luân chuyển cán bộ theo quy định; đề xuất khen thưởng, biểu dương đối với những nơi làm tốt và có biện pháp chấn chỉnh, xử lý đối với những tổ chức, cá nhân vi phạm.

Điều 13. Điều khoản thi hành.

1- Căn cứ quy định của Ban Thường vụ Huyện ủy, các đảng ủy, chi ủy, lãnh đạo các ban, phòng, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể cấp huyện thực hiện nghiêm Quy định này.

2- Giao Ban Tổ chức Huyện ủy phối hợp với UBND huyện đề xuất Ban Thường vụ Huyện ủy xây dựng quy định về chế độ, chính sách đối với cán bộ luân chuyển.

3- Giao Ban Tổ chức Huyện ủy chủ trì, phối hp với ủy ban Kiểm tra Huyện ủy hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy định này; đề xuất Ban Thường vụ Huyện ủy xem xét, biểu dương, khen thưởng đối với những nơi làm tốt và có biện pháp chấn chỉnh, xử lý đối với những t chức, cá nhân vi phạm; định kỳ 6 tháng tổng hợp, báo cáo Ban Thường vụ Huyện ủy.

Lãnh đạo kiện toàn chi bộ đảng

theo thôn, tiểu khu sau khi được sáp nhập

Ngày 18/9/2018, Ban Thường vụ Huyện ủy ban hành Công văn số 643 - CV/HU về việc kiện toàn chi bộ đảng theo thôn, tiểu khu sau khi được sáp nhập. Bản Tin nội bộ huyện giới thiệu toàn văn nội dung Công văn như sau:

Thực hiện Chỉ thị số 12-CT/TU, ngày 25/10/2017 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về lãnh đạo thực hiện sáp nhập thôn, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh; Quyết định số 3010/QĐ - UBND, ngày 17/8/2018 của UBND tỉnh; Nghị quyết số 106/NQ-HĐND, ngày 11/7/2018 của HĐND tỉnh về việc đổi tên, chuyển thôn thành khu phố, sáp nhập để thành lập thôn, tổ dân phố tại xã, phường, thị trấn thuộc các huyện, thị xã thành phố trên địa bàn tỉnh. Đối với huyện Thiệu Hóa đổi tên 8 thôn, tiểu khu; sáp nhập 102 thôn, tiểu khu để thành 49 thôn, tiểu khu mới tại 19 xã, thị trấn.

Để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện việc sáp nhập thôn, tiểu khu được tốt, Ban Thường vụ Huyện ủy đề nghị đảng ủy các, thị trấn lãnh đạo, chỉ đạo kiện toàn, sắp xếp tổ chức thôn, chi bộ đảng và các đoàn th thôn, tiểu khu, như sau:

1. Phải làm tốt công tác tuyên truyền đến cán bộ, đảng viên, nhân dân, tạo sự thống nhất cao và khí thế của thôn, tiểu khu mới, tạo ra phong trào hành động xây dựng thôn, tiểu khu phát triển toàn diện.

2. Tập trung lãnh, chỉ đạo, xây dựng phương án sắp xếp, kiện toàn thôn, chi bộ đảng và các tổ chức đoàn thể theo đúng quy định của Pháp luật, Điều lệ Đảng và quy định của điều lệ các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội. Khi tổ chức công bố quyết định thôn, tiểu khu mới, đồng thời tiến hành công bố quyết định thành lập chi bộ, các tổ chức đoàn thể theo thôn, tiểu khu mới để bộ máy của các tổ chức đi vào hoạt động.

3. Trong quá trình thực hiện việc sắp xếp, kiện toàn chi bộ và các tổ chức đoàn thể, cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác bố trí, sắp xếp nhân sự chi ủy viên, bí thư, phó bí thư chi bộ, trưởng thôn, trưởng tiểu khu; giải quyết kịp thời những vấn đề phát sinh, tồn đọng, vướng mắc; quan tâm, động viên và thực hiện chính sách đối với những cán bộ thôn, tiểu khu, nghỉ do việc sắp xếp, kiện toàn lại thôn, chi bộ thôn, tiểu khu, theo quy định.

- Công tác nhân sự: Phải thực hiện công khai, dân chủ, bảo đảm số lượng theo quy định, cơ cấu hợp lý; ưu tiên những cán bộ trẻ, có sức khỏe, trình độ, năng lực, trách nhiệm để tham gia chi ủy, bí thư chi bộ, trưởng thôn, trưởng tiểu khu.

- Tiếp tục thực hiện việc nhất thể bí thư chi bộ là trưởng thôn, trưởng tiểu khu theo chỉ đạo của BTV Tỉnh ủy và Công văn số 314-CV/HU, ngày 11/4/2017 của BTV Huyện ủy về việc chỉ đạo đại hội chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở, nhiệm kỳ 2017-2020 (những nơi quá khó khăn về việc nhất thể bí thư chi bộ kiêm trưởng thôn, trưởng tiểu khu, đảng ủy xem xét báo báo BTV Huyện ủy).

4. Về cơ sở vật chất của thôn, tiểu khu khi sáp nhập được giữ nguyên nhà văn hóa, bàn ghế, các cơ sở vật chất khác; chọn 01 nhà văn hóa có vị trí phù hợp, điều kiện cơ sở vật chất tốt hơn làm nơi hội họp và sinh hoạt thôn; công nợ, quỹ của thôn được bàn giao và thực hiện công khai dân chủ, minh bạch trước nhân dân trong thôn, tiểu khu.

5. Thời gian: Hoàn thành trước ngày 20/10/2018.

6. Việc tổ chức lễ công bố quyết định sáp nhập thôn, tiểu khu và cấp ủy chi bộ được thực hiện trong buổi lễ. Đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng, đề nghị các cấp ủy, chính quyền huyện, xã, thị trấn tập trung lãnh đạo, chỉ đạo để việc sáp nhập thôn, tiểu khu đảm bảo đúng quy định, trang trọng, tiết kiệm; đề nghị các đồng chí Thường vụ Huyện ủy phụ trách cụm, các đồng chí cấp ủy vòng 2 chỉ đạo; UBND huyện chỉ đạo hướng dẫn, thực hiện; Ban Tổ chức Huyện ủy, MTTQ, các đoàn thể huyện, xã hướng dẫn thực hiện theo Điều lệ Đảng, Điều lệ MTTQ và đoàn thể.

Hướng dẫn kiện toàn chi bộ đảng

theo thôn, tiểu khu sau khi được sáp nhập

Ngày 18/9/2018, Ban Tổ chức Huyện ủy ban hành Công văn số 221- CV/BTCHU về việc hướng dẫn kiện toàn chi bộ đảng theo thôn, tiểu khu sau khi được sáp nhập. Bản Tin nội bộ huyện trích giới thiệu một số nội dung như sau:

- Việc tiến hành lựa chọn nhân sự chi ủy viên, bí thư, phó bí thư chi bộ, trưởng thôn (tiểu khu) và cán bộ đoàn thể, cần m rộng dân chủ để lấy ý kiến của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trên cơ sở đó, đảng ủy xem xét, quyết định.

- Đối với những trường hợp sáp nhập 02 thôn (tiểu khu), trở lên (sáp nhập toàn bộ) thành mt thôn (tiểu khu) mới: Trên cơ sở chi ủy viên, bí thư, phó bí thư chi bộ, trưởng thôn, trưởng tiểu khu của các thôn (tiểu khu) được sáp nhập và nguồn nhân sự khác (nếu có), đảng ủy dự kiến số lượng, cơ cấu, nhân sự chi ủy viên, bí thư, phó bí thư chi bộ thôn (tiểu khu) mới, để tổ chức xin ý kiến giới thiệu ở các hội nghị như sau:

+ Hội nghị cán bộ chủ chốt thôn (tiểu khu), gồm: Chi ủy chi bộ, trưởng thôn, trưởng tiểu khu; trưởng, phó các chi hội trong thôn (tiểu khu). Hội nghị thảo luận về số lượng chi ủy viên, bí thư, phó bí thư chi bộ, trưởng thôn (trưởng tiểu khu) mới và tiến hành giới thiệu bằng phiếu kín.

+ Hội nghị chi bộ (toàn thể đảng viên): Thảo luận về số lượng, cơ cấu, nhân sự chi ủy viên, bí thư, phó bí thư chi bộ, trưởng thôn, (trưởng tiểu khu) và tiến hành giới thiệu bằng phiếu kín.

+ Hội nghị đảng ủy xã, thị trấn: Trên cơ sở phiếu giới thiệu tín nhiệm nhân sự tại các hội nghị của thôn (tiểu khu), đồng thời căn cứ tình hình thực tế và tiêu chuẩn, điều kiện cụ thể của cán bộ các thôn (tiểu khu), đảng ủy xem xét quyết định số lượng ban chi ủy, lựa chọn, quyết định chỉ định nhân s chi ủy viên, bí thư, phó bí thư chi b (trường hợp nhất thể bí thư chi b là trưởng thôn, (tiểu khu), thì đảng ủy giới thiệu để nhân dân bầu trưởng thôn, (trưởng tiểu khu) theo quy định).

- Đối với những trường hợp 01 thôn (tiểu khu) được chia tách để sáp nhập với nhiều thôn (tiểu khu) khác: Đảng ủy quyết định giải tán chi bộ cũ, đồng thời thực hiện chuyển sinh hoạt đảng cho đảng viên về sinh hoạt với các chi bộ của thôn (tiểu khu) được sáp nhập. Các chi bộ được ghép thêm, nếu xét thấy cần thiết tăng số lượng chi ủy viên thì đảng ủy xem xét quyết định, nhưng phải đảm bảo số lượng theo quy định của Điều lệ Đảng.

- Về thủ tục thực hiện chuyển giao, sáp nhập; công tác lưu trữ hồ sơ và tổ chức lễ công bố quyết định: Đảng ủy xã, thị trấn cần hướng dẫn cụ thể, thực hiện nghiêm túc, đảm bảo quy định.

Trong quá trình triển khai, thực hiện nếu có phát sinh, vướng mắc các đơn vị báo cáo về Ban Tổ chức Huyện ủy để trao đổi, giải quyết.

Ban Biên tập

Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây khoai tây vụ đông

Cây khoai tây là loại cây thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, thời gian sinh trưởng ngắn, trồng ở vụ đông từ 80-90 ngày, trồng ở vụ đông muộn (vụ xuân sớm) từ 85 - 95 ngày. Trồng khoai tây trên đất 2 vụ lúa, không căng thẳng thời vụ, giảm chi phí nhân công lao động, năng suất đạt cao từ 25 - 30 tấn củ/ha. Trạm khuyến nông giới thiệu đến bà con nông dân kỹ thuật trồng, chăm sóc cây khoai tây thương phẩm như sau:

1. Đất trồng. Khoai tây trồng được trên nhiều loại đất khác nhau, thích hợp là đất giàu dinh dưỡng, đất có thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình. Tùy theo chân ruộng, độ phì của đất. Bà con áp dụng cách trồng khoai tây bằng phương pháp làm đất tối thiểu hoặc trồng theo phương pháp truyền thống. Nhưng trồng theo phương pháp nào ruộng trồng khoai tây phải thuận lợi về tưới và tiêu nước.

2. Thời vụ

- Vụ đông: Trồng từ 30/10 đến 15/11. Khoai tây có thể trồng sớm từ ngày 20/10/2018, tùy vào từng địa phương và chân đất để cơ cấu phù hợp.

- Vụ đông muộn: Trồng 20/11 đến 05/ 12/2018 thu hoạch trung tuần tháng 2 năm sau.

3. Giống, làm đất, mật độ trồng cây khoai tây:

- Giống: Có thể dùng loại giống của Diamant, ĐaiMần (Hà Lan), Solara, Marabel (Đức), Eden (úc), Atlantic (Mỹ), giống Đà Lạt... và một số giống địa phương.

Xử lý giống: Giống mua về đã được xử lý thuốc kích thích nảy mầm, có thể trồng luôn hoặc ủ thúc mầm sau đó đem trồng. Bà con nên ủ khoai khi thấy mầm lên đều mới đem trồng, ủ thúc mầm tiết kiệm được giống, mầm khỏe, ruộng khoai đều, phát triển nhanh.

Cách ủ thúc mầm: Rải đều khoai ra đất hoặc cát ẩm, nơi râm mát, thoáng, phủ trên mặt một lớp rơm rạ ẩm, mỏng. Sau 5-7 ngày khoai mọc mầm đem ra trồng, trong quá trình ủ thúc mầm phải đảo củ để khoai ra nhiều mầm, đều mầm, theo dõi nhiệt độ ủ, nhiệt độ cao, nóng, lấy bớt rơm phủ mặt hạ nhiệt, nhặt bỏ những củ thối tránh lây sang củ khác..

Mỗi củ giống, miếng giống đem trồng cần từ 2-3 mầm do đó đối với củ to nhiều mầm cần cắt củ phân mầm để tiết kiệm giống. Cách phân mầm: Mỗi củ chỉ cắt 2 đến 3 miếng, cắt dọc củ, mỗi lần cắt nhúng dao vào nước xà phòng đậm đặc để tránh lây lan bệnh. Sau khi cắt phân mầm xong, chấm mắt cắt vào bột xi-măng khô với lượng vừa phải, không để bột xi măng bám nhiều sẽ hút nước làm khô, héo, củ giống, đồng thời bà con nên chọn tách mằm tốt sấu để mang trồng hoặc ủ thêm.

Lưu ý: Bà con đưa mầm khoai giống ra ruộng trồng phải sau cắt 1/2 ngày.Trường hợp cắt củ phân mầm mà phải ủ thúc mầm thêm bà con có thể để kéo dài 5 - 7 ngày.

- Làm đất: Có thể trồng khoai tây theo phương pháp truyền thống hoặc trồng theo phương pháp làm đất tối thiểu.

+ Trồng theo phương pháp truyền thống. Đất phải được cày bừa kỹ, sạch cỏ dại, nhỏ tơi xốp. Lên luống rộng từ 1-1,2m, rảnh rộng 30cm, trồng 2 hàng khoai trên luống, hạn chế làm luống trồng 1 hàng khoai.

+ Trồng khoai tây bằng phương pháp làm đất tối thiểu. Ruộng được dọn sạch cỏ, tạo rãnh thoát nước xung quanh và rãnh luống (luống rộng từ 1-1,2m), chuẩn bị rơm rạ, mùn, trấu, đất bột để phủ mầm khi trồng mầm khoai và phủ toàn bộ mặt luống sau khi trồng xong.

- Mật độ và khoảng cách trồng: Cần 55 - 60kg /1sào 500 m2 . Để khoai to củ, củ đều, năng suất cao, trồng 7- 8 củ mầm/m2, đặt củ mầm cách nhau 25 - 30 cm, hàng cách 45– 55cm. Khi trồng phải điều chỉnh, củ trồng theo luống riêng, miếng mầm theo luống riêng.

+ Tạo rãnh sâu 3 - 5cm hoặc cuốc hố sâu 3 - 5cm để trồng khoai, khi trồng đặt nghiêng củ (miếng) giống (không đặt ngửa hoặc úp mầm xuống để tạo điều kiện tốt nhất cho cây mọc nhanh), trồng đến đâu lấp đất đến đó.

+ Đối với trồng khoai tây bằng phương pháp làm đất tối thiểu. Đặt mầm đến đâu phủ mầm đến đó, phủ bằng trấu, mùn hoặc đất bột, sau trồng phủ rơm toàn bộ mặt luống và tưới nước đủ ẩm để cây mọc nhanh, đều.

4. Phân bón, chăm sóc và tưới nước.

- Lượng phân bón cho 1 sào 500 m2: Phân chuồng hoai mục từ 5 -6 tạ, 25 -30kg lân, 10 -12kg đạm, 8 -10 kg kali, 20 -30kg vôi bột.

- Bón lót: toàn bộ phân chuồng, vôi và lân + 20% lượng phân đạm và kali, bón rải đều trên luống, đảo phân vào đất trước khi tạo rảnh hoặc cuốc hố trồng khoai.

- Chăm sóc đợt 1: Khi cây cao 10 - 15cm, xới đất nhẹ, pha váng (trồng làm đất truyền thống), nhổ sạch cỏ dại. Bón phân thúc đợt 1, bón 50% lượng phân đạm kali rồi vun cao luống.

- Chăm sóc đợt 2: Sau chăm sóc đợt 1 khoảng 15 - 20 ngày, tiến hành xới nhẹ, làm cỏ. Bón phân thúc đợt 2, bón hết phân còn lại, vun luống lần cuối, vun cao luống, vét sạch đất ở rãnh.

- Tưới nước: Luôn luôn giữ ẩm để khoai tây phát triển.

Lưu ý: Bón phân vào giữa luống. Không bón hoặc tưới nước phân trực tiếp vào củ giống và gốc cây khoai làm thối củ, thân khoai tây. Đối với trồng bằng phương pháp làm đất tối thiểu phải chú ý không để hở gốc khoai, nhất là giai đoạn khoai có củ, do vậy phải thường xuyên kiểm tra phủ gốc.

5. Sâu bệnh hại.

Khoai tây thuờng mắc các loại bệnh: Héo xanh vi khuẩn, mốc sương, bệnh giả suơng mai và các loại sâu ăn lá, rệp, nhện. Cần kiểm tra đồng ruộng, phát hiện sớm các loại sâu bệnh để phònh trừ kịp thời hiệu quả.

6. Thu hoạch và bảo quản.

- Khi 2/3 thân lá cây khoai tây chuyển sang màu vàng, lựa ngày khô ráo thu hoạch.

- Lựa chọn và phân loại củ để bảo quản, tránh làm xây sát củ khoai, để khoai nơi râm, thoáng mát.

Lê Sơn - Cán bộ Trạm Khuyến nông Thiệu Hóa

TIN TỨC - SỰ KIỆN NỔI BẬT

Tình hình kinh tế - xã hội, quốc phòng – an ninh, công tác xây dựng đảng và hệ thống chính trị tháng 08 năm 2018

1. Tình hình kinh tế - xã hội.

Chỉ đạo các xã, thị trấn tập trung chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh cây trồng vụ thu - mùa, trọng tâm là sâu cuốn lá nhỏ lứa, rầy nâu hại lúa, bạc lá. Triển khai phương án sản xuất vụ Đông năm 2018 - 2019. Chỉ đạo khắc phục thiệt hai do ảnh hưởng của hoàn cơn bão số 4. Tổ chức diễn tập, báo động phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn năm 2018. Tiếp tục chỉ đạo các xã, thị trấn triển khai kế hoạch tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm đợt 2 năm 2018.

Chỉ đạo các xã huy động mọi nguồn lực, đẩy nhanh tiến độ đầu tư, hoàn thiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới đã đăng ký năm 2018. Phân công Thường trực, Ủy viên Ban Thường vụ phụ trách xã, tập trung chỉ đạo 6 xã đăng ký đạt chuẩn nông thôn mới năm 2018; thống nhất cơ chế chính sách hỗ trợ bù 30% tiền đấu giá cấp quyền sử dụng đất trong 2 năm đối với xã đạt chuẩn nông thôn mới trong năm 2018, nhưng không có trong Quyết định các xã đăng ký đạt chuẩn nông thôn mới của UBND tỉnh.

Tiếp tục đôn đốc, kiểm tra các nhà thầu thi công các dự án đang triển khai; nhắc nhở khẩn trương khởi công các dự án đã được phê duyệt. Trong tháng đã thành lập thêm 5 doanh nghiệp, đưa số doanh nghiệp thành lập mới là 40 doanh nghiệp, đạt 57,1%. Thu ngân sách tháng 8 năm 2018 ước đạt 9 tỷ 250 triệu đồng, 8 tháng ước đạt 97 tỷ 673 triệu đồng, đạt 54% dự toán huyện giao, 62% dự toán tỉnh giao, thấp hơn 0,7% CK, Chi ngân sách 8 tháng ước đạt 301 tỷ 452 triệu đồng, tỷ lệ 54% dự toán giao cả năm.

Công tác quản lý tài nguyên, môi trường được các cấp ủy đảng, chính quyền quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sát sao. Tiếp tục duy trì tổ liên ngành quản lý tài nguyên cát, phân công lãnh đạo huyện trực tiếp theo dõi, chỉ đạo công tác quản lý cát trên địa bàn huyện.

Chỉ đạo tổng kết năm học 2017- 2018, triển khai nhiệm vụ năm học 2018 - 2019. Tiếp tục rà soát, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, giáo viên ở các cấp học. Tổ chức thi tuyển nhân viên hành chính kiêm kế toán làm việc tại các trường mầm non. Chỉ đạo các xã, thị trấn, các nhà trường chuẩn bị cơ sở vật chất phục vụ năm học mới.

Chỉ đạo làm tốt công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân. Chỉ đạo xây dựng các mô hình liên kết sản xuất, chăn nuôi theo chuỗi đảm bảo vệ sinh ATTP. Hướng dẫn các xã đăng ký đạt chuẩn nông thôn mới năm 2018 hoàn thiện các tiêu chí đề nghị công nhận xã đạt xã ATTP.

Chỉ đạo các cơ quan tuyên truyền kỷ niệm 73 năm cách mạng tháng Tám và quốc khánh 2/9.

Tổ chức triển khai kế hoạch rà soát hộ nghèo năm 2018, phấn đấu hoàn thành trong tháng 9 năm 2018; tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg ngày 26/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ở; Quyết định số 2066/QĐ-UBND ngày 04/6/2018 của Chủ tịch UBND tỉnh về việc giao kế hoạch chi tiết vốn hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ở từ nguồn ngân sách Trung ương năm 2018 cho các xã, thị trấn.

2. Tình hình công tác quốc phòng - an ninh:

Duy trì nghiêm các chế độ trực chỉ huy, trực ban, trực phòng không, tuần tra, canh gác đơn vị bảo đảm an toàn. Thường xuyên theo dõi nắm chắc tình hình địa bàn không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Tổ chức huấn luyện cho các đối tượng tự vệ cơ quan theo đúng kế hoạch; kiểm tra bắn đạn thật cho các lực lượng, đảm bảo an toàn tuyệt đối. Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho đối tượng 4. Lực lượng Công an từ huyện đến cơ sở tổ chức thực hiện nghiêm túc các nhiệm vụ, giữ vững an ninh chính trị, đảm bảo trật tự an toàn xã hội.

Tiếp tục chỉ đạo UBKT Huyện ủy, UBND huyện, cấp ủy, chính quyền các xã, thị trấn giải quyết đơn thư của công dân theo quy định. Chỉ đạo giải quyết đơn của các hộ dân xã Thiệu Công về việc xã thu tiền cấp giấy chức nhận QSDĐ không đúng quy định.

3. Công tác xây dựng Đảng; hoạt động của chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân

Chỉ đạo các tổ chức cơ sở đảng tiếp tục tổ chức học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 và triển khai viết thu hoạch nghiêm túc. Ban Thường vụ Huyện ủy ban hành Quyết định luân chuyển đồng chí Phó trưởng phòng NN&PTNT huyện giữ chức Phó Bí thư Đảng ủy xã và giới thiệu để HĐND xã bầu giữ chức Chủ tịch UBND xã Thiệu Phúc, Quyết định nghỉ hưu trước tuổi theo Nghị định 108 của Chính phủ đối với đồng chí Giám đốc trung tâm BDCT huyện, Quyết định phân công đồng chí Trưởng Ban Tuyên giáo Huyện ủy kiêm Giám đốc Trung tâm BDCT huyện; Thường trực Huyện ủy cho ý kiến làm quy trình bổ sung cấp ủy viên ở các đảng bộ, chi bộ cơ sở; làm quy trình bổ nhiệm lại hiệu trưởng, hiệu phó các nhà trường mầm non, tiểu học, THCS theo quy định; tổ chức thi tuyển chọn hiệu trưởng, hiệu phó các nhà trường còn thiếu. Ban hành Quyết định về Quy định công tác luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện, cấp xã. Ban Thường vụ Huyện ủy chỉ đạo các cấp ủy đảng, chính quyền các cấp tập trung chỉ đạo làm tốt công tác kiểm tra, giám sát theo quy định.

Thường trực HĐND, các ban của HĐND tổ chức các cuộc giám sát theo chuyên đề và những lĩnh vực mà đại biểu và cử tri quan tâm, nâng cao chất lượng các cuộc giám sát; đại biểu HĐND huyện thực đúng quy chế hoạt động, triển khai thực hiện nghiêm lịch tiếp dân.

UBND các cấp đã quyết liệt trong chỉ đạo điều hành, nhất là trong lĩnh vực quản lý tài nguyên khoáng sản, khai thác cát trái phép, xe quá tải; đôn đốc các công trình dự án chậm tiến độ, tích cực đôn đốc thực hiện sau thanh tra; chỉ đạo Công an huyện điều tra sai phạm về đất đai dẫn đến khiếu kiện đông người tại xã Thiệu Công.

Hệ thống dân vận các cấp làm tốt công tác vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể cấp huyện, vận động hội viên, đoàn viên tích cực chăm sóc cây trồng vụ thu - mùa, chuyển đổi ruộng đất, xây dựng nông thôn mới; tích cực tham mưu giải quyết tình hình cơ sở.

Nguyễn Quang Thọ

Tưng bừng Lễ khai giảng năm học mới (2018 - 2019)

tại các trường học trên địa bàn huyện Thiệu Hoá

Hòa chung không khí cả nước, sáng ngày 5/9 các trường học trên địa bàn huyện đã long trọng tổ chức lễ khai giảng năm học mới 2018 – 2019. Dự lễ khai giảng tại các trường có các đồng chí lãnh đạo huyện, lãnh đạo các xã, các ngành, đơn vị, cơ quan, đông đảo các bậc phụ huynh và hơn 10.000 học sinh toàn huyện ở 4 cấp học.

Hoạt động tổ chức lễ khai giảng năm học mới đã được tổ chức long trọng với 2 phần: Phần lễ và phần hội. Năm nay, cơ bản phần lễ đều được các trường tổ chức trang nghiêm, ngắn gọn; phần hội được tổ chức phù hợp tạo không khí vui vẻ, phấn khởi cho ngày đầu tiên của năm học mới.

Tại các trường học, các đồng chí lãnh đạo huyện, xã, đều bày tỏ mong muốn các trường học thực hiện tốt các mục tiêu, nhiệm vụ của năm học mới. Xây dựng tập thể đoàn kết, vững mạnh, tạo môi trường giáo dục thân thiện, chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức và văn hóa truyền thống. Thực hiện tốt việc đổi mới giáo dục, tạo điều kiện tốt nhất cho các em học sinh, đặc biệt là những em có hoàn cảnh khó khăn yên tâm học tập. Tập trung nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên, khuyến khích đổi mới các phương pháp giáo dục, nhất là ứng dụng CNTT vào dạy học.

Dịp này, các đồng chí lãnh đạo huyện đã thừa uỷ quyền của Chủ tịch nước, tỉnh trao huân chương lao động và cờ thi đua cho các trường học đạt thành tích xuất sắc trong năm học. Các đồng chí lãnh đạo các xã đã trao nhiều phần quà, học bổng cho các em học sinh có hoàn cảnh khó khăn tại các trường.

Trường THCS Thiệu Đô khai giảng năm học 2018 - 2019 và đón nhận Huân chương Lao động hạng Ba

Sáng ngày 5/9, Trường THCS Thiệu Đô long trọng tổ chức lễ khai giảng năm học mới 2018 - 2019 và đón nhận Huân chương Lao động hạng Ba của Chủ tịch nước. Về dự có các đồng chí: Trịnh Văn Súy - PBT HU, CT UBND huyện, Nguyễn Thị Tâm – Phó Ban Thi đua Khen thưởng tỉnh, Lê Hồng Quang – UVBTV, Trưởng Công an huyện, đại diện một số phòng ban, ngành cấp huyện; đại diện lãnh đạo Đảng ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ cùng ban, ngành đoàn thể xã Thiệu Đô và toàn thể giáo viên, nhân viên và học sinh nhà trường.

Trong những năm học vừa qua, trường THCS Thiệu Đô luôn được sự chăm lo tích cực bằng những chính sách thiết thực cụ thể của các cấp các ngành, các tổ chức chính trị xã hội và nhân dân địa phương. Cơ sở vật chất phục vụ cho dạy và học ngày càng được tăng cường, đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng học sinh. 5 năm qua tỷ lệ học sinh được xếp loại hạnh kiểm tốt đạt từ 76.5% đến 91.9%, tỷ lệ học sinh được xếp loại học lực giỏi đạt từ 16.6% đến 19.0%, loại khá đạt từ 39.7% đến 50.9%. Học sinh tốt nghiệp THCS: Đạt từ 97,9% đến 98.9%, tỷ lệ học sinh trúng tuyển vào lớp 10 THPT hằng năm đạt từ 91,8% đến 100%, trong đó hàng năm nhà trường có từ 2-4 em thi đỗ THPT chuyên Lam Sơn. Công tác phổ cập giáo dục THCS hằng năm luôn đạt trên 90%; Chất lượng học sinh giỏi trong 5 năm học vừa qua xếp từ thứ nhất đến thứ ba toàn huyện, với 255 em đạt giải cấp huyện, 40 em đạt giải cấp tỉnh, 2 em đạt giải quốc gia. Năm học 2013 – 2014, 2016 – 2017, 2017- 2018 nhà trường đứng thứ nhất toàn huyện trong các kỳ thi học sinh giỏi. Hiện nay, 100% cán bộ, giáo viên của nhà trường đều có trình độ đạt chuẩn và trên chuẩn. Nhiều giáo viên được công nhận danh hiệu dạy giỏi các cấp, với 33 lượt chiến sĩ thi đua cơ sở, 2 CSTĐ cấp tỉnh, 35 SKKN cấp huyện, 6 SKKN cấp tỉnh. Cơ sở vật chất không ngừng được tu bổ và nâng cấp, đáp ứng được nhu cầu dạy và học trong tình hình mới.

Năm học 2017- 2018, trong cuộc thi vận dụng kiến thức liên môn cấp huyện, tỉnh trường đạt 2 giải nhất, 5 giải nhì, 8 giải ba, 5 giải khuyến khích. Kỳ thi học sinh giỏi các môn văn hóa lớp 9 cấp huyện, tỉnh trường đạt 4 giải nhì, 11 giải ba, 8 giải KK. Kỳ thi giao lưu học sinh giỏi các môn văn hóa lớp 8 cấp huyện đạt 4 giải ba, 12 giải KK. Cuộc thi dạy học theo chủ đề tích hợp: Cấp huyện, tỉnh đạt 4 giải nhì, 6 giải ba, 2 giải KK. Kỳ thi học sinh giỏi TDTT cấp huyện, tỉnh đạt 5 giải nhất, 1 giải ba cá nhân, 1 giải ba bóng đá, 9 giải KK, xếp thứ 2 toàn huyện. Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 nhà trường có 112 tham gia dự thi, đậu 108 em, trong đó có 3 em đậu Trường THPT Lam Sơn và 1 thủ khoa Trường THPT Lê Văn Hưu.

Trong 5 năm học vừa qua nhà trường liên tục đạt Tập thể lao động xuất sắc được Chủ tịch UBND tỉnh tặng cờ thi đua, Bằng khen; Giám đốc Sở GD&ĐT tặng giấy khen và được Thủ tướng chính phủ tặng bằng khen. Đặc biệt năm học 2016 - 2017 đã được Thủ tướng chính phủ tặng Huân chương Lao động hạng Ba. Với sự quan tâm của lãnh đạo và nhân dân xã nhà, trường THCS Thiệu Đô tiếp tục nỗ lực phấn đấu để giữ vững các thành tích đã đạt được trong năm học mới.

Thừa ủy quyền của Chủ tịch nước, đồng chí Trịnh Văn Súy - PBT HU, Chủ tịch UBND huyện đã trao Huân chương Lao động hạng Ba cho Trường THCS Thiệu Đô.

Phát biểu tại buổi lễ, đồng chí PBT HU, CT UBND huyện biểu dương những thành tích trường THCS Thiệu Đô đã đạt được trong 5 năm học qua, đồng thời đồng chí mong muốn các thy, cô giáo và các em học sinh nhà trường tiếp tục giữ vững chất lượng giáo dục toàn diện xứng đáng là trường chuẩn quốc gia và một trong những trườngtốp đầu về chất lượng dạy học khối THCS của huyện nhà. Tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua “Dạy tốt - Học tốt”, nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục đào tạo, xứng đáng với sự quan tâm, tin tưởng của các cấp lãnh đạo và các bậc phụ huynh.

Phùng Thanh Tuyên

Lãnh đạo huyện thăm, tặng quà cán bộ LTCM, TKN nhân kỷ niệm 73 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9

Ngày 28/8/2018, nhân dịp kỷ niệm 73 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, các đồng chí lãnh đạo huyện thăm, tặng quà cán bộ lão thành cách mạng, tiền khởi nghĩa trên địa bàn huyện.

Đồng chí Hoàng Văn Toản - TUV, BT Huyện ủy, CT HĐND huyện đã đến gia đình thăm, tặng quà các bác: Trần Lương Vị - Cán bộ LTCM, Hoàng Đình Bách - Cán bộ TKN xã Thiệu Minh và bác Nguyễn Văn Cận - Cán bộ TKN xã Thiệu Tâm. Đồng chí Bí thư Huyện ủy ân cần thăm hỏi sức khỏe, cuộc sống của các bác và gia đình; đồng thời bày tỏ lòng tri ân, sự trân trọng trước những đóng góp to lớn của những người tham gia kháng chiến từ những ngày đầu tiên, một lòng theo Đảng, theo cách mạng, giành chính quyền về tay nhân dân, đem lại độc lập tự do cho dân tộc.

Thay mặt Huyện ủy, HĐND, UBND huyện, đồng chí Bí thư Huyện ủy tặng quà và chúc các bác tiếp tục sống vui, sống khỏe, trường thọ, mãi là niềm tự hào của con cháu, quê hương; động viên con cháu và thế hệ hôm nay phát huy truyền thống cách mạng, thi đua học tập, lao động, sản xuất, đóng góp sức mình xây dựng huyện ngày càng giàu đẹp, văn minh.

Cùng ngày, huyện đã tổ chức 4 đoàn đi thăm, tặng quà cho 18 người hoạt động cách mạng đang sinh sống tại các xã trên địa bàn huyện, bao gồm: 13 cán bộ tiền khởi nghĩa và 5 lão thành cách mạng, mỗi suất quà trị giá 800.000đ.

Tại các nơi đến thăm hỏi, tặng quà, các đồng chí lãnh đạo huyện chúc sức khỏe, hạnh phúc tới các cá nhân, gia đình và khẳng định: Trung ương và các cấp ủy, chính quyền luôn trân trọng và biết ơn những đóng góp, hy sinh của các gia đình chính sách, những người có công với đất nước; các đồng chí mong muốn các gia đình tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, động viên con cháu tích cực thi đua lao động sản xuất, phát triển kinh tế, xây dựng gia đình ấm no hạnh phúc. Chúc các bác sống vui, sống khoẻ, trường thọ, tiếp tục động viên con cháu phát huy truyền thống cách mạng, là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ học tập, noi theo, tích cực đóng góp xây dựng quê hương, đất nước.

Nhân dịp này, các đồng chí lãnh đạo huyện đề nghị chính quyền địa phương và các đoàn thể cần tiếp tục quan tâm, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần các gia đình chính sách, người có công với đất nước trên địa bàn.

Đỗ Thị Lan

HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

Xây dựng phong cách lãnh đạo của người đứng đầu

theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

về “Phong cách dân chủ, nhưng quyết đoán”

Trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên đều có trách nhiệm tổ chức, lãnh đạo quần chúng, dẫn dắt quần chúng nhân dân đi theo Đảng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Khi Đảng cầm quyền, đảng viên được tín nhiệm và sắp xếp tham gia công tác lãnh đạo, quản lý ở các cơ quan, đơn vị. Vì vậy, phong cách của người lãnh đạo, người đứng đầu có vai trò quan trọng trong việc thực hiện quan điểm, đường lối của Đảng, trong kết quả triển khai thực hiện nhiệm vụ. Xây dựng phong cách lãnh đạo của người đứng đầu theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về “Phong cách dân chủ, nhưng quyết đoán” cần tập trung thực hiện các nội dung sau:

Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ lãnh đạo phải gom góp mọi ý kiến rời rạc, lẻ tẻ của quần chúng, rồi phân tích nó, nghiên cứu nó, sắp đặt nó thành những ý kiến có hệ thống. Rồi đem nó tuyên truyền, giải thích cho quần chúng và làm nó thành ý kiến của quần chúng, làm cho quần chúng giữ vững và thực hành ý kiến đó. Đồng thời nhân lúc quần chúng thực hành, ta xem xét lại, coi ý kiến đó đúng hay không. Rồi lại tập trung ý kiến của quần chúng, phát triển những ưu điểm, sửa chữa những khuyết điểm, tuyên truyền, giải thích, làm cho quần chúng giữ vững và thực hành.

Cứ như thế mãi thì lần sau chắc đúng mực hơn, hoạt bát hơn, đầy đủ hơn lần trước. Đó là cách lãnh đạo cực kỳ tốt”.

Trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cải cách tổ chức, bộ máy nhà nước và nhiều công việc khác, cần phải thực hành cách “liên hợp lãnh đạo với quần chúng” và “liên hợp chính sách chung với chỉ đạo riêng”, tức là vận dụng quan điểm, đường lối chung phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể. Theo Người, như vậy mới thật là biết lãnh đạo, quản lý.

Phong cách lãnh đạo dân chủ thì phải dựa vào quần chúng; là cán bộ lãnh đạo, nhất là người đứng đầu không được quan liêu, hách dịch, coi thường quần chúng nhân dân. Phải biết đời sống thực của Nhân dân như thế nào, khả năng thực của Nhân dân ra sao? Họ đang nghĩ và đang mong muốn những gì? Mỗi lời nói, mỗi việc làm của người cán bộ phải phù hợp với quần chúng, phản ánh đúng được khát vọng của quần chúng. Cán bộ phải biết được những băn khoăn trăn trở của dân để kịp thời uốn nắn và tháo gỡ cùng dân.

Người phê bình cách lãnh đạo của một số cán bộ không dân chủ, dẫn đến tình trạng người có ý kiến không dám nói, người muốn phê bình không dám phê bình, làm cho cấp trên cấp dưới cách biệt nhau, quần chúng với Đảng xa rời nhau, không còn sáng kiến, không còn hăng hái trong khi làm việc. Người chỉ rõ: “Người lãnh đạo muốn biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của mình, muốn biết công tác của mình tốt hay xấu, không gì bằng khuyên cán bộ mình mạnh bạo đề ra ý kiến và phê bình. Như thế chẳng những không phạm gì đến uy tín của người lãnh đạo mà lại tỏ ra dân chủ thật thà trong Đảng.

Nếu cán bộ không nói năng, không đề ý kiến, không phê bình, thậm chí lại tâng bốc mình, thế là một hiện tượng rất xấu. Vì không phải họ không có gì nói, nhưng vì họ không dám nói, họ sợ. Thế là mất hết dân chủ trong Đảng. Thế là nội bộ của Đảng âm u, cán bộ trở nên những cái máy, trong lòng uất ức, không dám nói ra, do uất ức mà hóa ra oán ghét, chán nản”.

Người đòi hỏi phải có phong cách làm việc thực sự dân chủ chứ không phải giả tạo, hình thức để che lấp ý đồ xấu của cá nhân. Bởi vì mọi sự giả tạo đều làm suy yếu, thậm chí phá vỡ tập thể, mọi thói hình thức chủ nghĩa sớm muộn sẽ làm xói mòn, thậm chí triệt tiêu dân chủ.

Cán bộ lãnh đạo, nhất là những người đứng đầu, là người có trọng trách trong một tập thể, vừa phải thực hành dân chủ, lắng nghe ý kiến của tập thể, đồng thời, phải quyết đoán, nhận thức đầy đủ trách nhiệm và dám ra quyết định, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Đây cũng chính là việc thực hiện nghiêm nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”.

Theo Hồ Chí Minh, một người dù tài giỏi đến đâu cũng không thể nắm được hết mọi mặt của một vấn đề, cũng không thể biết hết được mọi việc trong đơn vị cũng như đời sống xã hội. Cho nên, cần phải có cách làm việc tập thể để phát huy được trí tuệ của tập thể, của đông đảo quần chúng nhân dân nhằm hoàn thành sự nghiệp của một tập thể, một đơn vị hay địa phương mà nếu chỉ riêng người cán bộ lãnh đạo, quản lý thì không làm nổi. Tập thể lãnh đạo là dân chủ.

Cá nhân phụ trách là nêu cao trách nhiệm của người lãnh đạo, người quản lý. Có ý thức tập thể cao, tạo ra bầu không khí làm việc dân chủ, tôn trọng và lắng nghe ý kiến tập thể, phát huy trí tuệ tập thể, nhưng không có tính quyết đoán, không dám chịu trách nhiệm cá nhân trước tập thể, thì không thể có những quyết định kịp thời và công việc cũng không thể tiến triển được. Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý các cán bộ lãnh đạo, quản lý rằng: “Những việc bình thường, một người có thể giải quyết đúng, thì người phụ trách cứ cẩn thận giải quyết đi. Những việc quan trọng mới cần tập thể quyết định”.

Theo Hồ Chí Minh, trách nhiệm của người đứng đầu phải được đề cao, đôi khi mang tính quyết định đến hiệu quả công việc. Phong cách làm việc của người cán bộ lãnh đạo, quản lý đúng đắn là phải kết hợp thống nhất giữa cách làm việc dân chủ, tập thể với tính quyết đoán, dám chịu trách nhiệm cá nhân trước tập thể, kịp thời đưa ra những quyết định đúng. Trong những thời điểm quyết định, người lãnh đạo, quản lý phải dám nghĩ, dám làm, dám quyết… điều đó liên quan trực tiếp đến việc tận dụng được thời cơ. Người từng dạy: “Lạc nước hai xe đành bỏ phí, gặp thời một tốt cũng thành công”.

Kết hợp tập thể lãnh đạo với cá nhân phụ trách, thực hiện trách nhiệm của người lãnh đạo, người đứng đầu để khắc phục những hiện tượng coi thường tập thể, hoặc ngược lại, dựa dẫm, ỷ lại vào tập thể, không dám quyết đoán, không nêu cao trách nhiệm cá nhân… làm trì trệ, suy yếu năng lực lãnh đạo, hiệu quả quản lý của người cán bộ lãnh đạo.

Nguyễn Thành Hưng

Gương cán bộ văn phòng Đảng ủy học tập và làm theo lời Bác

Đồng chí Nguyễn Ngọc Thêm - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy kiêm Cán bộ Văn phòng Đảng ủy xã Thiệu Đô, đồng chí luôn nhiệt tình, trách nhiệm với công việc, thực hiện xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao và tích cực trong mọi phong trào của xã.

Nói đến đồng chí Thêm thì ai cũng ghi nhận là một cán bộ luôn hết lòng vì công việc, có lối sống giản dị, hòa đồng với đồng chí, đồng nghiệp, được mọi người quý trọng. Bản thân đồng chí Thêm đã đăng ký việc làm theo Bác trong thực hành tiết kiệm, tích cực học tập nâng cao trình độ.

Để làm tốt công tác tham mưu cho Ban Thường vụ, Ban Chấp hành và Ủy ban kiểm tra Đảng ủy thực hiện công tác kiểm tra giám sát của Đảng hàng năm; đồng chí đã tham mưu tổ chức kiểm tra công tác quản lý đảng viên ở các chi bộ theo quy định của Điều lệ Đảng. Bản thân đồng chí Thêm luôn tự học, tự nghiên cứu các văn bản trong công tác Đảng, công tác kiểm tra của Đảng nhằm nâng cao nghiệp vụ để áp dụng vào công việc, soạn thảo các văn bản đảm bảo nội dung, hình thức, thời gian. Thường xuyên phối hợp với các đoàn thể, chi bộ, cán bộ được phân công nhiệm vụ trong việc hoàn thành đúng tiến độ các nhiệm vụ theo nghị quyết của Đảng ủy; giúp lãnh đạo trong quản lý nghiệp vụ một cách khoa học, là một cán bộ gương mẫu, nói đi đôi với làm, chấp hành nghiêm kỷ luật lao động, được đồng nghiệp và lãnh đạo tin tưởng. Trong nhiệm vụ chuyên môn, nhiệm vụ được phân công cũng như tại các cuộc họp đồng chí đã mạnh dạn tham gia phát biểu ý kiến thể hiện quan điểm, chính kiến của mình, thường xuyên nêu lên những biện pháp tích cực để tổ chức thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và công tác xây dựng Đảng. Trong đánh giá cán bộ, đồng chí nghiêm túc tự phê bình và phê bình để giúp nhau cùng tiến bộ là một trong những cơ sở để đánh giá xếp loại đảng viên vào cuối năm.

Là một cán bộ không chuyên trách với phụ cấp thấp, đời sống còn gặp nhiều khó khăn xong đồng chí Thêm luôn lấy kết quả công việc làm nguồn động viên cho mình. Sự cố gắng của đồng chí trong công tác chuyên môn đã được lãnh đạo xã và các đoàn thể, chi bộ đánh giá cao. Nhiều năm liền được Đảng uỷ, chi bộ đánh giá cán bộ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Thị Hương

THÔNG TIN - TRAO ĐỔI KINH NGHIỆM

Đẩy mnh phong trào thi đua “Dân vn khéo”

trong xây dng nông thôn mi

Trong những năm qua, phong trào thi đua “Dân vận khéo” được triển khai rộng khắp trên địa bàn huyện, đã có gần 240 mô hình “Dân vận khéo” ở tất cả các lĩnh vực tại các xã, thị trấn. Tuy nhiên, việc xây dựng các mô hình “Dân vận khéo” trong xây dựng nông thôn mới chưa thực sự rõ nét, chất lượng còn hạn chế. Vì vậy, để thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIX nhiệm kỳ 2015-2020, phấn đấu đến năm 2020 huyện Thiệu Hóa đạt chuẩn nông thôn mới, Ban Dân vận Huyện ủy đã xây dựng Kế hoạch số 20-KH/BDVHU, ngày 08/8/2018 về triển khai một số mô hình “Dân vận khéo” trong xây dựng nông thôn mới, giai đoạn 2018-2020. Triển khai đồng loạt các mô hình “Dân vận khéo” trên địa bàn toàn huyện, nhằm tiếp tục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy đảng, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể, của cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên về xây dựng nông thôn mới. Thông qua xây dựng các mô hình “Dân vận khéo” để đẩy mạnh công tác tuyên truyền, động viên các tầng lớp nhân dân góp phần vào việc đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện. Ban Dân vận Huyện ủy tập trung triển khai 6 mô hình “Dân vận khéo” sau:

1. Mô hình “Trồng hoa thay thế cỏ dại”: do Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện chủ trì.

2. Mô hình “Môi trường không rác thải tại một số công trình công cộng: dòng sông và ven đê...”: do Huyện Đoàn chủ trì.

3. Mô hình “Xanh, sạch, đẹp khuôn viên cơ quan, đơn vị, trường học”: Do Liên đoàn Lao động huyện chủ trì.

4. Mô hình “Chỉnh trang nhà văn hóa thôn và xây dựng tủ sách pháp luật tại nhà văn hóa thôn, tiểu khu”: do Hội Cựu chiến binh huyện chủ trì.

5. Mô hình “Thu gom, xử lý vỏ, bao bì đựng thuốc bảo vệ thực vật đảm bảo vệ sinh đồng ruộng và cải tạo vườn tạp”: do Hội Nông dân huyện chủ trì.

6. Mô hình “Cùng chung tay xây dựng nông thôn mới”: do MTTQ huyện chủ trì.

Để triển khai thực hiện có hiệu quả các mô hình “Dân vận khéo” trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2018-2020, MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội cấp huyện, đảng ủy các xã, thị trấn, các đảng bộ, chi bộ trực thuộc xây dựng kế hoạch cụ thể để triển khai tới hội viên, đoàn viên và nhân dân.

Ban Dân vận Huyện ủy phối hợp với MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội huyện kiểm tra tiến độ, chất lượng các mô hình ở cơ sở để đánh giá xếp loại thi đua.

Nguyễn Thị Thường -UVBTV, Trưởng Ban Dân vận Huyện ủy

Lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không có lãnh đạo

Thời gian qua, các tổ chức cơ sở đảng trên địa bàn huyện luôn chú trọng đến công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, thường xuyên giáo dục nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên về vai trò, tầm quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát, coi đó là một khâu quan trọng trong toàn bộ hoạt động của tổ chức cơ sở đảng. Công tác kiểm tra, giám sát phải gắn chặt với công tác tư tưởng, công tác tổ chức, phải thực hiện toàn diện, đồng bộ, có hiệu lực, hiệu quả theo phương châm "giám sát phải mở rộng, kiểm tra phải có trọng tâm, trọng điểm" để chủ động phòng ngừa vi phạm. Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng phải kết hợp chặt chẽ giữa xây và chống, lấy xây là chính, khi các vụ việc vi phạm được phát hiện, phải kiên quyết xử lý nghiêm minh để răn đe và giáo dục.

Ngay sau Đại hội Đảng bộ huyện Thiệu Hóa lần thứ XIX, NK 2015 - 2020, cấp ủy, UBKT các cấp đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện nhiệm vụ do Điều lệ Đảng quy định, thực hiện các chủ trương, giải pháp “đổi mới và nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng” mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ đề ra. Cấp ủy, UBKT các cấp đã tiến hành kiểm tra 320 tổ chức đảng cấp dưới, 3685 đảng viên; giám sát 297 tổ chức đảng và 2257 đảng viên; kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với 66 đảng viên và 03 tổ chức đảng; kết luận có 62 đảng viên, 02 tổ chức đảng có vi phạm; thi hành kỷ luật 54 đảng viên và 02 tổ chức đảng; kiểm tra đối với 226 tổ chức đảng cấp dưới thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát; kiểm tra 70 tổ chức đảng cấp dưới trong việc quản lý, thu, chi trích nộp đảng phí theo quy định; đơn thư khiếu nại, tố cáo được tiếp nhận và giải quyết kịp thời. Kết quả kiểm tra, giám sát đã góp phần quan trọng xây dựng Đảng bộ ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Để tiếp tục thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm tra, giám sát của Đảng, thời gian tới cấp ủy, Ủy ban kiểm tra các cấp trên địa bàn huyện cần quán triệt và thực hiện tốt các quan điểm, nhiệm vụ cụ thể sau:

Một là, tiếp tục tuyên truyền nâng cao nhận thức của các cấp ủy, tổ chức đảng về ví trí, vai trò, ý nghĩa, tác dụng của công tác kiểm tra, giám sát. Đặc biệt, cần quán triệt sâu sắc luận điểm mà Đảng ta đã tổng kết từ thực tiễn lãnh đạo: “Lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không có lãnh đạo”, biến nhận thức đó thành hành động cụ thể, tự giác của các cấp ủy và tổ chức đảng, trước hết là người đứng đầu cấp ủy cần coi trọng công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát.

Hai là, bám sát nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng trong tình hình hiện nay, cấp ủy và UBKT các cấp cần tổ chức thực hiện toàn diện các nhiệm vụ kiểm tra, giám sát; đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, phát hiện và ngăn ngừa kịp thời những cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”,…; kiểm tra, giám sát việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) vềtăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ; kiểm tra, giám sát việc thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị khóa XII về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và thực hiện Quy định về những điều đảng viên không được làm.

Ba là, hằng năm, mỗi cấp ủy, tổ chức đảng và Ủy ban kiểm tra các cấp phải xây dựng và tổ chức thực hiện nghiêm túc các chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát. Các chương trình kiểm tra, giám sát cần thiết thực, vừa đảm bảo tính toàn diện, vừa tập trung vào những vấn đề nhạy cảm, dễ phát sinh sai phạm, đặc biệt những vấn đề mà dư luận xã hội bức xúc tại địa phương, cơ quan, đơn vị.

Bốn là, Uỷ ban kiểm tra các cấp phải chủ động kiểm tra dấu hiệu vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên, thực sự coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt của mình. Phải tìm hiểu, nghiên cứu, chọn lọc thông tin qua nhiều kênh (qua tự phê bình và phê bình trong nội bộ, qua đơn thư tố cáo, qua báo chí, qua nhận xét, đánh giá có căn cứ của cán bộ theo dõi...) để chủ động, phát hiện dấu hiệu vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên mà tiến hành kiểm tra, không để dư luận phản ứng kéo dài, gây phức tạp tình hình.

Năm là, các cấp ủy đảng phải thường xuyên quan tâm kiện toàn tổ chức bộ máy và tăng cường cán bộ kiểm tra bảo đảm tương xứng với chức năng, nhiệm vụ được giao, trước mắt là thực hiện tốt công tác quy hoạch và chuẩn bị nhân sự Ủy ban kiểm tra các cấp trong nhiệm kỳ tới, phát huy đầy đủ vai trò của ủy ban kiểm tra trong tham mưu, giúp cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác kiểm tra, giám sát theo quy định của Điều lệ Đảng.

Tạ Quang Du - Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy

Xã Thiệu Chính phấn đấu về đích nông thôn mới năm 2018

Sau hơn 6 năm nỗ lực thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, đến nay xã Thiệu Chính có 17/19 tiêu chí đạt chuẩn nông thôn mới. Trong quá trình xây dựng nông thôn mới, Thiệu Chính đã tập trung theo hướng phát triển bền vững, có trọng tâm, trọng điểm, lấy phát triển sản xuất nông nghiệp làm nòng cốt, tập trung đầu tư xây dựng hạ tầng, từng bước nâng cao mức sống, thu nhập cho người dân.

Trong xây dựng NTM, xã thực hiện dân chủ, công khai họp bàn trước nhân dân, ưu tiên xây dựng các công trình hạ tầng phúc lợi phục vụ phát triển KT-XH của xã, ưu tiên phục vụ sản xuất và dân sinh. Đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền, làm thay đổi nhận thức của người dân về xây dựng nông thôn mới; thực hiện hiệu quả các phong trào thi đua “Chung sức xây dựng nông thôn mới", “Đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, “Nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi”... Các giải pháp trong xây dựng nông thôn mới được xã chú trọng. Xác định mục tiêu xây dựng nông thôn mới là nâng cao đời sống người dân, cấp ủy, chính quyền xã Thiệu Chính đã tập trung chỉ đạo nhân dân phát huy tiềm năng, thế mạnh địa phương, tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mở rộng diện tích trồng cây rau màu các loại.

Từ năm 2011 đến hết năm 2017 Thiệu Chính đã huy động được 220,582 tỷ đồng từ các nguồn vốn để thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới; vận động nhân dân tích cực hiến đất, góp ngày công để từng bước hoàn thiện cơ sở hạ tầng, tạo diện mạo mới cho địa phương. Đến nay, toàn xã có 100% hộ sử dụng điện an toàn; 2/3 trường học đạt chuẩn Quốc gia; 10/10 thôn có nhà văn hóa và khu thể thao đạt chuẩn; thu nhập bình quân đầu người đạt 34,2 triệu đồng/người/năm, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 3,07%.

Đến thời điểm này xã đã hoàn thành 17/19 tiêu chí về xây dựng nông thôn mới, còn 2 tiêu chí đang xây dựng và đề nghị công nhận trong năm 2018: Tiêu chí số 5 về trường học, trường THCS đã đầu tư bổ sung, đang trình cấp có thẩm quyền công nhận lại đã đạt chuẩn quốc gia; Tiêu chí số 17 về môi trường và an toàn thực phẩm, trong đó tiểu mục 17.8 "Tỷ lệ hộ gia đình và cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm tuân thủ các quy định về đảm bảo an toàn thực phẩm của xã đạt 100%, hiện đang đợi quyết định của tỉnh".

Con đường về đích xã đạt chuẩn NTM của Thiệu Chính không còn xa. Tin tưởng rằng, với quyết tâm của cả hệ thống chính trị, sự hỗ trợ tích cực của các cấp, các ngành, Thiệu Chính sẽ phấn đấu “về đích” theo lộ trình đã đề ra trong năm 2018.

Thị Hương

LỊCH SỬ - VĂN HÓA - NGHỆ THUẬT

Nghề đúc đồng cổ truyền làng Chè (Trà Đông), di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia, xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa

Nghề đúc đồng Trà Đông xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa thuộc loại hình di sản nghề thủ công truyền thống, Chủ thể của di sản là một cộng đồng làng nghề Trà Đông. Nghề đúc Trà Đông không rõ chính thức ra đời từ bao giờ? Chưa có một tài liệu nào cho biết chính xác, nhưng theo truyền thuyết nghề đúc mới có từ cuối thời Tiền Lê đầu thời Lý do hai người họ Vũ mang đến cho làng trà Đông nên ở làng còn có câu ca “Đất họ Lê - nghề họ Vũ”, cũng có thuyết cho rằng, nghề đúc đồng ở làng Trà Đông là do ông Thái sư Không Lộ, tự Minh Không truyền nghề (Khổng Minh Không là một nhân vật huyền thoại). Sau khi từ Trung Quốc về, ngài cùng hai đồ đệ chu du khắp nơi tìm đất làm khuôn đúc đồng. Đi mãi, đến Trà Sơn Trang (Trà Đông) ngài mới tìm được đất tốt, đem về vùng Lâm Trúc Sơn (Hà Nội) để đúc bộ tứ khí gồm: Tháp Bảo Thiên, vạc Minh Đỉnh, tượng Quỳnh Lâm, chuông Phả Lại. Sau đó ngài cho 2 đồ đệ về Trà Sơn Trang mở lò truyền nghề đúc cho dân.

Quy trình sản xuất:

- Khâu tạo khuôn mẫu: Nguyên liệu chính là đất sét, trấu lúa xay. Hỗn hợp hữu cơ gồm trấu đốt cho cháy đỏ, loại cháy hết nhưng chưa thành tro bụi được nghiền lẫn với đất sét đã sử dụng thành bột cho ngâm ủ với nước vừa phải có thời gian từ 10 ngày trở lên để tạo độ kết dính. Trấu xay kết hợp với trấu đốt cháy đen sau đó được pha chế với bột chì (glo phíp) tỷ lệ 0,5% . Tạo khuôn mẫu đúc được chia làm 2 bộ phận:

- Khuôn ngoài: được tạo bởi hình dáng hoa văn được thể hiện trên sản phẩm sau khi đúc. Quá trình thể hiện được thực hiện qua các bước tạo hình “xe cốt”, khuôn mẫu được làm 2 mảnh như nhau, sau đó tạo hoa văn của sản phẩm.

- Khuôn trong (cốt trong hay còn gọi là thao): Nguyên liệu để làm khuôn trong cũng như khuôn ngoài, quy trình tạo mẫu khuôn ngoài gồm “dựng cốt”, tre ngáng “cao thao”, dặm thao và xẻ cốt.

- Phơi, sấy và nung làm cho khuôn khô. Khi khuôn ngoài và khuôn trong đã tạo xong mẫu thì tiến hành phơi, sấy và nung làm cho khuôn khô. Sau khi nung đến cung đoạn mài, giọt “làm thịt thao”, trảm thao, đống nén để thử khuôn trong và khuôn ngoài. Trước khi nung khuôn thường được phơi khuôn ngoài trời nắng cho khuôn khô nước, để khi nung khuôn được rắn chắc và giảm chi phí nguyên liệu. Khi nung khuôn chỉ tiến hành mài giọt, tạo khe hở theo độ dày mỏng của sản phẩm để khi lắp ghép khuôn ngoài và khuôn trong có khe hở theo độ dày mỏng. Sau khi “mài giọt” khuôn thì làm “dò khuôn” và trảm thao dò khuôn thì dùng bằng thanh tre nứa vuốt nhẵn, có kích thước theo độ dày mỏng của sản phẩm. Sau đó thét khuôn để kiểm tra độ dày, mỏng rồi tháo khuôn ra lấy tro mên ướt xoa lên toàn bộ thao dùng dẻ bọc “sành” cho phẳng mịn, sấy lại khuôn gọi là “trản khuôn” và sau đó lắp ghép khuôn.

- Đúc đồng: Là khâu kỹ thuật quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm. Dụng cụ đúc đồng gồm: nồi cơi, ống cơi và bể thổi lửa. Khi mọi công việc đã chuẩn bị xong, người thợ tiến hành đốt lò và cho nguyên liệu vào nồi nấu đồng gồm than các loại, đồng và kim loại đã pha chế. Khi nấu cho than và đồng vào ống cơi, dùng quạt gió thổi theo tốc độ phù hợp, theo từng cung đoạn than cháy hồng đến nhiệt độ khoảng 8000C là đồng bắt đầu chảy, nước đồng chảy qua đầu móng nồi trên xuống nồi cơi, còn than nổi lên trên lúc đó bổ sung thêm kim loại khác theo tỷ lệ, than đốt đến khi đồng chảy hết thấy nồi đồng và ống cơi chỉ còn khói trắng là được. Nâng “ống cơi” gạt lọc hết tạp chất nổi ở trên nồi đồng rồi dùng tro bếp dây mịn đắp phủ lên để giữ nhiệt, sau đó đổ đồng vào khuôn, khi rót đồng vào khuôn yêu cầu phải có kỹ thuật và kinh nghiệm. Khi đổ đồng vào khuôn, đồng chảy phải có ngọn chảy đều và đổ liên tục cho đến khi đầy. Khi vừa đổ đồng xong phải khẩn trương tháo sạch sẽ để đồng co giãn thoát khí nhanh để không bị dính khuôn và rạn nứt sản phẩm. Các cung đoạn trên hoàn tất để trong thời gian vừa phải (phụ thuộc vào từng loại sản phẩm dày hay mỏng, to hay nhỏ). Nhưng thông thường trống F 120mm đến 300mm khoảng 20 phút. F 300mm đến 450mm khoảng 30 phút là được rồi tháo khuôn ra để lấy sản phẩm. Sau khi lấy sản phẩm ra, làm nguội nhẵn đánh bóng sản phẩm là xuất xưởng.

Hiện nay, nghề đúc đồng phát triển khắp làng. Mỗi gia đình là một cơ sở sản xuất, chủ gia đình cũng là chủ lò đúc. Ngoài công việc chính là đúc ra sản phẩm, các khâu khác quan trọng như tìm kiếm nguyên vật liệu, tiêu thụ sản phẩm đều do các gia đình đảm nhận. Theo số liệu điều tra tại làng nghề hiện tại có 15 hộ theo nghề đúc, trong đó có 4 hộ chuyên đúc đồng, 11 hộ còn lại chuyên về nhôm, gang… Các sản phẩm như: chuông đồng, tượng đồng và chiêng đồng vẫn đảm bảo chất lượng và yếu tố thẩm mỹ như xưa vậy. Với những việc làm như vậy đã thực sự góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Do đó, ngày 04/9/2018 Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Ngọc Thiện đã ký ban hành quyết định số 3325/QĐ - BVHTTDL về việc công bố danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Trong đó, nghề đúc đồng cổ truyền làng Chè (Trà Đông), xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa (Thanh Hóa) được đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Trần Ngọc Tùng

Ý Đảng lòng dân

Mương máng dọc ngang thẳng tắp đồng

Xa gần, cao thấp nước lưu thông

Dồn điền, đổi thửa màu sai quả

Giống mới gieo trồng lúa trĩu bông

Ý Đảng dẫn đường thề xốc tới

Lòng dân đổi mới ắt thành công

Muôn đời ghi nhớ công ơn Đảng

Cuộc sống rạng ngời thỏa ước mong.

Nguyễn Thị Thúy (St)

Nguồn tuyển tập thơ "Tình Quê" - NXB Thanh Hóa năm 2013

0 bình luận
(Bấm vào đây để nhận mã)

CÔNG KHAI TIẾN ĐỘ GIẢI QUYẾT TTHC

CHI TIẾT