Ý kiến thăm dò

Bạn đánh giá thế nào về cổng thông tin điện tử huyện Thiệu Hóa

Truy cập

Hôm nay:
1
Hôm qua:
0
Tuần này:
3487
Tháng này:
43579
Tất cả:
2884365

BẢN TIN THÁNG 11.2018

Đăng lúc: 05/12/2018 (GMT+7)
100%

HƯỚNG DẪN - CHỈ ĐẠO

Quy đnh mi v tuyn chn và gi công dân nhp ngũ

Ngày 04/10/2018, Bộ Quốc phòng ban hành Thông tư số 148/2018/TT-BQP quy định tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ (thay thế Thông tư số140/2015/TT-BQPngày 16/12/2015 của Bộ Quốc phòng quy định tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ).

Thông tư này quy định tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ (gọi chung là tuyển quân). Thông tư này áp dụng với ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân có liên quan trong công tác tổ chức, thực hiện tuyển quân.

1. Nguyên tắc, yêu cầu tuyển quân.

Thực hiện đúng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách,pháp luậtcủa Nhà nước và quy trình, quy định trong công tác tuyển quân. Tuyển đủ số lượng, bảo đảm chất lượng, lấy tiêu chuẩn từ cao xuống thấp, thực hiện dân chủ, công bằng, công khai, an toàn, tiết kiệm. Đề cao trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân nhằm nâng cao chất lượng công tác tuyển quân.

Chú trọng tuyển chọn và gọi nhập ngũ những công dân đã tốt nghiệp đại học, cao đẳng, người dân tộc thiểu số để nâng cao chất lượng xây dựng lực lượng thường trực, lực lượng dự bị động viên, góp phần tạo nguồn xây dựng cơ sở chính trị ở địa phương vững mạnh, củng cố quốc phòng an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

2. Tiêu chuẩn tuyển quân.

Công dân có tuổi đời từ đủ 18 tuổi đến hết 25 tuổi; là công dân nam được đào tạo trình độ cao đẳng, đại học đã được tạm hoãn gọi nhập ngũ trong thời gian một khóa đào tạo của một trình độ đào tạo thì tuyển chọn và gọi nhập ngũ đến hết 27 tuổi.

Không gọi nhập ngũ vào Quân đội những công dân có sức khỏe loại 3 tật khúc xạ về mắt (cận thị 1,5 diop trở lên, viễn thị các mức độ); nghiện ma túy, nhiễm HIV/AIDS.

Về tiêu chuẩn văn hóa, tuyển chọn và gọi nhập ngũ những công dân có trình độ văn hóa lớp 8 trở lên, lấy từ cao xuống thấp. Những địa phương có khó khăn không đảm bảo đủ chỉ tiêu giao quân thì báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định được tuyển chọn số công dân có trình độ văn hóa lớp 7.

Các xã thuộc vùng sâu, vùng xa, vùng điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật; đồng bào dân tộc thiểu số dưới 10.000 người thì được tuyển không quá 25% công dân có trình độ văn hóa cấp tiểu học, còn lại là THCS trở lên.

3. Trường hợp được hoãn nhập ngũ.

Chưa đủ sức khoẻ phục vụ tại ngũ theo kết luận của hội đồng khám sức khoẻ;

Là lao động duy nhất phải trực tiếp nuôi dưỡng thân nhân không còn khả năng lao động hoặc chưa đến tuổi lao động; trong gia đình bị thiệt hại nặng nề về người và tài sản do tai nạn, thiên tai, dịch bệnh, nguy hiểm gây ra được UBND xã, phường, thị trấn xác nhận;

Một con của bệnh binh, người nhiễm chất độc da cam suy giảm khả năng lao động từ 61% đến 80%;

Có anh, chị hoặc em ruột là hạ sĩ quan, binh sĩ đang phục vụ tại ngũ; hạ sĩ quan, chiến sĩ thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân;

Người thuộc diện di dân, giãn dân trong 3 năm đầu đến các xã đặc biệt khó khăn theo dự án phát triển kinh tế, xã hội của Nhà nước do UBND cấp tỉnh trở lên quyết định;

Cán bộ, công chức, viên chức, thanh niên xung phong được điều động đến công tác, làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật;

Đang học tại cơ sở giáo dục phổ thông; đang được đào tạo trình độ đại học hệ chính quy thuộc cơ sở giáo dục đại học, trình độ cao đẳng hệ chính quy thuộc cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong thời gian một khoá đào tạo của một trình độ đào tạo.

4. Trường hợp được miễn nhập ngũ.

Là con của liệt sĩ, con thương binh hạng một; một anh hoặc một em trai của liệt sĩ;

Một con của thương binh hạng hai; một con của bệnh binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; một con của người nhiễm chất độc da cam suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; Người làm công tác cơ yếu không phải là quân nhân, Công an nhân dân;

Cán bộ, công chức, viên chức, thanh niên xung phong được điều động đến công tác, làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn từ 24 tháng trở lên.

Thông tư quy định, danh sách công dân thuộc diện tạm hoãn và miễn gọi nhập ngũ phải được niêm yết công khai tại trụ sở UBND xã, cơ quan, tổ chức trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày chủ tịch UBND cấp huyện ký quyết định tuyển quân.

Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày20/11/2018.

Nguyễn Xuân Toàn - CTV Ban Chỉ huy QS huyện

Hướng dẫn thực hiện hỗ trợ kích cầu kiên cố hóa giao thông và kênh mương nội đồng giai đoạn 2018 - 2021

Ngày 04/10/2018, UBND huyện Thiệu Hóa ban hành Hướng dẫn số 1393/HD-UBND về việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 39/2017/NQ-HĐND, ngày 29/12/2017 của HĐND huyện về việc hỗ trợ kích cầu kiên cố hóa giao thông và kênh mương nội đồng huyện Thiệu Hóa giai đoạn 2018 - 2021. Ban Biên tập Bản tin nội bộ trích giới thiệu nội dung của Hướng dẫn như sau:

I. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng.

1. Phạm vi điều chỉnh. Hướng dẫn thực hiện Nghị quyết số 39/2017/NQ-HĐND của HĐND huyện về việc triển khai thực hiện hỗ trợ kích cầu kiên cố hóa giao thông và kênh mương nội đồng gồm: Các điều kiện đáp ứng trong việc nhận hỗ trợ kinh phí kích cầu; thời gian hỗ trợ; mức hỗ trợ; thành phần hồ sơ đề nghị hỗ trợ.

2. Đối tượng và điều kiện hỗ trợ.

- Đối tượng hỗ trợ: UBND các xã, thị trấn đầu tư xây dựng kiên cố hóa đường giao thông và hệ thống kênh mương nội đồng.

- Điều kiện hỗ trợ: (1). Đường giao thông nội đồng: Chiều dài tuyến đạt từ 300m trở lên; chiều rộng nền đường từ 4,0÷6,0m; chiều rộng mặt đường 3,0÷4,5m; kết cấu mặt đường đổ bê tông mác 200, đá 1x2, dày 15cm trở lên. (2) Đối với kênh mương (kênh tưới) nội đồng: Chiều dài tuyến từ 300m trở lên; kích thước mặt cắt ngang (bxh) phạt đạt từ (0,3x0,35)m trở lên để đảm bảo diện tích tưới từ 10ha trở lên; kết cấu xây gạch hoặc đổ bê tông.

II. Mức hỗ trợ và thời gian hỗ trợ.

1. Mức hỗ trợ: 100 triệu đồng/km (hỗ trợ tiền mua nguyên vật liệu xây dựng công trình).

2. Thời gian hỗ trợ: Đường giao thông, kênh mương xây dựng mới, hoàn thành từ ngày 01/01/2018 đến hết ngày 30/6/2021.

III. Trình tự, thủ tục đề nghị hỗ trợ.

1. UBND xã lập báo cáo đăng ký kế hoạch đầu tư xây dựng kiên cố hóa đường giao thông và kênh mương nội đồng cho năm tiếp theo gửi Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trước ngày 30/10 hàng năm (theo mẫu) để tổng hợp, báo cáo UBND, HĐND huyện.

2. Trên cơ sở kính phí được HĐND huyện giao, UBND huyện phân bổ kinh phí cho UBND các xã từ đầu năm để tổ chức triển khai thực hiện và hoàn thành việc đầu tư xây dựng trong năm giao vốn (Riêng năm 2018, UBND các xã, thị trấn thực hiện đầu tư hoàn thành công trình báo cáo UBND huyện).

Kính phí hỗ trợ cấp ứng trước 70% số kính phí được phân bổ, phần còn lại được cấp sau khi các phòng chuyên môn kiểm tra, xác nhận đã đầu tư hoàn thành công trình.

3. UBND các xã, thị trấn: Có trách nhiệm thực hiện đầu tư hoàn thành công trình trong năm kế hoạch, báo cáo kết quả hoàn thành công trình chậm nhất trước ngày 01/11 hàng năm (riêng năm 2021 trước ngày 05/7/2021) về UBND huyện qua Trung tâm hành chính công huyện.

Thành phần hồ sơ đề nghị hỗ trợ gồm: Tờ trình của UBND xã về báo cáo kết quả và đề nghị kiểm tra thi công hoàn thành công trình (theo mẫu); Hồ sơ thiết kế + dự toán đã được UBND xã phê duyệt; Biên bản nghiệm thu, bàn giao đưa công trình vào sử dụng (theo mẫu).

4. Khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các phòng: Kinh tế và Hạ tầng, Tài chính – Kế hoạch tổ chức kiểm tra, báo cáo UBND huyện phê duyệt kinh phí hỗ trợ cho UBND các xã, chậm nhất không quá 30 ngày kể từ ngày kiểm tra.

IV. Tổ chức thực hiện.

1. Phòng Nông nghiệp & PTNT: Chủ trì phối hợp với Phòng Kinh tế - Hạ tầng, Tài chính – Kế hoạch: Tham mưu, đề xuất giao chỉ tiêu kế hoạch vốn hỗ trợ cho các đơn vị. Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện hỗ trợ đối với các công trình ở các xã bảo đảm đúng các tiêu chí theo quy định và kiểm tra kết quả đầu tư hoàn thành của các xã.

2. Phòng Tài chính - Kế hoạch: Theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra và đôn đốc các xã, thị trấn thực hiện việc quản lý, sử dụng, thanh quyết toán kinh phí hỗ trợ kích cầu kiên cố hóa giao thông và kênh mương nội đồng theo chế độ quản lý tài chính hiện hành.

3. Phòng Kinh tế - Hạ tầng: Thẩm định Báo cáo kinh tế - kỹ thuật công trình.

4. UBND các xã, thị trấn: Sử dụng nguồn kinh phí đúng mục đích (mua nguyên vật liệu để xây dựng các công trình đáp ứng các tiêu chí hỗ trợ của HĐND huyện), tổ chức thực hiện các công trình đảm bảo tiến độ, chất lượng, hiệu quả và thực hiện thanh, quyết toán theo đúng các quy định hiện hành.

Lập kế hoạch đầu tư các công trình đáp ứng tiêu chí hỗ trợ của HĐND huyện dự kiến thực hiện trong năm tiếp theo trên cơ sở khả năng huy động nguồn đối ứng của địa phương.

Thực hiện đầu tư hoàn thành công trình trong năm kế hoạch, báo cáo kết quả hoàn thành công trình chậm nhất trước ngày 01/11 hàng năm về UBND huyện. Trường hợp không thực hiện được việc xây dựng các công trình (vì lý do khách quan), UBND các xã phải báo cáo UBND huyện bằng văn bản trước ngày 30/7 trong năm kế hoạch, khi UBND huyện chấp thuận mới được thực hiện.

Không hoàn thành đúng yêu cầu đề ra thì chủ tịch UBND xã phải chịu trách nhiệm trước chủ tịch UBND huyện và xem xét bị thu hồi phần kinh phí thực hiện sai.

- Tổ chức thực hiện nghiêm quy định tại Quyết định số 80/2005/QĐ-TTg, ngày 18/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ về Quy chế giám sát đầu tư của cộng đồng; Nghị định số 84/2015/NĐ-CP, ngày 30/9/2015 của Chính phủ về giám sát và đánh giá đầu tư; Văn bản số 813-CV/TU, ngày 20/3/2014 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về triển khai thực hiện Quyết định số 217-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị về ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội; tăng cường công tác phối hợp giữa các chủ đầu tư với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp.

4. Đề nghị Ủy ban MTTQ và đoàn thể cấp huyện:

Giám sát thực hiện đầu tư xây dựng kiên cố hóa giao thông và kênh mương nội đồng ở các xã thị trấn theo chính sách hỗ trợ kích cầu tại Nghị quyết số 39/2017/NQ-HĐND, ngày 29/12/2017 của HĐND huyện Thiệu Hóa.

Hướng dẫn và chỉ đạo Ủy ban MTTQ và đoàn thể cấp xã tổ chức giám sát cộng đồng đầu tư xây dựng công trình, tham gia các buổi họp dân, niêm yết theo Phụ lục kèm theo Hướng dẫn.

UBND huyện yêu cầu các phòng chuyên môn có liên quan, Kho bạc Nhà nước Thiệu Hóa, UBND các xã, thị trấn, thủ trưởng các đơn vị có liên quan triển khai thực hiện tốt nội dung trên.

Tăng cường kiểm soát tải trọng phương tiện vận tải đường bộ

Ngày 13/11/2018, Ban An toàn giao thông (ATGT) huyện ban hành Kế hoạch số 889/KH-UBND về tăng cường kiểm soát tải trọng, kích thước thùng hàng và niêm yết tên doanh nghiệp đối với phương tiện vận tải đường bộ trên địa bàn huyện Thiệu Hóa những tháng cuối năm 2018. Ban Biên tập Bản tin nội bộ trích giới thiệu nội dung chính của Kế hoạch như sau:

I. Tuyến, địa bàn, đối tượng trọng điểm.

1. Tuyến, địa bàn trọng điểm: Tuyến tỉnh lộ 515, 515b, 515c, 502, 506b, 516c; các tuyến đường huyện, đường liên xã, tuyến đê trung ương. Địa bàn thị trấn Vạn Hà, xã Thiệu Toán, Thiệu Đô, Thiệu Ngọc, Thiệu Vũ, Thiệu Tiến.

2. Đối tượng và hành vi tập trung đấu tranh.

2.1. Đối tượng: Xe ô tô tải, tải ben vi phạm quy định về vận tải đường bộ.

2.2. Hành vi vi phạm tập trung đấu tranh: Chở hàng quá trọng tải cho phép, chở hàng vượt quá kích thước thành thùng xe (chiều rộng, chiều dài, chiều cao); chở hàng để rơi vãi trên đường; tự ý cơi nới thành thùng (cải tạo kết cấu, hình dáng, kích thước không đúng kích thước của nhà sản xuất).

Không có đăng ký xe; Giấy chứng nhận hoặc tem kiểm định ATKT &BVMT đã hết hạn, không đúng số khung số máy hoặc bị tẩy xóa; xe quá niên hạn sử dụng; không có, không mang giấy phép lái xe hoặc sử dụng giấy phép lái xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp; có giấy phép lái xe nhưng không phù hợp với loại xe đang điều khiển.

Không niêm yết hoặc niêm yết không chính xác, đầy đủ tên, số điện thoại của đơn vị kinh doanh vận tải hàng hóa, khối lượng bản thân xe, khối lượng hàng hóa chuyên chở, khối lượng toàn bộ cho phép tham gia giao thông trên cánh cửa xe ô tô tải.

II. Nội dung, biện pháp tiến hành.

1. Công an huyện: Huy động tối đa lực lượng CSGT-TTCĐ tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát trên các tuyến đường tỉnh, đường huyện, những vị trí có các mỏ, bãi vật liệu (cát, đá …); chỉ đạo huy động lực lượng Công an xã, thị trấn tham gia tuần tra, xử lý vi phạm theo Nghị định 27/2010/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư 47/2011/TT-BCA của Bộ Công an. Xây dựng kế hoạch bố trí lực lượng tuần tra, kiểm soát chốt tại các điểm sử dụng cân xách tay theo phương án số 219/PA-BATGT ngày 15/6/2015 của UBND, Ban ATGT huyện về “Quản lý và sử dụng cân xách tay để kiểm soát tải trọng xe trên địa bàn huyện Thiệu Hóa”.

Làm tốt chức năng tham mưu cho UBND, Ban ATGT huyện về xử lý phương tiện xe ô tô chở hàng quá tải trọng, kích thước thùng hàng và niêm yết tên doanh nghiệp đối với phương tiện vận tải đường bộ; chỉ đạo lực lượng công an xã, thị trấn phối hợp làm tốt chức năng tuyên truyền, ngăn chặn, xử lý kịp thời và nghiêm túc đối với các hành vi vi phạm.

Phối hợp với chính quyền cơ sở tổ chức cho chủ phương tiện vận tải ben ký cam kết chấp hành nghiêm các quy định về kiểm soát tải trọng và kích thước thành thùng hàng (theo mẫu 01) và tổ chức cho chủ các mỏ khai thác, chủ bến, bãi ký cam kết không để phương tiện xuất phát từ mỏ, bến, bãi vi phạm về quá khổ, quá tải tham gia giao thông trên đường bộ (theo mẫu 02).

Thông báo công khai số điện thoại trực ban 24/24h của Công an huyện Thiệu Hóa (ĐT: 0237.3842094) để nhân dân tham gia giám sát, phát hiện, thông tin, tố giác vi phạm về chở quá tải trọng, vi phạm kích thước thùng hàng lưu thông trên các tuyến đường bộ thuộc địa bàn huyện.

Khi xử lý vi phạm chở quá tải, quá niên hạn sử dụng, chủ động rà soát nguồn hàng, công trình xây dựng đang thi công, đề xuất Ban ATGT huyện có thông báo đến Sở Tài nguyên môi trường và các cơ quan hữu quan phối hợp xử lý việc ngừng cấp phép khai thác, thi công xây dựng theo quy định của pháp luật.

2. Phòng Kinh tế và Hạ tầng: Tổ chức lực lượng kiểm tra, giám sát, yêu cầu các đơn vị kinh doanh kho, bãi hàng hóa; mỏ, bãi tập kết cát, đá cam kết và thực hiện xếp hàng hóa lên ô tô theo đúng quy định tại Thông tư số 35/2013/TT-BGTVT, yêu cầu người có trách nhiệm của đơn vị kinh doanh phải ký xác nhận việc xếp hàng hóa vào Giấy vận tải sau khi xếp hàng xong theo quy định tại Thông tư số 63/2014/TT-BGTVT. Yêu cầu các chủ mỏ, VLXD cam kết không bán vật liệu cho xe chở quá tải trọng cho phép, kiểm tra, tổng hợp và giám sát thực hiện cam kết. Nếu các chủ mỏ, bãi, chủ công trình để phương tiện xe tải ben chở quá tải trọng từ kho, bến, bãi, mỏ, công trình đang thi công ra tham gia giao thông, thì tập hợp vi phạm và tham mưu cho Ban ATGT huyện có văn bản thông báo đến Sở Tài nguyên môi trường, các cơ quan hữu quan phối hợp xử lý việc ngừng cấp phép khai thác, thi công xây dựng.

Tập trung tiến hành rà soát, thống kê biển báo trên các tuyến đường, tuyến đê huyện quản lý, bổ sung đầy đủ các biển báo hạn chế tải trọng theo quy định; khảo sát, sửa chữa kịp thời các tuyến đường được phân cấp để đảm bảo TTATGT.

Hướng dẫn các địa phương tổ chức quản lý các tuyến đường giao thông nông thôn, đường đê kết hợp giao thông, đường vào các mỏ khai thác đá, cát theo tải trọng của xe ô tô.

3. Phòng NN và PT nông thôn: Có trách nhiệm chỉ đạo lực lượng chuyên trách quản lý đê phối hợp với UBND các xã, thị trấn có đê và các ngành chức năng liên quan phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời tình trạng phương tiện chở quá tải trọng cho phép đi trên đê và các hành vi vi phạm pháp luật về đê điều.

4. Phòng Tài nguyên và Môi trường: Có trách nhiệm yêu cầu các doanh nghiệp khai thác cát, đá trên địa bàn huyện phải thực hiện đúng cam kết đã ký không xếp hàng quá tải trọng trên phương tiện; yêu cầu không tiếp nhận phương tiện vận chuyển hết niên hạn sử dụng, quá thời hạn kiểm định. Tham mưu cho Chủ tịch UBND huyện, các ngành chức năng tỉnh đình chỉ có thời hạn hoặc thu hồi giấy phép khai thác đối với những đơn vị vi phạm xếp hàng lên phương tiện quá tải trọng cho phép.

5. Ủy ban nhân dân xã, thị trấn: Tổ chức tuyên truyền đến các chủ phương tiện, chủ đại lý vật liệu, chủ mỏ, đá, đất, cát, chấp hành tốt quy định về tải trọng của phương tiện vận chuyển khi lưu thông trên các tuyến đường, không đưa các phương tiện ô tô hết niên hạn sử dụng, hết hạn kiểm định tham gia hoạt động giao thông. Thường xuyên thông báo trên hệ thống loa truyền thanh của xã, thị trấn đối với các chủ phương tiện, chủ đại lý có hành vi vi phạm; đồng thời biểu dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân có ý thức chấp hành tốt.

Đối với Công an xã, thị trấn thực hiện theo Nghị định 27/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định việc huy động lực lượng cảnh sát khác và Công an xã, thị trấn phối hợp với CSGT đường bộ tham gia tuần tra, kiểm soát xử lý về ATGT và Thông tư số 47/2011/TT-BCA ngày 02/7/2011 của Bộ Công an về việc hướng dẫn chi tiết một số điều của Nghị định số 27/2010/NĐ-CP.

Đối với các tuyến đường trên địa bàn huyện tiến hành tuần tra, kể cả tuần tra vũ trang nếu phát hiện các phương tiện dừng đỗ vi phạm tải trọng, hoặc xe ô tô hết niên hạn sử dụng, hết hạn kiểm định yêu cầu lái xe xuất trình giấy tờ và báo cáo về công an huyện để phối hợp xử lý.

III. Tổ chức thực hiện.

Kế hoạch thực hiện từ ngày 10/11/2018 đến 31/12/2018.

Ban Biên tập

TIN TỨC - SỰ KIỆN NỔI BẬT

Tình hình kinh tế - xã hội, quốc phòng – an ninh, công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị tháng 10 năm 2018

1. Tình hình kinh tế - xã hội

Sản xuất nông nghiệp: Tập trung chỉ đạo nhân dân thu hoạch diện tích lúa mùa 2018, triển khai sản xuất vụ đông, toàn huyện gieo trồng vụ đông được: 1.926,7 ha, đạt tỷ lệ 77% KH; trong đó cây ngô 1.150,6 ha; cây đậu tương 108,2 ha; đậu tương rau 12,8 ha; cây khoai lang 118,8 ha; cây ớt 115,5 ha; khoai tây 56,6 ha; cây rau màu các loại 364,2 ha.

Công tác xây dựng nông thôn mới: được quan tâm chỉ đạo, hoàn thiện hồ sơ cho 5 xã Thiệu Chính, Thiệu Minh, Thiệu Tân, Thiệu Vũ, Thiệu Duy đề nghị tỉnh kiểm tra công nhận đạt chuẩn NTM trong năm 2018.

Sản xuất công nghiệp, TTCN và xây dựng: chỉ đạo hoàn thiện điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn, giai đoạn 2017 -2020 trình HĐND huyện quyết nghị. Chỉ đạo đẩy nhanh các dự án như: Đường giao thông từ Thiệu Phú đi Thiệu Quang, đường 515 Ba Chè đi Thiệu Toán, đường vào Bệnh vin Đa khoa huyện, Trụ sở Ủy ban MTTQ và các đoàn thể huyện, Trạm bơm xã Thiệu Giao, cải tạo nâng cấp kênh Đô Cương.

Công tác quản lý Tài nguyên - Môi trường: tiếp tục tăng cường chỉ đạo làm tốt công tác quản lý khai thác, vận chuyển, kinh doanh cát trên địa bàn huyện; chỉ đạo thu hồi và chuyển mục đích sử dụng đất cho các xã đấu giá theo kế hoạch, quan tâm chỉ đạo làm tốt công tác môi trường.

Hoạt động Giáo dục; Văn hoá thông tin - Thể dục Thể thao; Y tế, an sinh xã hội: tổ chức thành công Hội nghị trao đổi kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi; chuẩn bị các điều kiện tuyển chọn và bồi dưỡng học sinh giỏi các môn văn hóa lớp 9 THCS cấp tỉnh; đề nghị tỉnh kiểm tra công nhận thêm 8 trường. Các ngành chức năng, các địa phương tập trung tuyên truyền kỷ niệm và tổ chức tốt các ngày kỷ niệm trọng thể; tổ chức thành công giải bóng đá tranh cúp Huda năm 2018. Tiếp tục nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân; triển khai thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch tại các xã, thị trấn. Tổ chức rà soát hộ nghèo năm 2018, đến nay toàn huyện còn 1.996 hộ, giảm 961 hộ, tỷ lệ hộ nghèo 4,3%, hộ cận nghèo 11,59%. Tiếp tục hướng dẫn hoàn thiện hồ sơ và cấp kinh phí hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà theo Quyết định 22/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

2. Công tác quốc phòng - an ninh

Chỉ đạo các lực lượng vũ trang duy trì nghiêm trực chỉ huy, trực ban, trực SSCĐ. Tổ chức tổng kết công tác tuyển quân năm 2018, triển khai nhiệm vụ tuyển quân năm 2019. Làm tốt công tác chính sách hậu phương quân đội. Công an bám sát cơ sở giải quyết kịp thời các vụ việc xảy ra. Tăng cường phòng ngừa và trấn áp tội phạm, trọng tâm là tội phạm cờ bạc, ma túy, trộm cắp tài sản...Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ổn định; trong tháng xảy ra 04 vụ, việc. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả phương án chống xe quá tải. Tiếp tục phối hợp chỉ đạo các xã, thị trấn giải tỏa hành lang ATGT.

3. Công tác xây dựng Đảng và hệ thông chính trị

Ban Thường vụ Huyện ủy tổ chức Hội nghị cập nhật kiến thức mới theo Quy định 164-QĐ/TW (khóa XI) của Bộ Chính trị về công tác xây dựng Đảng cho cán bộ lãnh đạo quản lý; chỉ đạo tổ chức tọa đàm kỷ niệm 70 năm ngày thành lập ngành Kiểm tra Đảng (16/10/1948 - 16/10/2018); làm quy trình bổ sung cấp ủy viên cơ sở còn thiếu; thành lập Đoàn kiểm tra, kiểm tra theo kế hoạch. UBKT các cấp tăng cường kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng.

Thường trực Huyện ủy cho ý kiến làm quy trình bổ nhiệm lại hiệu trưởng, hiệu phó các nhà trường phổ thông cơ sở theo quy định; chỉ đạo làm quy trình chuẩn bị tổ chức thi tuyển chọn hiệu trưởng các nhà trường còn thiếu. Cho ý kiến nhận xét, đánh giá cán bộ năm 2018 đối với cán bộ song quản; chỉ đạo hoàn thiện hồ sơ đề nghị kết nạp Đảng cho 25 quần chúng ưu tú. Chỉ đạo kiện toàn các cấp ủy chi bộ sáp nhập theo Nghị quyết HĐND và Quyết định UBND tỉnh. Chỉ đạo giải quyết tình hình sau kết luận điều tra tại Thiệu Công và giải quyết đơn thư tại thị trấn Vạn Hà.

HĐND huyện tổ chức thành công kỳ họp thứ 10 khóa XIII. Thường trực HĐND, các ban của HĐND tổ chức cuộc giám sát theo kế hoạch, chất lượng các cuộc giám sát được nâng lên.

UBND các cấp quyết liệt chỉ đạo điều hành, nhất là trong lĩnh vực quản lý tài nguyên khoáng sản, khai thác cát trái phép, xe quá tải; đôn đốc các công trình dự án chậm tiến độ, tích cực đôn đốc thực hiện sau thanh tra; chỉ đạo Công an huyện điều tra sai phạm về đất đai dẫn đến khiếu kiện đông người tại xã Thiệu Công; chỉ đạo giải quyết các sai phạm tại Thiệu Thành.

Hệ thống dân vận các cấp tham mưu cho cấp uỷ kiểm tra nắm tình hình đời sống nhân dân; tổ chức kiểm tra thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. MTTQ huyện phối hợp với các ban, ngành chức năng tổ chức hội nghị vận động cán bộ, công chức, viên chức và toàn thể nhân dân trong huyện ủng hộ đồng bào bị lũ lụt; thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. MTTQ và các đoàn thể cấp huyện, vận động hội viên, đoàn viên tích cực làm cây vụ đông, chuyển đổi ruộng đất, xây dựng nông thôn mới; tham mưu giải quyết tình hình cơ sở.

Nguyễn Quang Thọ

Mặt trận Tổ quốc huyện Thiệu Hóa đẩy mạnh hoạt động hỗ trợ người nghèo trên địa bàn huyện

Hưởng ứng lời kêu gọi của Thủ Tướng Chính phủ “Cả nước chung tay vì người nghèo, không để ai ở lại phía sau”. MTTQ từ huyện đến cơ sở đã có nhiều hoạt động hỗ trợ hộ nghèo trên địa bàn huyện như: Kiện toàn Ban Vận động Quỹ “Vì người nghèo”, xây dựng kế hoạch, hướng dẫn các xã, thị trấn chủ trì, phối hợp với các tổ chức thành viên bằng nhiều hình thức tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân, cán bộ công chức, viên chức, người lao động, lực lượng vũ trang, các cơ quan, doanh nghiệp trên địa bàn, con em thành đạt xa quê tích cực tham gia đóng góp ủng hộ, giúp đỡ người nghèo vươn lên thoát nghèo bền vững; tư vấn cho các hộ nghèo trong trồng trọt, chăn nuôi, sản xuất, kinh doanh; tổ chức các phong trào xóa đói, giảm nghèo. Hội Liên hiệp phụ nữ huyện đã tín chấp với ngân hàng tạo điều kiện cho hàng nghìn lượt hộ gia đình vay gần 400 tỷ đồng để đầu tư sản xuất, kinh doanh; tặng 62 bê vàng cho 62 hộ khó khăn. Hội Nông dân huyện đã tín chấp với ngân hàng số tiền 432 tỷ đồng và phối hợp cung ứng hàng trăm tấn phân bón trả chậm cho các hộ nông dân sản xuất. Liên đoàn lao động huyện với phong trào vận động Quỹ “Mái ấm Công đoàn” hỗ trợ cho đoàn viên Công đoàn khó khăn làm được 21 nhà mái ấm Công đoàn, với tổng số tiềm 285 triệu đồng. Hội Người cao tuổi huyện với phong trào xây dựng “Câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau”, đến nay đã thành lập được 53 Câu lạc bộ ở 28 xã, thị trấn, với 3.210 thành viên tham gia, với tổng số tiền quỹ hơn 4,5 tỷ đồng đã giúp nhau phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo; tỷ lệ hộ nghèo của hội viên Người Cao tuổi lúc thành lập là 30%, đến nay hộ nghèo giảm xuống còn 19 %.

MTTQ các xã, thị trấn bằng nhiều hình thức kêu gọi con em xa quê ủng hộ vốn, vật nuôi, lương thực để các hộ nghèo tổ chức phát triển sản xuất xóa đói, giảm nghèo hiệu quả như: MTTQ xã Thiệu Giao trong 3 năm đã vận động được hơn 2 tỷ đồng, trong đó hơn 10 tấn gạo, 02 con bò; MTTQ xã Thiệu Minh vận động được hơn 300 triệu đồng vào Quỹ vì người nghèo của xã cho hộ nghèo vay không lãi và hỗ trợ các hộ nghèo làm vụ đông mỗi sào 100.000 đồng mua giống, vật tư sản xuất….

Qua 18 năm thực hiện, hàng nghìn hộ nghèo được hỗ trợ vay vốn phát triển sản xuất, trợ giúp khi khó khăn, hoạn nạn.Toàn huyện đã hỗ trợ làm mới được hơn 1000 nhà, hỗ trợ nâng cấp được gần 300 nhà Đại đoàn kết cho hộ nghèo; thường xuyên tổ chức thăm hỏi, các hộ nghèo, hộ khó khăn trong các dịp lễ, tết; hỗ trợ sách, v cho các học sinh nghèo đầu năm học, học sinh nghèo vượt khó, học giỏi; hỗ trợ khám chữa bệnh dài ngày. Từ năm 2001 đến nay MTTQ từ huyện đến cơ sở đã hỗ trợ cho các hoạt động “Vì người nghèo” và việc giảm nghèo trên địa bàn huyện với số tiền trị giá hơn 20 tỷ đồng.

Để thực hiện có hiệu quả việc hỗ trợ các hộ nghèo trong thời gian tới, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức thành viên cần đẩy mạnh công tác phối hợp, tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho nhân dân về ý nghĩa, mục tiêu xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh và giảm nghèo bền vững; trọng tâm là tuyên truyền, vận động nhân dân sáng tạo trong sản xuất, kinh doanh, tăng thu nhập cho gia đình, chi tiêu hợp lý, có kế hoạch, tiết kiệm để dành nguồn tích lũy để tái sản xuất và chỉnh trang nhà cửa; không tham gia các tệ nạn xã hội; đảm bảo vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm; tích cực học tập nâng cao trình độ dân trí, hiểu biết Pháp luật, nắm vững cơ chế, chính sách, khoa học kỹ thuật, phát triển kinh tế, quyết tâm thoát nghèo; xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc.

Lê Ngọc Hưng - UV Ban Thường trực UB MTTQ huyện

Tự hào ngôi trường mang tên tể tướng Nguyễn Quán Nho

Tháng 8 năm 1988 có một ngôi trường THPT được thành lập trên vùng đất nghèo của huyện Thiệu Hóa mang tên Tể tướng Nguyễn Quán Nho - Một Danh thần xứ Thanh thời Lê Trung Hưng. Trong suốt 30 năm xây dựng và trưởng thành các thế hệ cán bộ, giáo viên và học sinh trường THPT Nguyễn Quán Nho đã phấn đấu nỗ lực, dành được nhiều thành tích đáng trân trọng.

Trường THPT Nguyễn Quán Nho trước đây có tên gọi là Trường THPT Thiệu Yên 4 đặt tại xã Thiệu Quang, đáp ng nhu cầu học tập của con em 6 xã đông Bắc của huyện Thiệu Hóa và 3 xã Định Công, Định Thành và Định Hòa của huyện Yên Định. Những ngày đầu mới thành lập, nhà trường gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn, với 30 cán bộ, giáo viên, 12 lớp học, gần 400 học sinh. Đến nay nhà trường đã có 50 cán bộ, giáo viên và 880 học sinh. Cơ sở vật chất từng bước được quan tâm đầu tư. Hiện nhà trường có 23 phòng học kiên cố, 1 phòng máy, 1 phòng học tiếng anh đạt chuẩn. Từ năm 2016 đến nay, bằng nhiều nguồn vốn, nhà trường đã đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị, xây dựng khuôn viên... với tổng trị giá khoảng 2 tỷ đồng, đáp ứng nhu cầu dạy và học của giáo viên và học sinh. Nhà trường đã không ngừng tập trung củng cố, nâng cao chất lượng dạy và học. Đội ngũ giáo viên luôn tâm huyết, trách nhiệm với công việc, hết lòng vì học sinh thân yêu. Hiện nay, 100% giáo viên có trình độ đạt chuẩn và trên chuẩn; trong đó có 4 thạc sĩ, 3 giáo viên đang theo học cao học. Nhiều thầy cô đã đạt được những kết quả cao trong các cuộc thi giáo viên giỏi như: thầy Lê Hữu Thuấn có học sinh đạt giải nhất cấp Quốc gia, cô Lê Thị Phương nhiều năm liền có học sinh đạt giải cấp tỉnh, được Bộ GD&ĐT, CT UBND tỉnh tặng bằng khen, thầy Lê Minh Quang được Chính phủ tặng Bằng khen.

30 năm qua, với sự nỗ lực của thầy cô giáo và quyết tâm của các em học sinh, đến nay trường đã có hàng ngàn học sinh tốt nghiệp ra trường, đang công tác trên khắp mọi miền của Tổ quốc và nước ngoài. Nhiều người đã trở thành cán bộ quản lý các cấp, nhà nghiên cứu khoa học, doanh nhân thành đạt. Tiếp nối truyền thống, những năm gần đây, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT luôn đạt trên 99%. Hằng năm, nhà trường đều có từ 20 đến 70 học sinh đạt giải học sinh giỏi các môn văn hoá cấp tỉnh, xếp loại khá trong hơn 100 trường THPT trong tỉnh. Đặc biệt, năm 1994 có em Nguyễn Thị Phương đạt giải nhất cấp tỉnh và giải 3 Quốc gia môn sinh học lớp 11, năm 1995 đạt giải nhất quốc gia môn Sinh học lớp 12. Hằng năm, trường có hơn 60% học sinh lớp 12 đậu vào các trường ĐH, CĐ.

Với những nỗ lực và thành quả đạt được, nhiều năm liền, trường THPT Nguyễn Quán Nho và nhiều cá nhân được Bộ trưởng Bộ GD&ĐT, Sở GĐ- ĐT khen thưởng.

Phát huy truyền thống 30 năm qua. Trường THPT Nguyễn Quán Nho tiếp tục quán triệt sâu sắc và thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 29 về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT; thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, khắc phục mọi khó khăn, nỗ lực phấn đấu dạy tốt- học tốt để đạt thành tích cao hơn nữa, đóng góp vào sự nghiệp giáo dục và đào tạo chung, sớm đạt trường chuẩn quốc gia.

Trần Thanh Mai

Huyện Thiệu Hóa hoàn thành việc xây dựng xã đạt bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn đến năm 2020

Thực hiện Quyết định số 4667/2014/QĐ-BYT ngày 07/11/2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành “Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn đến năm 2020”; Quyết định số 1997/QĐ-UBND ngày 26/6/2012 của UBND tỉnh Thanh Hóa về phê duyệt Kế hoạch triển khai thực hiện “Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn 2011 - 2020” trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa; HĐND huyện đã ban hành Nghị quyết kích cầu hỗ trợ các xã, thị trấn xây dựng “Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn 2011 - 2016 và năm 2017 - 2018 với mức hỗ trợ 200 triệu đồng/địa phương; UBND huyện đã ban hành Quyết định số 3861/QĐ-UBND ngày 07/11/2012 về Kế hoạch triển khai thực hiện “Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn 2011 - 2020” trên địa bàn huyện Thiệu Hóa.

Được chỉ đạo của Sở Y tế, Thường trực Huyện ủy, HĐND, lãnh đạo UBND huyện, sự phối hợp của các ban, ngành, MTTQ và các đoàn thể, sự quyết tâm của đảng bộ và nhân dân các xã, thị trấn; sự cố gắng nỗ lực của cán bộ, nhân viên ngành y tế toàn huyện. Trong 6 năm qua, công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân và xây dựng Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã ở huyện Thiệu Hóa đã đạt được kết quả đáng kể.

Các hoạt động tuyên truyền đã huy động được sự tham gia của nhiều ban, ngành, đoàn thể và đông đảo nhân dân tại địa phương và con em xa quê góp phần xây dựng các tiêu chí đạt chuẩn.

Công tác đầu tư xây dựng, cải tạo nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị cho trạm y tế các xã, thị trấn từng bước được quan tâm. Từ tháng 11 năm 2012 đến tháng 11 năm 2018 đã đầu tư 51 tỷ 783 triệu đồng, trong đó: Ngân sách tỉnh 2,3 tỷ đồng; Ngân sách huyện 5,3 tỷ đồng; Sở y tế, Trung tâm y tế huyện 10 tỷ đồng; Ngân sách xã, thị trấn 32 tỷ 383 triệu đồng; Nguồn xã hội hóa khác 1 tỷ 800 triệu đồng. Một số địa phương dành nhiều kinh phí từ 1 tỷ đến trên 3 tỷ đồng đầu tư cho xây dựng mới, sửa chữa cơ sở hạ tầng trạm y tế như: Thiệu Hợp, Thiệu Nguyên, Thiệu Giao, Thiệu Quang, Thiệu Vận, Thiệu Thành, Thiệu Phúc, Thiệu Tâm… Một số địa phương huy động tốt nguồn kinh phí xã hội hóa, như: Thiệu Châu được Viện quân y 103 hỗ trợ 1 tỷ đồng; Thiệu Tân được Công ty Dầu khí Trung Trường Sơn Vũng Tàu hỗ trợ 400 triệu đồng; Thiệu Toán được con em sinh sống tại Thành Phố HCM hỗ trợ 400 triệu đồng mua sắm trang thiết bị y tế như máy Siêu âm, máy xét nghiệm nước tiểu, bộ tiểu phẩu, máy phát điện, giường bệnh, bàn nghế, xây dựng cơ sở vật chất…

Làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân: Phối hợp với Trường Đại học nữ EHA Hàn Quốc, Hội Thầy thuốc trẻ Việt nam, Hội cựu quân y của tỉnh, Cục quân y Hoa Kỳ, Hội Chữ thập đỏ các cấp, Hội tim mạch Hoa Kỳ, các doanh nghiệp, các đơn vị trong và ngoài tỉnh tham gia khám, chữa bệnh miền phí cho trên 5.500 lượt đối tượng nghèo, gia đình chính sách, gia đình có công với cách mạng…trị giá gần 2 tỷ đồng.

Các trạm y tế thực hiện tốt chức năng chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân; công tác quản lý nhà nước về y tế từng bước được thực hiện đồng bộ, chất lượng hoạt động khám, chữa bệnh cho nhân dân trong huyện ngày càng tốt hơn, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân trong tình hình mới. Công tác vệ sinh phòng dịch luôn đạt kết quả cao, không có các dịch bệnh lớn xảy ra.

Sau 6 năm, xây dựng "Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn đến năm 2020", đến nay 28/28 xã, thị trấn, đạt 100% kế hoạch, vượt tiến độ đề ra trước 2 năm, là một trong những huyện nằm trong tốp đầu toàn tỉnh.

Để thực hiện và duy trì Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã trong những năm tới, các cấp ủy, chính quyền ở huyện Thiệu Hóa tiếp tục quan tâm lãnh, chỉ đạo kiện toàn ban chăm sóc sức khỏe nhân dân, hàng năm đưa các chỉ tiêu y tế vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân. Tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, vệ sinh môi trường và an toàn thực phẩm; vệ sinh cá nhân và phòng chống dịch bệnh; nâng cao tỷ lệ người dân tham gia BHYT nhằm tiến tới BHYT toàn dân.

Ngành y tế tiếp tục thực hiện tốt quy chế chuyên môn, nêu cao tinh thần y đức cho cán bộ nhân viên, đổi mới và cải cách thủ tục hành chính trong khám chữa bệnh. Tiếp tục cử cán bộ đi đào tạo bác sĩ, đào tạo chuyên môn sâu trong thực hiện việc khám, điều trị cho nhân dân, nhất là tuyến cơ sở, đẩy mạnh công tác xã hội hóa y tế để công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân ngày càng được nâng lên.

Hách Xuân Thành - Trưởng Phòng Y tế huyện Thiệu Hóa

Lễ khai trương giai đoạn 1 Bệnh Vin Đa khoa Đại An

Sáng ngày 17/10, Bệnh viện đa khoa Đại An nằm trên QL 45, xã Thiệu Đô, huyện Thiệu Hóa đã chính thức khai trương đi vào hoạt động.

Tham dự buổi lễ có đồng chí Lê Xuân Đào - UVBTVHU, PCT UBND huyện, các đồng chí trong BTV Huyện ủy, lãnh đạo HĐND, UBND, UBMTTQ, trưởng các ban ngành đoàn thể huyện; lãnh đạo đảng ủy, UBND các xã, thị trấn; ông Lê Đình Hoàng – CTHĐQT – Giám đốc BVĐK Đại An và tập thể cán bộ công nhân viên của Bệnh viện.

Phát biểu tại buổi Lễ, đại diện Sở Y tế Thanh Hóa và đồng chí Phó chủ tịch UBND huyện nhấn mạnh: Nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của người dân ngày càng cao nhưng hệ thống khám chữa bệnh trên cả nước hiện chưa đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân. Do đó, Nhà nước kêu gọi mọi nguồn lực của xã hội, bao gồm nhà nước, tư nhân và các tổ chức xã hội khác cùng tham gia đóng góp công sức, vật chất để xây dựng hệ thống cơ sở khám chữa bệnh phục vụ người dân. Sự ra đời của Bệnh viện Đa khoa Đại An với trang thiết bị y tế hiện đại và đội ngũ cán bộ nhân viên y tế vững tay nghề sẽ đáp ứng tốt nhu cầu khám chữa bệnh của người dân trên địa bàn huyện, góp phần giảm tải cho các bệnh viện. Sở Y tế và huyện sẽ tạo điều kiện để bệnh viện phát triển, đáp ứng các yêu cầu về chuyên môn, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, tạo được uy tín với người dân. Đồng thời Sở Y tế và huyện yêu cầu Bệnh viện Đa khoa Đại An tổ chức hoạt động khám bênh theo quy định, đảm bảo các quy định về y đức; đẩy nhanh tiến độ xây dựng giai đoạn 2 của Bệnh viện để đồng thời thực hiện khám và điều trị bệnh nhân.

Bệnh Viện Đa khoa Đại An được Bộ Y tế cấp phép hoạt động từ ngày 10/10/2018 với mục đích khám, chữa bệnh. Bệnh Viện có các chuyên khoa và các dịch vụ kỹ thuật: Nội, Ngoại, Sản, Nhi; Tai - Mũi - Họng; Răng - Hàm - Mặt; Mắt; Da liễu; Phục hồi chức năng; Khám và tư vấn dinh dưỡng; Chẩn đoán ung thư sớm. Bệnh viện Đa Khoa Đại An hướng tới cung cấp dịch vụ chất lượng cao với đội ngũ bác sĩ, điều dưỡng, nhân viên hỗ trợ được đào tạo bài bản, có kinh nghiệm; phong cách phục vụ chuyên nghiệp, thân thiện; cơ sở vật chất khang trang, sạch sẽ; trang thiết bị hiện đại; kết quả khám, tư vấn điều trị chất lượng.

Phùng Thanh Tuyên

Lễ đón nhận danh hiệu Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Nghề đúc đồng cổ truyền làng Chè

Ngày 17/11/2018, UBND huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa đã long trọng tổ chức lễ đón nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Nghề đúc đồng cổ truyền làng Chè (Trà Đông). Về dự buổi lễ, có các đồng chí Nông Quốc Thành - Phó Cục trưởng, Cục Di sản văn hóa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Phạm Đăng Quyền - TUV, PCT UBND tỉnh; Hoàng Văn Toản - TUV, Bí thư HU - CT HĐND huyện; Đỗ Thị Toán - PBT Thường trực Huyện ủy; Trịnh Văn Súy PBT Huyện ủy - CT UBND huyện.

Nghề đúc đồng cổ truyền làng Chè có lịch sử hàng trăm năm lưu truyền qua nhiều thế hệ. Người làng Chè tôn vinh Thái sư Khổng Minh Không là ông tổ nghề đúc đồng. Trước năm 1945, hơn 80% số hộ trong làng làm nghề, cũng nhờ đó, nghề đúc đồng càng trở nên hưng thịnh và hình thành nhiều làng chuyên thu gom nguyên liệu phục vụ làng nghề, hoặc chuyên buôn bán, trao đổi các sản phẩm của làng nghề.Các sản phẩm được làm ra từ làng nghề rất đa dạng, phong phú, gồm đồ thờ cúng, tế lễ, đồ mỹ nghệ, tranh tứ linh, tứ quý... Đặc biệt, bằng sự tâm huyết, nỗ lực cố gắng của các nghệ nhân đúc đồng làng Chè đã nghiên cứu và đúc thành công trống đồng bằng phương pháp thủ công truyền thống, với nhiều kích cỡ khác nhau. Không chỉ có giá trị về mặt kinh tế, các sản phẩm thủ công truyền thống này còn có ý nghĩa đặc biệt trong việc bảo tồn về bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc. Nghề đúc đồng làng Chè với lịch sử lâu dài, truyền thống và kinh nghiệm sản xuất riêng, cùng trí tuệ dân gian được đúc kết qua nhiều thế hệ và vô số những sản phẩm thủ công tinh xảo... Cũng tại buổi lễ, đồng chí Nông Quốc Thành công bố Quyết định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận và đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Nghề đúc đồng cổ truyền tại Quyết định số 3325/QĐ-BVHTTDL, ngày 04/9/2018 cùng với 07 di sản văn hóa phi vật thể khác. Việc đón nhận danh hiệu di sản văn hóa phi vật thể nghề đúc đồng cổ truyền làng Chè là sự kiện có ý nghĩa to lớn đối với các nghệ nhân và nhân dân làng nghề. Qua đó ghi nhận giá trị văn hóa cổ truyền của cộng đồng địa phương, phản ánh sự đa dạng văn hóa, sáng tạo của con người. Đồng thời cũng đặt ra trách nhiệm lớn lao trong việc bảo tồn, gìn giữ và phát huy giá trị di sản này.

Phát biểu tại buổi lễ, đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh khẳng định nghề đúc đồng cổ truyền làng Chè có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc. Được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vinh danh di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, không chỉ là niềm tự hào của người dân làng Trà Đông, mà của cả tỉnh Thanh Hóa. Đồng thời cũng đặt ra cho người dân và chính quyền địa phương trách nhiệm lớn lao trong việc giữ gìn và phát huy giá trị di sản; giới thiệu, quảng bá sản phẩm văn hóa của làng nghề không chỉ khắp cả nước mà vươn xa đến nhiều nước trong khu vực và thế giới. Đồng chí PCT tỉnh nghị đề các sở, ngành, đơn vị liên quan và chính quyền huyện Thiệu Hóa, xã Thiệu Trung cần quan tâm và tạo mọi điều kiện cho các cơ sở đúc đồng, các nghệ nhân và nhân dân trong việc gìn giữ và phát triển nghề. tiếp tục phát huy để sản phẩm làng nghề nâng cao chất lượng giá trị văn hóa trở thành nền kinh tế quan trọng, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và là nơi thu hút khách hàng và khách tham quan du lịch

Trần Thanh Mai

HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

Xây dựng phong cách lãnh đạo của người đứng đầu theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về “Phong cách cách mạng, khoa học, năng động, sáng tạo”

Một yêu cầu quan trọng trong phong cách của người đứng đầu, người lãnh đạo là phải có sự thống nhất giữa tính đảng, tính nguyên tắc cao với tính năng động, sáng tạo, sự nhạy cảm với cái mới. “Trung với Đảng”, “trung với nước, hiếu với dân” là phẩm chất chính trị cơ bản, thể hiện trong mọi hoạt động của người lãnh đạo, quản lý. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, điều chủ chốt trong phong cách làm việc của cán bộ lãnh đạo là phải: “Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng. Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình.Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc”.

Nhiệt tình cách mạng là yếu tố cơ bản trong phẩm chất của người cán bộ đứng đầu, người lãnh đạo. Vì có nhiệt tình cách mạng, người cán bộ lãnh đạo mới say mê, tận tuỵ với công việc để tìm ra những phương án sáng tạo nhằm thực thi nhiệm vụ đạt hiệu quả cao. Tính cách mạng, lòng yêu nước, thương dân là động lực lớn thôi thúc người lãnh đạo, quản lý chuyên tâm, lo toan, tận tuỵ, say mê với công việc. Đồng thời, người lãnh đạo phải có sự tìm tòi sáng tạo, đề xuất được những ý kiến hay, những phương án tối ưu để thực thi nhiệm vụ đạt hiệu quả cao. Theo Hồ Chí Minh, cán bộ lãnh đạo, phải là những người vừa “hồng”, vừa “chuyên”, có đạo đức cách mạng, có tinh thần anh dũng, gương mẫu, chịu đựng gian khổ, hy sinh và có năng lực thực hiện nhiệm vụ được giao.

Hồ Chí Minh cho rằng, tính khoa học phải được đảm bảo bằng tri thức khoa học. Nhiệt tình cách mạng chỉ thực sự đem lại hiệu quả khi nó được thống nhất với các tri thức khoa học và trên cơ sở khoa học. Nhiệt tình cách mạng sẽ trở thành duy tâm, duy ý chí nếu thiếu tri thức khoa học. Thực tiễn cho thấy, có nhiệt tình mà thiếu tri thức khoa học sẽ dẫn tới sai lầm, chệch hướng, làm hỏng đường lối, chính sách, hành động trái quy luật, thậm chí dẫn đến phá hoại vô ý thức. Những chương trình, dự án, kế hoạch với những ý tưởng tốt đẹp, nhưng do thiếu tri thức dẫn đến thất bại, gây ra tổn thất nặng nề.

Để có tri thức khoa học, người cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu phải chịu khó học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ về chính trị, văn hoá, nghiệp vụ cũng như nắm được tình hình trong và ngoài nước. Chủ quan, tự mãn, ít nghiên cứu lý luận và thực tiễn nên gặp thuận lợi dễ lạc quan, gặp thành công sớm dễ mắc phải căn bệnh kiêu ngạo; khi gặp khó khăn thì dễ lúng túng, bị động, dẫn đến bi quan, dao động, lập trường cách mạng không vững… Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở cán bộ đảng viên nói chung, nhất là với cán bộ lãnh đạo: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”.

Học tập, nghiên cứu, “học và hành” theo tư tưởng Hồ Chí Minh chính là đảm bảo sự thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, nói đi đôi với làm. Cán bộ, đảng viên cần phải có lý luận lãnh đạo cần nắm chắc lý luận mới có thể hoàn thành nhiệm vụ của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định: “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”, “làm mà không có lý luận thì không khác gì đi mò trong đêm tối, vừa chậm chạp vừa hay vấp váp”.

Khẳng định vai trò của lý luận, Hồ Chí Minh chỉ rõ sự cần thiết phải biết liên hệ lý luận với thực tiễn trong công tác lãnh đạo. Vì: “Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”, nên lý luận mà xa rời thực tiễn thì sớm muộn sẽ dẫn tới bệnh giáo điều, sách vở, nên người cán bộ lãnh đạo phải nắm chắc lý luận, đồng thời qua kinh nghiệm làm việc, phải hiểu rõ sự vận động của các quan điểm lý luận trong thực tiễn, qua đó dự báo được những biến đổi của tình hình, của nhiệm vụ cách mạng, từ đó mới có thể thực hiện tốt vai trò lãnh đạo của mình.

Một trong những yêu cầu về phong cách làm việc của cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu là phải nắm chắc lý luận, nhưng không được “lý luận suông”, mà phải có năng lực vận dụng lý luận vào thực tiễn. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Học tập chủ nghĩa Mác - Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình; là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế ở nước ta”. Người chủ trương “phải gắn lý luận với công tác thực tế”. Mọi chủ trương, đường lối của Đảng một mặt phải xuất phát từ tình hình cụ thể, giải thích cho quần chúng hiểu và thực hiện các chủ trương, chính sách đó như thế “lý luận mới không tách rời thực tế”.

Trong mọi công tác, tùy theo hoàn cảnh cụ thể, người lãnh đạo có thể sử dụng nhiều hình thức, biện pháp khác nhau để hoàn thành chức trách, nhiệm vụ của mình. Tuy nhiên, cần có sự vững vàng, không thay đổi trong những vấn đề thuộc về nguyên tắc, đó là những vấn đề có tính chiến lược, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước là “bất biến, phải giữ vững như sắt đá”.

Cùng với kiên định về nguyên tắc, những vấn đề chiến lược, thì sách lược cách mạng, các hình thức, phương pháp, biện pháp, cách thức tiến hành phải mềm dẻo, linh hoạt, phù hợp với thực tế để có thể đạt kết quả cao nhất. Điều đó thuộc về bản lĩnh của người lãnh đạo, thực hiện “dĩ bất biến ứng vạn biến”, thể hiện sự linh hoạt trong hoạt động lãnh đạo của mình.

Theo Hồ Chí Minh, mục tiêu đặt ra phải được cụ thể trong từng giai đoạn. Tính bất biến, mục tiêu trong tất cả các giai đoạn của cách mạng là độc lập, thống nhất cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Trong bản Di chúc, Người nói lên mong muốn cuối cùng, cũng là mục tiêu chung của cuộc cách mạng là “xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”. Tuy nhiên, con đường đi đến mục tiêu đó là con đường đấu tranh lâu dài, đầy khó khăn, gian khổ. Người đứng đầu, người lãnh đạo cần sáng suốt, tỉnh táo, nhạy bén để xác định sách lược, hình thức, biện pháp thực hiện trong những hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể, trong mỗi bước đi, mỗi bước tiến lên của cách mạng.

Những nội dung xây dựng phong cách lãnh đạo nêu trên không nằm ngoài những quy định chung trong phong cách làm việc của cán bộ, đảng viên, đồng thời, có yêu cầu cao hơn, thể hiện vị trí, vai trò, trách nhiệm của người cán bộ, đảng viên trên cương vị lãnh đạo.

Nguyễn Thành Hưng

Thầy giáo Dương Văn Quang - Tấm gương sáng trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi

Nỗ lực tìm tòi, nghiên cứu để tìm ra phương pháp giảng dạy phù hợp với đối tượng học sinh, thầyDương Văn Quang - Giáo viêndạy môn Vật Lý,trường THCS Thiệu Hợpđã có nhiều thành tích trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, đạt nhiều giải cao trong các kỳ thi, đóng góp vào thành tích chung của Ngành giáo dục huyện nhà.

Năm 2005, tốt nghiệp Đại học sư phạm Vinh chuyên ngành Vật Lý, thầy giáo Quang được phân công về công tác tại trường THCS Thiệu Hợp.Là mộtngôi trường vùng nông thôn, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn; phụ huynh hầu hết đi làm ăn xa để con cái lại cho ông bà nên việc quan tâmđến chuyện học hành của con em còn hạn chế,phần nào ảnhhưởng đến chất lượng dạy học, nhất là việc phát hiện, bồi dưỡng học sinh giỏicủa nhà trường. Tuy nhiên, với lòng yêu nghề cùng tình thương yêu học sinh thầy Quang đãdành nhiều tâm huyết nghiên cứu, tìm tòi và đưa ra nhiều phương pháp giảng dạy khoa học để giúp học sinh hứng thú trong học tập, tiếp thu bài một cách tốt nhất.

Để rèn cho học sinh khả năng tự học, ở trên lớp thầy giảng những kiến thức cơ bản, còn lại gợi mở vấn đề cho các em về nhà tự đọc sách, tìm hiểu. Cách dạy không gò bó và vì tò mò muốn khám phá kiến thức, giúp các em học tập tốt hơn.Chia sẻ với chúng tôi về kinh nghiệm giảng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi, thầy Quang cho biết:Đối với công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, ngoài nền tảng kiến thức chuyên môn vững thì người làm công tác bồi dưỡng cần phát hiện sớm được những học sinh có tố chất tốt, thông minh và có niềm đam mê đối với môn học".

Từ phương pháp bồi dưỡng môn Vật Lý của thầy ngaynăm học đầu tiên trường có 5 học sinh tham gia học sinh giỏi thì có 4 em đạt giải và năm học nào thầy cũng có học sinh dự thi đạt giải. Nămhọc 2015-2016 thầy có 3 học sinh đạt giải cấp huyện, sau đó thi tỉnh cả 3 em đạt giải; năm học 2016-2017 trường đạt 4 giải; năm học 2017-2018 trường có 5 em đạt giải, trong đó có 1 giải nhì, 2 giải 3.

Vớinhững thành tích chuyên môn, thầy Quang nhiều năm đạt danh hiệu lao động tiên tiến, chiến sỹ thi đua cơ sở, giáo viên dạy giỏi các cấp, được các cấp tặng bằng khen, giấy khen.

Trần Thanh Mai

THÔNG TIN - TRAO ĐỔI KINH NGHIỆM

Thiệu Giang thực hiện tốt chuyển đổi ruộng đất theo nhóm hộ

Xã Thiệu Giang có 558 ha đất nông nghiệp, trước khi chuyển đổi ruộng đất, bình quân mỗi hộ có 2-3 thửa đất. Hiện trạng đó gây khó khăn cho công tác quy hoạch và ứng dụng các tiến bộ KHKT, cơ giới hóa vào sản xuất, chi phí sản xuất ở nhiều xứ đồng cao, ảnh hưởng đến thu nhập của nhân dân.

Giải quyết tình trạng trên, sau khi huyện Thiệu Hóa ban hành Nghị quyết 06 - NQ/HU, ngày 30/8/2016 của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện về tiếp tục vận động nhân dân chuyển đổi ruộng đất và chuyển đổi theo nhóm hộ, để nâng cao hiệu quả sử dụng đất, thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp (Nghị quyết 06), Đảng bộ xã Thiệu Giang cũng đã ban hành nghị quyết chuyên đề về lãnh đạo, chỉ đạo việc chuyển đổi ruộng đất gắn với xây dựng nông thôn mới. Xã tổ chức nhiều đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, tuyên truyền nghị quyết, quán triệt trong toàn Đảng bộ, chi bộ lấy ý kiến nhân dân, đồng thời tổ chức tuyên truyền thường xuyên, liên tục trên hệ thống đài truyền thanh, tạo sự đồng thuận trong nhân dân. Đảng ủy chỉ đạo UBND xã xây dựng Đề án “chuyển đổi ruộng đất” trên cơ sở điều tra chính xác hiện trạng đất đai, xác định đất quy hoạch giao thông nội đồng, tính toán khối lượng đào đắp, hệ số quy đổi cho toàn xã và từng địa bàn, đảm bảo hài hòa lợi ích của các gia đình và tập thể. Xã thành lập Ban chỉ đạo do đồng chí Bí thư Đảng ủy làm trưởng ban, UBND xã thành lập các tổ chuyên môn giúp việc: Tổ điều tra cơ bản, tổ quy hoạch, tổ chỉnh lý bản đồ.

Để chủ trương đến với người dân, UBND xã có văn bản hướng dẫn đến tận các thôn, thành lập các tiểu ban do đồng chí bí thư chi bộ trưởng thôn làm trưởng tiểu ban. Đồng thời, đảng ủy, phân công cấp ủy, thành viên Ban chỉ đạo của xã phụ trách các thôn. Đề án của xã được thực hiện theo quy trình 4 bước: Bàn thống nhất trong cấp ủy, chính quyền, ban chỉ đạo; họp UBND xã mở rộng đến các thôn làng; họp đảng ủy mở rộng đến các chi ủy, chi bộ; họp nhân dân các thôn phổ biến, quán triệt, bàn bạc thấu đáo, đảm bảo nguyên tắc dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra.

Với mục tiêu ruộng của nhân dân cơ bản đảm bảo tưới tiêu thuận lợi trong điều kiện bình thường và có đường giao thông nội đồng đủ rộng để máy móc nông nghiệp đến ruộng. Xã đã nâng cấp toàn bộ hệ thống thủy lợi nội đồng, đảm bảo cho nhân dân sản xuất ổn định, từng bước chuyển đổi cơ cấu cây trồng nâng cao hiệu quả kinh tế. Dựa trên kết quả phân loại từng nhóm đất đã được nhân dân thông qua, Ban chỉ đạo chuyển đổi của xã dự kiến hệ số chuyển đổi cho từng nhóm đất, ở từng xứ đồng, phương án làm thủy lợi nội đồng để nhân dân bàn bạc, thống nhất thực hiện.

Từ đó, nhân dân nhận thức được chuyển đổi ruộng đất theo nhóm hộ sẽ mang lại lợi ích trực tiếp, thiết thực, tạo được lòng tin và đồng thuận trong nhân dân. Trao đổi với chúng tôi, đồng chí Lê Văn Tình - Bí thư Chi bộ thôn Vĩnh Xuân cho biết thêm: “Chi bộ làm thông tư tưởng trong cán bộ, đảng viên, tổ chức họp dân phân tích để người dân hiểu rõ lợi ích lâu dài của chủ trương và được người dân đồng tình cao. Đồng thời các bước chuyển đổi ruộng đất đảm bảo công khai dân chủ, công bằng giữa các hộ nhận ruộng. Khi có nghị quyết của chi bộ thì đảng viên là người làm trước để quần chúng nhân dân noi theo".

Sau hơn một năm tích cực chuẩn bị thực hiện Nghị quyết 06, đến nay xã Thiệu Giang đã cơ bản sẵn sàng giao đất trên thực địa cho các hộ dân theo phương án đã thống nhất, khắc phục tình trạng manh mún, tạo ra các thửa ruộng có diện tích lớn để phát triển nông nghiệp theo hướng hàng hóa.

Đồng chí Lê Công Minh – Bí thư Đảng bộ xã Thiệu Giang cho biết thêm: “Cái được lớn nhất của chủ trương chuyển đổi ruộng đất theo nhóm hộ trên địa bàn xã là hình thành tư duy sản xuất mới cho bà con nông dân. Thông qua thực hiện nhiệm vụ này, Đảng ủy xã đã phát huy vai trò của cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể trong việc chuyển đổi ruộng đất, đồng thời đề ra phương án sản xuất mới sát với tình hình thực tế của địa phương”.

Phùng Thanh Tuyên

Sức sống làng nghề Trà Đông

Về làng Chè Đông (Trà Đông), xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa sẽ không khó bắt gặp hình ảnh những nghệ nhân mướt mồ hôi bên chiếc lò nung luôn đỏ lửa cùng những âm thanh của tiếng đục, tiếng mài, tiếng rũa bên những chiếc trống đồng, lư đồng vang lên khắp làng. Không khí nhộn nhịp ấy luôn được những con người giản dị, chất phát nơi đây gìn giữ từ đời này qua đời khác.

Sinh ra và lớn lên trong cái nôi có nghề đúc đồng nghệ nhân ưu tú Nguyễn Bá Châu đã vào nghề được 40 năm có lẻ. Ông đã từng gắn bó và chứng kiến những bước thăng trầm, biến cố của làng nghề nên luôn trăn trở, dành nhiều tâm huyết cho nghề đúc đồng, cho những tinh hoa của bao thế hệ trước đã gìn giữ và truyền lại. Nghệ nhân Bá Châu kể rằng, nghề đúc đồng là nghề “cha truyền con nối” trong gia đình ông tới cả chục đời, nên “lửa nghề” ngấm vào máu từ khi còn nhỏ. Nhưng những năm 80 của thế kỷ trước, nghề đúc đồng đã gần như không còn chỗ đứng. Nhiều gia đình phải chuyển đổi công việc khác. Bản thân ông cũng phải chuyển nghề làm thợ mộc, thợ may để mưu sinh nuôi gia đình. Với mong muốn khôi phục lại nghề đúc đồng, đến năm 2000, sau quá trình miệt mài nghiên cứu và sáng tạo, ông Châu đã đúc thành công chiếc trống đồng với chiều cao 12cm, đường kính 15cm. Chiếc trống này sau đó được tặng cho UBND tỉnh Thanh Hóa. Ông chính là nghệ nhân đầu tiên ở Thanh Hóa đúc thành công chiếc trống đồng bằng phương pháp thủ công. Hiện các con trai, con gái, dâu và rể của Nghệ nhân Nguyễn Bá Châu cũng đều theo nghề của gia đình, trong đó có anh Nguyễn Bá Quý (sinh năm 1987), tuy còn rất trẻ nhưng đã được tặng danh hiệu Nghệ nhân. Công ty của ông đang tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 20 lao động,

Dẫn chúng tôi đi thăm các sản phẩm của gia đình, nghệ nhân Lê Văn Bảy chia sẻ: Nghề đúc đồng ở Thiệu Trung cũng có những khác biệt so với một số nơi khác, người thợ ở đây có tay nghề, kinh nghiệm, không chỉ đơn thuần là làm theo quy trình sẵn có mà còn phải thổi vào từng sản phẩm nét văn hóa truyền thống. Để có được một sản phẩm đúc đồng đạt tiêu chuẩn cần phải trải qua một quy trình kỹ thuật phức tạp bao gồm các làm khuôn, pha chế hợp chất, nấu đồng, đúc sản phẩm, người thợ phải chú tâm, cẩn thận chau chuốt từng chi tiết. Toàn bộ quy trình vẫn được các nghệ nhân làm bằng phương pháp thủ công. Cơ sở đúc đồng của nghệ nhân ưu tú Lê Văn Bảy và Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đúc đồng truyền thống Đông Sơn - Chè Đông của nghệ nhân Nguyễn Bá Châu đã xác lập nhiều kỷ lục về đúc thành công trống đồng bằng phương pháp thủ công: Chiếc trống đồng nặng 8 tấn, có đường kính 2,7m và cao 2m; đúc 1.000 pho tượng Mẹ Âu Cơ làm quà tặng các nguyên thủ, chính khách của 21 nền kinh tế đến dự Hội nghị Cấp cao APEC tổ chức tại Đà Nẵng (tháng 11/2017); kỷ lục đúc đôi tượng đồng phiên bản “cây đèn hình người quỳ” lớn nhất Việt Nam; kỷ lục “người thực hiện đúc trống đồng đánh nganh hai mặt bằng phương pháp thủ công đầu tiên ở Việt Nam”...

Nghề đúc đồng ở Thiệu Trung có từ lâu đời và nghề này không phân biệt độ tuổi lớn nhỏ. Sản phẩm do người thợ đúc đồng Trà Đông làm ra hết sức đa dạng, phong phú song chủ yếu là hàng dân dụng truyền thống, các loại đồ thờ cúng, chuông, tượng, Đại tự, Cồng, chiêng, hay các tác phẩm nghệ thuật khác như đồng hồ, tranh bằng đồng. Đặc biệt là chiếc trống đồng là sản phẩm chủ đạo của làng nghề được nhiều du khách mua để trung bày tại gia đình, nơi làm việc, dùng để biếu, tặng, làm quà cho khách gần xa… Người thợ đúc đồng Trà Đông ngày nay còn có khả năng làm ra các loại chi tiết máy móc đảm bảo yêu cầu kỹ thuật. Sản phẩm của làng Trà Đông rất được ưa chuộng đảm bảo độ bền, sáng bóng, mẫu mã đẹp và không bị “rỉ đồng”. Ông Trần Công Lạc – Chủ tịch UBND xã Thiệu Trung cho biết: Xã đã quy hoạch 5,7 héc ta cho cụm làng nghề, có 32 hộ tham gia, trung bình mỗi hộ từ 10-20 lao động. Nhìn chung thu nhập từ nghề đúc đồng chiếm hơn 50% tổng thu nhập trên địa bàn, tạo điều kiện cho hàng trăm người có công ăn, việc làm và làm giàu chính đáng.

Nhằm phục vụ du khách tham quan, mua sắm, cùng với sự hỗ trợ của chính quyền địa phương, các hộ dân làng nghề đã cùng nhau đóng góp xây dựng Trung tâm giới thiệu và quảng bá sản phẩm làng nghề đúc đồng truyền thống, đồng thời thành lập ra Ban quản lý làng nghề. Và mới đây nghề đúc đồng cổ truyền của làng Chè Đông được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Đây sẽ một cơ hội lớn để quảng bá, xây dựng thương hiệu cho làng nghề; phát triển nơi đây trở thành điểm đến hấp dẫn của loại hình du lịch làng nghề.

Tuy nhiên, để nơi đây trở thành điểm đến du lịch làng nghề còn rất nhiều vấn đề đặt ra, đó là: hiện nay, quy mô sản xuất của các hộ còn nhỏ, chỉ quy mô gia đình và trong làng, khách du lịch ít có cơ hội để tiếp cận, tìm hiểu và trải nghiệm với các sản phẩm của làng nghề, chưa tạo ra nhiều sản phẩm đẹp, lạ. Mặt khác, việc kết nối giữa các làng nghề truyền thống với các doanh nghiệp, đơn vị lữ hành còn nhiều hạn chế, chưa xây dựng tour du lịch làng nghề; công tác quảng bá, xúc tiến du lịch tại các làng nghề cũng chưa được quan tâm đúng mức.

Chính vì vậy, để trở thành điểm đến du lịch làng nghề, trong thời gian tới huyện Thiệu Hóa cần xây dựng lộ trình, kết nối tuyến, điểm du lịch; hướng dẫn du khách tham quan, tham gia trực tiếp vào một số công đoạn sản xuất, hoàn thiện sản phẩm; hình thành dịch vụ ăn uống, lưu trú; tổ chức các trò chơi dân gian; quan tâm, không ngừng thay đổi kiểu dáng, mẫu mã sản phẩm. Mặt khác, các làng nghề và các doanh nghiệp du lịch, nhất là các doanh nghiệp du lịch lữ hành cần có sự kết hợp chặt chẽ để thúc đẩy, quảng bá hình ảnh, sản phẩm làng nghề tới đông đảo bạn bè, du khách trong và ngoài nước.

Trần Thanh Mai

LỊCH SỬ - VĂN HÓA - NGHỆ THUẬT

Hầm kháng chiến Thiệu Trung - Di tích lịch sử kháng chiến

Thiệu Trung là một vùng đất cổ có lịch sử lâu đời, nơi có truyền thống cách mạng, nhân dân cần cù lao động. Từ những ưu điểm đó, trước cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ; Thường trực Ủy ban hành chính tỉnh Thanh Hóa đã chọn thôn Phủ Lý Nam, xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa làm nơi xây dựng hầm trú ẩn - làm việc thời chiến, giai đoạn 1965 – 1972.

Ngày 07/02/1965, lấy cớ “trả đũa” quân Mỹ chính thức gây ra cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân lần thứ nhất đối với miền Bắc.

Nắm vững được những âm mưu và thủ đoạn của đế quốc Mỹ, Đảng ta đã kịp thời chỉ thị các địa phương sẵn sàng chiến đấu, đồng thời chuẩn bị mọi cơ sở cho hoạt động thời chiến. Thanh Hoá trở thành trọng điểm đánh phá, nên việc Sơ tán khỏi thị xã (thành phố Thanh Hóa ngày nay) của các cơ quan trong tỉnh nhằm tránh sự phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ là điều cần thiết.

Đầu năm 1965 Chủ tịch Ủy ban hành chính tỉnh Thanh Hoá giao cho Ủy ban huyện Thiệu Hoá, Ủy ban xã Thiệu Trung xây dựng hầm chỉ huy, trong thời gian ngắn nhất phải hoàn thành, để kịp thời phục vụ cho cán bộ trú ẩn và làm việc, sẵn sàng chỉ huy chiến đấu khi có giặc. Những người con ưu tú của quê hương Thiệu Hóa đã gấp rút ngày đêm tổ chức triển khai xây dựng công trình hầm làm việc và trú ẩn cho Thường trực Ủy ban hành chính tỉnh. Tham gia đào và xây hầm có:

- Tổ thợ xây gồm các ông: Trần Văn Trì, Trần Văn Phường, Trần Văn Dưỡng, Lê Doãn Lanh, Trần Văn Thỉnh, Trần Văn Đàm, Lê Duy Giúp.

- Cán bộ đoàn tham gia đào hầm và phụ xây gồm các ông, bà: Ông Trần Văn Hoàn, Nguyễn Văn Lạp, Vũ Đình Huê, Trương Trọng Dích; Bà Lê Thị Tiểu, Lê Thị Chính.

- Phụ nữ xã: Bà Trần Thị Lự.

- Công an xã: Ông Lê Xuân Dậu.

- Dân quân tự vệ đào và phụ xây gồm các ông bà: Ông Nguyễn Văn Trưởng, Trần Thái Mật, ông Lê Xuân Tiệp, Lê Văn Búp, Lê Xuân Tỵ, Lê Đăng Khoa, Lê Xuân Hân; Bà Trần Thị Thêu, Trần Thị Thoa, Lê Thị Phiến, Phạm Thị Phường.

Công việc tiến hành từ ngày 15/3 đến ngày 01/4/1965 hoàn thành. Khu vực hầm có diện tích gần 100m2 với khối lượng đào 40m3 đất, xây 20 m3 gạch, đắp 100m3 đất, sau đó trồng cây bao phủ lên bề mặt hầm. Bàn giao cho Thường trực Ủy ban hành chính tỉnh sử dụng trong cuộc kháng chiến chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Trong hầm thường xuyên có một bộ đàm đặt trên một cái bàn nhỏ rộng 0,35m; dài 0,8m; cao 0,8m. Một cái ghế để làm việc khi có báo động. Giúp việc cho lãnh đạo thường xuyên có hai đồng chí (bảo vệ, thư ký).

Các đồng chí đã từng làm việc ở hầm có: Đồng chí Lê Thế Sơn - Chủ tịch Ủy ban hành chính tỉnh Thanh Hoá từ năm 1961 đến tháng 12/1962 và từ năm 1966 đến tháng 3 năm 1967, đồng chí Võ Nguyên Lượng - Bí thư Tỉnh uỷ kiêm Chủ tịch Ủy ban hành chính tỉnh Thanh Hoá từ tháng 3/1967 - 12/1969.

Ở phía Bắc hầm là khu nhà làm việc của cán bộ Thường trực Ủy ban hành chính tỉnh Thanh Hoá (nhà tạm). Phía Nam hầm là gò Mã Dòm cũng có một lán là nơi làm việc của Uỷ ban hành chính. Phía Tây có một nhà khung bằng sắt, trong nhà có máy phát điện phục vụ cho Ủy ban hành chính. Thường thường trong hầm có 5 đến 6 người vừa trú ẩn và làm việc khi có báo động. Trong làng Phủ Lý Nam lúc này có rất nhiều hầm trú ẩn, tuy nhiên chỉ là hầm tạm. Duy nhất, chỉ có hầm chỉ huy của Thường trực Ủy ban hành chính tỉnh là kiên cố và chắc chắn hơn cả.

Di tích hầm trú ẩn, nơi làm việc của Thường trực Ủy ban hành chính tỉnh Thanh Hóa được Ủy ban nhân dân tỉnh xếp hạng di tích lịch sử cách mạng tại quyết định số 2620/QĐ – UBND, ngày 30/8/2007; đây là chứng tích lịch sử ghi nhận những sự kiện đã diễn ra trong thời kỳ chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở Thanh Hoá. Là chứng tích còn lại khá ít ỏi của một thời ác liệt vừa làm việc, vừa sẵn sàng chiến đấu của quân và dân xứ Thanh.

Trần Ngọc Tùng

Thơ: Tình đời

Mừng ngày Nhà giáo Việt Nam

Tự hào biết mấy muôn vàn kính yêu!

Miệt mài chăm chút sớm chiều

Ươm bao hạt giống, ủ nhiều ước mơ

Lặng thầm như những chuyến đò

Chở bao thế hệ học trò qua sông

Chắp bao đôi cánh sổ lồng

Nuôi bao măng lớn nối dòng tre pheo

Trải bao sóng gió ngặt nghèo

Thầy cô chẳng quản gieo neo thác ghềnh

Tình yêu dành cả môn sinh

Bao la biển cả, thắm tình mẹ cha

Ngày vui kính tặng đóa hoa

Chút lòng thơm thảo – cùng là nghĩa ân

Mong thầy cô mãi thanh xuân

Cho chồi đâm lộc vang ngân tình đời.

Nguyễn Thị Thúy (St)

Nguồn tuyển tập thơ "Quê hương Núi Đọ sông Chu, tập IV" NXB Thanh Hóa năm 2010.

BẢN TIN THÁNG 11.2018

Đăng lúc: 05/12/2018 (GMT+7)
100%

HƯỚNG DẪN - CHỈ ĐẠO

Quy đnh mi v tuyn chn và gi công dân nhp ngũ

Ngày 04/10/2018, Bộ Quốc phòng ban hành Thông tư số 148/2018/TT-BQP quy định tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ (thay thế Thông tư số140/2015/TT-BQPngày 16/12/2015 của Bộ Quốc phòng quy định tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ).

Thông tư này quy định tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ (gọi chung là tuyển quân). Thông tư này áp dụng với ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân có liên quan trong công tác tổ chức, thực hiện tuyển quân.

1. Nguyên tắc, yêu cầu tuyển quân.

Thực hiện đúng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách,pháp luậtcủa Nhà nước và quy trình, quy định trong công tác tuyển quân. Tuyển đủ số lượng, bảo đảm chất lượng, lấy tiêu chuẩn từ cao xuống thấp, thực hiện dân chủ, công bằng, công khai, an toàn, tiết kiệm. Đề cao trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân nhằm nâng cao chất lượng công tác tuyển quân.

Chú trọng tuyển chọn và gọi nhập ngũ những công dân đã tốt nghiệp đại học, cao đẳng, người dân tộc thiểu số để nâng cao chất lượng xây dựng lực lượng thường trực, lực lượng dự bị động viên, góp phần tạo nguồn xây dựng cơ sở chính trị ở địa phương vững mạnh, củng cố quốc phòng an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

2. Tiêu chuẩn tuyển quân.

Công dân có tuổi đời từ đủ 18 tuổi đến hết 25 tuổi; là công dân nam được đào tạo trình độ cao đẳng, đại học đã được tạm hoãn gọi nhập ngũ trong thời gian một khóa đào tạo của một trình độ đào tạo thì tuyển chọn và gọi nhập ngũ đến hết 27 tuổi.

Không gọi nhập ngũ vào Quân đội những công dân có sức khỏe loại 3 tật khúc xạ về mắt (cận thị 1,5 diop trở lên, viễn thị các mức độ); nghiện ma túy, nhiễm HIV/AIDS.

Về tiêu chuẩn văn hóa, tuyển chọn và gọi nhập ngũ những công dân có trình độ văn hóa lớp 8 trở lên, lấy từ cao xuống thấp. Những địa phương có khó khăn không đảm bảo đủ chỉ tiêu giao quân thì báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định được tuyển chọn số công dân có trình độ văn hóa lớp 7.

Các xã thuộc vùng sâu, vùng xa, vùng điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật; đồng bào dân tộc thiểu số dưới 10.000 người thì được tuyển không quá 25% công dân có trình độ văn hóa cấp tiểu học, còn lại là THCS trở lên.

3. Trường hợp được hoãn nhập ngũ.

Chưa đủ sức khoẻ phục vụ tại ngũ theo kết luận của hội đồng khám sức khoẻ;

Là lao động duy nhất phải trực tiếp nuôi dưỡng thân nhân không còn khả năng lao động hoặc chưa đến tuổi lao động; trong gia đình bị thiệt hại nặng nề về người và tài sản do tai nạn, thiên tai, dịch bệnh, nguy hiểm gây ra được UBND xã, phường, thị trấn xác nhận;

Một con của bệnh binh, người nhiễm chất độc da cam suy giảm khả năng lao động từ 61% đến 80%;

Có anh, chị hoặc em ruột là hạ sĩ quan, binh sĩ đang phục vụ tại ngũ; hạ sĩ quan, chiến sĩ thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân;

Người thuộc diện di dân, giãn dân trong 3 năm đầu đến các xã đặc biệt khó khăn theo dự án phát triển kinh tế, xã hội của Nhà nước do UBND cấp tỉnh trở lên quyết định;

Cán bộ, công chức, viên chức, thanh niên xung phong được điều động đến công tác, làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật;

Đang học tại cơ sở giáo dục phổ thông; đang được đào tạo trình độ đại học hệ chính quy thuộc cơ sở giáo dục đại học, trình độ cao đẳng hệ chính quy thuộc cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong thời gian một khoá đào tạo của một trình độ đào tạo.

4. Trường hợp được miễn nhập ngũ.

Là con của liệt sĩ, con thương binh hạng một; một anh hoặc một em trai của liệt sĩ;

Một con của thương binh hạng hai; một con của bệnh binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; một con của người nhiễm chất độc da cam suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; Người làm công tác cơ yếu không phải là quân nhân, Công an nhân dân;

Cán bộ, công chức, viên chức, thanh niên xung phong được điều động đến công tác, làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn từ 24 tháng trở lên.

Thông tư quy định, danh sách công dân thuộc diện tạm hoãn và miễn gọi nhập ngũ phải được niêm yết công khai tại trụ sở UBND xã, cơ quan, tổ chức trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày chủ tịch UBND cấp huyện ký quyết định tuyển quân.

Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày20/11/2018.

Nguyễn Xuân Toàn - CTV Ban Chỉ huy QS huyện

Hướng dẫn thực hiện hỗ trợ kích cầu kiên cố hóa giao thông và kênh mương nội đồng giai đoạn 2018 - 2021

Ngày 04/10/2018, UBND huyện Thiệu Hóa ban hành Hướng dẫn số 1393/HD-UBND về việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 39/2017/NQ-HĐND, ngày 29/12/2017 của HĐND huyện về việc hỗ trợ kích cầu kiên cố hóa giao thông và kênh mương nội đồng huyện Thiệu Hóa giai đoạn 2018 - 2021. Ban Biên tập Bản tin nội bộ trích giới thiệu nội dung của Hướng dẫn như sau:

I. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng.

1. Phạm vi điều chỉnh. Hướng dẫn thực hiện Nghị quyết số 39/2017/NQ-HĐND của HĐND huyện về việc triển khai thực hiện hỗ trợ kích cầu kiên cố hóa giao thông và kênh mương nội đồng gồm: Các điều kiện đáp ứng trong việc nhận hỗ trợ kinh phí kích cầu; thời gian hỗ trợ; mức hỗ trợ; thành phần hồ sơ đề nghị hỗ trợ.

2. Đối tượng và điều kiện hỗ trợ.

- Đối tượng hỗ trợ: UBND các xã, thị trấn đầu tư xây dựng kiên cố hóa đường giao thông và hệ thống kênh mương nội đồng.

- Điều kiện hỗ trợ: (1). Đường giao thông nội đồng: Chiều dài tuyến đạt từ 300m trở lên; chiều rộng nền đường từ 4,0÷6,0m; chiều rộng mặt đường 3,0÷4,5m; kết cấu mặt đường đổ bê tông mác 200, đá 1x2, dày 15cm trở lên. (2) Đối với kênh mương (kênh tưới) nội đồng: Chiều dài tuyến từ 300m trở lên; kích thước mặt cắt ngang (bxh) phạt đạt từ (0,3x0,35)m trở lên để đảm bảo diện tích tưới từ 10ha trở lên; kết cấu xây gạch hoặc đổ bê tông.

II. Mức hỗ trợ và thời gian hỗ trợ.

1. Mức hỗ trợ: 100 triệu đồng/km (hỗ trợ tiền mua nguyên vật liệu xây dựng công trình).

2. Thời gian hỗ trợ: Đường giao thông, kênh mương xây dựng mới, hoàn thành từ ngày 01/01/2018 đến hết ngày 30/6/2021.

III. Trình tự, thủ tục đề nghị hỗ trợ.

1. UBND xã lập báo cáo đăng ký kế hoạch đầu tư xây dựng kiên cố hóa đường giao thông và kênh mương nội đồng cho năm tiếp theo gửi Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trước ngày 30/10 hàng năm (theo mẫu) để tổng hợp, báo cáo UBND, HĐND huyện.

2. Trên cơ sở kính phí được HĐND huyện giao, UBND huyện phân bổ kinh phí cho UBND các xã từ đầu năm để tổ chức triển khai thực hiện và hoàn thành việc đầu tư xây dựng trong năm giao vốn (Riêng năm 2018, UBND các xã, thị trấn thực hiện đầu tư hoàn thành công trình báo cáo UBND huyện).

Kính phí hỗ trợ cấp ứng trước 70% số kính phí được phân bổ, phần còn lại được cấp sau khi các phòng chuyên môn kiểm tra, xác nhận đã đầu tư hoàn thành công trình.

3. UBND các xã, thị trấn: Có trách nhiệm thực hiện đầu tư hoàn thành công trình trong năm kế hoạch, báo cáo kết quả hoàn thành công trình chậm nhất trước ngày 01/11 hàng năm (riêng năm 2021 trước ngày 05/7/2021) về UBND huyện qua Trung tâm hành chính công huyện.

Thành phần hồ sơ đề nghị hỗ trợ gồm: Tờ trình của UBND xã về báo cáo kết quả và đề nghị kiểm tra thi công hoàn thành công trình (theo mẫu); Hồ sơ thiết kế + dự toán đã được UBND xã phê duyệt; Biên bản nghiệm thu, bàn giao đưa công trình vào sử dụng (theo mẫu).

4. Khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các phòng: Kinh tế và Hạ tầng, Tài chính – Kế hoạch tổ chức kiểm tra, báo cáo UBND huyện phê duyệt kinh phí hỗ trợ cho UBND các xã, chậm nhất không quá 30 ngày kể từ ngày kiểm tra.

IV. Tổ chức thực hiện.

1. Phòng Nông nghiệp & PTNT: Chủ trì phối hợp với Phòng Kinh tế - Hạ tầng, Tài chính – Kế hoạch: Tham mưu, đề xuất giao chỉ tiêu kế hoạch vốn hỗ trợ cho các đơn vị. Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện hỗ trợ đối với các công trình ở các xã bảo đảm đúng các tiêu chí theo quy định và kiểm tra kết quả đầu tư hoàn thành của các xã.

2. Phòng Tài chính - Kế hoạch: Theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra và đôn đốc các xã, thị trấn thực hiện việc quản lý, sử dụng, thanh quyết toán kinh phí hỗ trợ kích cầu kiên cố hóa giao thông và kênh mương nội đồng theo chế độ quản lý tài chính hiện hành.

3. Phòng Kinh tế - Hạ tầng: Thẩm định Báo cáo kinh tế - kỹ thuật công trình.

4. UBND các xã, thị trấn: Sử dụng nguồn kinh phí đúng mục đích (mua nguyên vật liệu để xây dựng các công trình đáp ứng các tiêu chí hỗ trợ của HĐND huyện), tổ chức thực hiện các công trình đảm bảo tiến độ, chất lượng, hiệu quả và thực hiện thanh, quyết toán theo đúng các quy định hiện hành.

Lập kế hoạch đầu tư các công trình đáp ứng tiêu chí hỗ trợ của HĐND huyện dự kiến thực hiện trong năm tiếp theo trên cơ sở khả năng huy động nguồn đối ứng của địa phương.

Thực hiện đầu tư hoàn thành công trình trong năm kế hoạch, báo cáo kết quả hoàn thành công trình chậm nhất trước ngày 01/11 hàng năm về UBND huyện. Trường hợp không thực hiện được việc xây dựng các công trình (vì lý do khách quan), UBND các xã phải báo cáo UBND huyện bằng văn bản trước ngày 30/7 trong năm kế hoạch, khi UBND huyện chấp thuận mới được thực hiện.

Không hoàn thành đúng yêu cầu đề ra thì chủ tịch UBND xã phải chịu trách nhiệm trước chủ tịch UBND huyện và xem xét bị thu hồi phần kinh phí thực hiện sai.

- Tổ chức thực hiện nghiêm quy định tại Quyết định số 80/2005/QĐ-TTg, ngày 18/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ về Quy chế giám sát đầu tư của cộng đồng; Nghị định số 84/2015/NĐ-CP, ngày 30/9/2015 của Chính phủ về giám sát và đánh giá đầu tư; Văn bản số 813-CV/TU, ngày 20/3/2014 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về triển khai thực hiện Quyết định số 217-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị về ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội; tăng cường công tác phối hợp giữa các chủ đầu tư với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp.

4. Đề nghị Ủy ban MTTQ và đoàn thể cấp huyện:

Giám sát thực hiện đầu tư xây dựng kiên cố hóa giao thông và kênh mương nội đồng ở các xã thị trấn theo chính sách hỗ trợ kích cầu tại Nghị quyết số 39/2017/NQ-HĐND, ngày 29/12/2017 của HĐND huyện Thiệu Hóa.

Hướng dẫn và chỉ đạo Ủy ban MTTQ và đoàn thể cấp xã tổ chức giám sát cộng đồng đầu tư xây dựng công trình, tham gia các buổi họp dân, niêm yết theo Phụ lục kèm theo Hướng dẫn.

UBND huyện yêu cầu các phòng chuyên môn có liên quan, Kho bạc Nhà nước Thiệu Hóa, UBND các xã, thị trấn, thủ trưởng các đơn vị có liên quan triển khai thực hiện tốt nội dung trên.

Tăng cường kiểm soát tải trọng phương tiện vận tải đường bộ

Ngày 13/11/2018, Ban An toàn giao thông (ATGT) huyện ban hành Kế hoạch số 889/KH-UBND về tăng cường kiểm soát tải trọng, kích thước thùng hàng và niêm yết tên doanh nghiệp đối với phương tiện vận tải đường bộ trên địa bàn huyện Thiệu Hóa những tháng cuối năm 2018. Ban Biên tập Bản tin nội bộ trích giới thiệu nội dung chính của Kế hoạch như sau:

I. Tuyến, địa bàn, đối tượng trọng điểm.

1. Tuyến, địa bàn trọng điểm: Tuyến tỉnh lộ 515, 515b, 515c, 502, 506b, 516c; các tuyến đường huyện, đường liên xã, tuyến đê trung ương. Địa bàn thị trấn Vạn Hà, xã Thiệu Toán, Thiệu Đô, Thiệu Ngọc, Thiệu Vũ, Thiệu Tiến.

2. Đối tượng và hành vi tập trung đấu tranh.

2.1. Đối tượng: Xe ô tô tải, tải ben vi phạm quy định về vận tải đường bộ.

2.2. Hành vi vi phạm tập trung đấu tranh: Chở hàng quá trọng tải cho phép, chở hàng vượt quá kích thước thành thùng xe (chiều rộng, chiều dài, chiều cao); chở hàng để rơi vãi trên đường; tự ý cơi nới thành thùng (cải tạo kết cấu, hình dáng, kích thước không đúng kích thước của nhà sản xuất).

Không có đăng ký xe; Giấy chứng nhận hoặc tem kiểm định ATKT &BVMT đã hết hạn, không đúng số khung số máy hoặc bị tẩy xóa; xe quá niên hạn sử dụng; không có, không mang giấy phép lái xe hoặc sử dụng giấy phép lái xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp; có giấy phép lái xe nhưng không phù hợp với loại xe đang điều khiển.

Không niêm yết hoặc niêm yết không chính xác, đầy đủ tên, số điện thoại của đơn vị kinh doanh vận tải hàng hóa, khối lượng bản thân xe, khối lượng hàng hóa chuyên chở, khối lượng toàn bộ cho phép tham gia giao thông trên cánh cửa xe ô tô tải.

II. Nội dung, biện pháp tiến hành.

1. Công an huyện: Huy động tối đa lực lượng CSGT-TTCĐ tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát trên các tuyến đường tỉnh, đường huyện, những vị trí có các mỏ, bãi vật liệu (cát, đá …); chỉ đạo huy động lực lượng Công an xã, thị trấn tham gia tuần tra, xử lý vi phạm theo Nghị định 27/2010/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư 47/2011/TT-BCA của Bộ Công an. Xây dựng kế hoạch bố trí lực lượng tuần tra, kiểm soát chốt tại các điểm sử dụng cân xách tay theo phương án số 219/PA-BATGT ngày 15/6/2015 của UBND, Ban ATGT huyện về “Quản lý và sử dụng cân xách tay để kiểm soát tải trọng xe trên địa bàn huyện Thiệu Hóa”.

Làm tốt chức năng tham mưu cho UBND, Ban ATGT huyện về xử lý phương tiện xe ô tô chở hàng quá tải trọng, kích thước thùng hàng và niêm yết tên doanh nghiệp đối với phương tiện vận tải đường bộ; chỉ đạo lực lượng công an xã, thị trấn phối hợp làm tốt chức năng tuyên truyền, ngăn chặn, xử lý kịp thời và nghiêm túc đối với các hành vi vi phạm.

Phối hợp với chính quyền cơ sở tổ chức cho chủ phương tiện vận tải ben ký cam kết chấp hành nghiêm các quy định về kiểm soát tải trọng và kích thước thành thùng hàng (theo mẫu 01) và tổ chức cho chủ các mỏ khai thác, chủ bến, bãi ký cam kết không để phương tiện xuất phát từ mỏ, bến, bãi vi phạm về quá khổ, quá tải tham gia giao thông trên đường bộ (theo mẫu 02).

Thông báo công khai số điện thoại trực ban 24/24h của Công an huyện Thiệu Hóa (ĐT: 0237.3842094) để nhân dân tham gia giám sát, phát hiện, thông tin, tố giác vi phạm về chở quá tải trọng, vi phạm kích thước thùng hàng lưu thông trên các tuyến đường bộ thuộc địa bàn huyện.

Khi xử lý vi phạm chở quá tải, quá niên hạn sử dụng, chủ động rà soát nguồn hàng, công trình xây dựng đang thi công, đề xuất Ban ATGT huyện có thông báo đến Sở Tài nguyên môi trường và các cơ quan hữu quan phối hợp xử lý việc ngừng cấp phép khai thác, thi công xây dựng theo quy định của pháp luật.

2. Phòng Kinh tế và Hạ tầng: Tổ chức lực lượng kiểm tra, giám sát, yêu cầu các đơn vị kinh doanh kho, bãi hàng hóa; mỏ, bãi tập kết cát, đá cam kết và thực hiện xếp hàng hóa lên ô tô theo đúng quy định tại Thông tư số 35/2013/TT-BGTVT, yêu cầu người có trách nhiệm của đơn vị kinh doanh phải ký xác nhận việc xếp hàng hóa vào Giấy vận tải sau khi xếp hàng xong theo quy định tại Thông tư số 63/2014/TT-BGTVT. Yêu cầu các chủ mỏ, VLXD cam kết không bán vật liệu cho xe chở quá tải trọng cho phép, kiểm tra, tổng hợp và giám sát thực hiện cam kết. Nếu các chủ mỏ, bãi, chủ công trình để phương tiện xe tải ben chở quá tải trọng từ kho, bến, bãi, mỏ, công trình đang thi công ra tham gia giao thông, thì tập hợp vi phạm và tham mưu cho Ban ATGT huyện có văn bản thông báo đến Sở Tài nguyên môi trường, các cơ quan hữu quan phối hợp xử lý việc ngừng cấp phép khai thác, thi công xây dựng.

Tập trung tiến hành rà soát, thống kê biển báo trên các tuyến đường, tuyến đê huyện quản lý, bổ sung đầy đủ các biển báo hạn chế tải trọng theo quy định; khảo sát, sửa chữa kịp thời các tuyến đường được phân cấp để đảm bảo TTATGT.

Hướng dẫn các địa phương tổ chức quản lý các tuyến đường giao thông nông thôn, đường đê kết hợp giao thông, đường vào các mỏ khai thác đá, cát theo tải trọng của xe ô tô.

3. Phòng NN và PT nông thôn: Có trách nhiệm chỉ đạo lực lượng chuyên trách quản lý đê phối hợp với UBND các xã, thị trấn có đê và các ngành chức năng liên quan phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời tình trạng phương tiện chở quá tải trọng cho phép đi trên đê và các hành vi vi phạm pháp luật về đê điều.

4. Phòng Tài nguyên và Môi trường: Có trách nhiệm yêu cầu các doanh nghiệp khai thác cát, đá trên địa bàn huyện phải thực hiện đúng cam kết đã ký không xếp hàng quá tải trọng trên phương tiện; yêu cầu không tiếp nhận phương tiện vận chuyển hết niên hạn sử dụng, quá thời hạn kiểm định. Tham mưu cho Chủ tịch UBND huyện, các ngành chức năng tỉnh đình chỉ có thời hạn hoặc thu hồi giấy phép khai thác đối với những đơn vị vi phạm xếp hàng lên phương tiện quá tải trọng cho phép.

5. Ủy ban nhân dân xã, thị trấn: Tổ chức tuyên truyền đến các chủ phương tiện, chủ đại lý vật liệu, chủ mỏ, đá, đất, cát, chấp hành tốt quy định về tải trọng của phương tiện vận chuyển khi lưu thông trên các tuyến đường, không đưa các phương tiện ô tô hết niên hạn sử dụng, hết hạn kiểm định tham gia hoạt động giao thông. Thường xuyên thông báo trên hệ thống loa truyền thanh của xã, thị trấn đối với các chủ phương tiện, chủ đại lý có hành vi vi phạm; đồng thời biểu dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân có ý thức chấp hành tốt.

Đối với Công an xã, thị trấn thực hiện theo Nghị định 27/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định việc huy động lực lượng cảnh sát khác và Công an xã, thị trấn phối hợp với CSGT đường bộ tham gia tuần tra, kiểm soát xử lý về ATGT và Thông tư số 47/2011/TT-BCA ngày 02/7/2011 của Bộ Công an về việc hướng dẫn chi tiết một số điều của Nghị định số 27/2010/NĐ-CP.

Đối với các tuyến đường trên địa bàn huyện tiến hành tuần tra, kể cả tuần tra vũ trang nếu phát hiện các phương tiện dừng đỗ vi phạm tải trọng, hoặc xe ô tô hết niên hạn sử dụng, hết hạn kiểm định yêu cầu lái xe xuất trình giấy tờ và báo cáo về công an huyện để phối hợp xử lý.

III. Tổ chức thực hiện.

Kế hoạch thực hiện từ ngày 10/11/2018 đến 31/12/2018.

Ban Biên tập

TIN TỨC - SỰ KIỆN NỔI BẬT

Tình hình kinh tế - xã hội, quốc phòng – an ninh, công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị tháng 10 năm 2018

1. Tình hình kinh tế - xã hội

Sản xuất nông nghiệp: Tập trung chỉ đạo nhân dân thu hoạch diện tích lúa mùa 2018, triển khai sản xuất vụ đông, toàn huyện gieo trồng vụ đông được: 1.926,7 ha, đạt tỷ lệ 77% KH; trong đó cây ngô 1.150,6 ha; cây đậu tương 108,2 ha; đậu tương rau 12,8 ha; cây khoai lang 118,8 ha; cây ớt 115,5 ha; khoai tây 56,6 ha; cây rau màu các loại 364,2 ha.

Công tác xây dựng nông thôn mới: được quan tâm chỉ đạo, hoàn thiện hồ sơ cho 5 xã Thiệu Chính, Thiệu Minh, Thiệu Tân, Thiệu Vũ, Thiệu Duy đề nghị tỉnh kiểm tra công nhận đạt chuẩn NTM trong năm 2018.

Sản xuất công nghiệp, TTCN và xây dựng: chỉ đạo hoàn thiện điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn, giai đoạn 2017 -2020 trình HĐND huyện quyết nghị. Chỉ đạo đẩy nhanh các dự án như: Đường giao thông từ Thiệu Phú đi Thiệu Quang, đường 515 Ba Chè đi Thiệu Toán, đường vào Bệnh vin Đa khoa huyện, Trụ sở Ủy ban MTTQ và các đoàn thể huyện, Trạm bơm xã Thiệu Giao, cải tạo nâng cấp kênh Đô Cương.

Công tác quản lý Tài nguyên - Môi trường: tiếp tục tăng cường chỉ đạo làm tốt công tác quản lý khai thác, vận chuyển, kinh doanh cát trên địa bàn huyện; chỉ đạo thu hồi và chuyển mục đích sử dụng đất cho các xã đấu giá theo kế hoạch, quan tâm chỉ đạo làm tốt công tác môi trường.

Hoạt động Giáo dục; Văn hoá thông tin - Thể dục Thể thao; Y tế, an sinh xã hội: tổ chức thành công Hội nghị trao đổi kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi; chuẩn bị các điều kiện tuyển chọn và bồi dưỡng học sinh giỏi các môn văn hóa lớp 9 THCS cấp tỉnh; đề nghị tỉnh kiểm tra công nhận thêm 8 trường. Các ngành chức năng, các địa phương tập trung tuyên truyền kỷ niệm và tổ chức tốt các ngày kỷ niệm trọng thể; tổ chức thành công giải bóng đá tranh cúp Huda năm 2018. Tiếp tục nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân; triển khai thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch tại các xã, thị trấn. Tổ chức rà soát hộ nghèo năm 2018, đến nay toàn huyện còn 1.996 hộ, giảm 961 hộ, tỷ lệ hộ nghèo 4,3%, hộ cận nghèo 11,59%. Tiếp tục hướng dẫn hoàn thiện hồ sơ và cấp kinh phí hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà theo Quyết định 22/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

2. Công tác quốc phòng - an ninh

Chỉ đạo các lực lượng vũ trang duy trì nghiêm trực chỉ huy, trực ban, trực SSCĐ. Tổ chức tổng kết công tác tuyển quân năm 2018, triển khai nhiệm vụ tuyển quân năm 2019. Làm tốt công tác chính sách hậu phương quân đội. Công an bám sát cơ sở giải quyết kịp thời các vụ việc xảy ra. Tăng cường phòng ngừa và trấn áp tội phạm, trọng tâm là tội phạm cờ bạc, ma túy, trộm cắp tài sản...Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ổn định; trong tháng xảy ra 04 vụ, việc. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả phương án chống xe quá tải. Tiếp tục phối hợp chỉ đạo các xã, thị trấn giải tỏa hành lang ATGT.

3. Công tác xây dựng Đảng và hệ thông chính trị

Ban Thường vụ Huyện ủy tổ chức Hội nghị cập nhật kiến thức mới theo Quy định 164-QĐ/TW (khóa XI) của Bộ Chính trị về công tác xây dựng Đảng cho cán bộ lãnh đạo quản lý; chỉ đạo tổ chức tọa đàm kỷ niệm 70 năm ngày thành lập ngành Kiểm tra Đảng (16/10/1948 - 16/10/2018); làm quy trình bổ sung cấp ủy viên cơ sở còn thiếu; thành lập Đoàn kiểm tra, kiểm tra theo kế hoạch. UBKT các cấp tăng cường kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng.

Thường trực Huyện ủy cho ý kiến làm quy trình bổ nhiệm lại hiệu trưởng, hiệu phó các nhà trường phổ thông cơ sở theo quy định; chỉ đạo làm quy trình chuẩn bị tổ chức thi tuyển chọn hiệu trưởng các nhà trường còn thiếu. Cho ý kiến nhận xét, đánh giá cán bộ năm 2018 đối với cán bộ song quản; chỉ đạo hoàn thiện hồ sơ đề nghị kết nạp Đảng cho 25 quần chúng ưu tú. Chỉ đạo kiện toàn các cấp ủy chi bộ sáp nhập theo Nghị quyết HĐND và Quyết định UBND tỉnh. Chỉ đạo giải quyết tình hình sau kết luận điều tra tại Thiệu Công và giải quyết đơn thư tại thị trấn Vạn Hà.

HĐND huyện tổ chức thành công kỳ họp thứ 10 khóa XIII. Thường trực HĐND, các ban của HĐND tổ chức cuộc giám sát theo kế hoạch, chất lượng các cuộc giám sát được nâng lên.

UBND các cấp quyết liệt chỉ đạo điều hành, nhất là trong lĩnh vực quản lý tài nguyên khoáng sản, khai thác cát trái phép, xe quá tải; đôn đốc các công trình dự án chậm tiến độ, tích cực đôn đốc thực hiện sau thanh tra; chỉ đạo Công an huyện điều tra sai phạm về đất đai dẫn đến khiếu kiện đông người tại xã Thiệu Công; chỉ đạo giải quyết các sai phạm tại Thiệu Thành.

Hệ thống dân vận các cấp tham mưu cho cấp uỷ kiểm tra nắm tình hình đời sống nhân dân; tổ chức kiểm tra thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. MTTQ huyện phối hợp với các ban, ngành chức năng tổ chức hội nghị vận động cán bộ, công chức, viên chức và toàn thể nhân dân trong huyện ủng hộ đồng bào bị lũ lụt; thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. MTTQ và các đoàn thể cấp huyện, vận động hội viên, đoàn viên tích cực làm cây vụ đông, chuyển đổi ruộng đất, xây dựng nông thôn mới; tham mưu giải quyết tình hình cơ sở.

Nguyễn Quang Thọ

Mặt trận Tổ quốc huyện Thiệu Hóa đẩy mạnh hoạt động hỗ trợ người nghèo trên địa bàn huyện

Hưởng ứng lời kêu gọi của Thủ Tướng Chính phủ “Cả nước chung tay vì người nghèo, không để ai ở lại phía sau”. MTTQ từ huyện đến cơ sở đã có nhiều hoạt động hỗ trợ hộ nghèo trên địa bàn huyện như: Kiện toàn Ban Vận động Quỹ “Vì người nghèo”, xây dựng kế hoạch, hướng dẫn các xã, thị trấn chủ trì, phối hợp với các tổ chức thành viên bằng nhiều hình thức tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân, cán bộ công chức, viên chức, người lao động, lực lượng vũ trang, các cơ quan, doanh nghiệp trên địa bàn, con em thành đạt xa quê tích cực tham gia đóng góp ủng hộ, giúp đỡ người nghèo vươn lên thoát nghèo bền vững; tư vấn cho các hộ nghèo trong trồng trọt, chăn nuôi, sản xuất, kinh doanh; tổ chức các phong trào xóa đói, giảm nghèo. Hội Liên hiệp phụ nữ huyện đã tín chấp với ngân hàng tạo điều kiện cho hàng nghìn lượt hộ gia đình vay gần 400 tỷ đồng để đầu tư sản xuất, kinh doanh; tặng 62 bê vàng cho 62 hộ khó khăn. Hội Nông dân huyện đã tín chấp với ngân hàng số tiền 432 tỷ đồng và phối hợp cung ứng hàng trăm tấn phân bón trả chậm cho các hộ nông dân sản xuất. Liên đoàn lao động huyện với phong trào vận động Quỹ “Mái ấm Công đoàn” hỗ trợ cho đoàn viên Công đoàn khó khăn làm được 21 nhà mái ấm Công đoàn, với tổng số tiềm 285 triệu đồng. Hội Người cao tuổi huyện với phong trào xây dựng “Câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau”, đến nay đã thành lập được 53 Câu lạc bộ ở 28 xã, thị trấn, với 3.210 thành viên tham gia, với tổng số tiền quỹ hơn 4,5 tỷ đồng đã giúp nhau phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo; tỷ lệ hộ nghèo của hội viên Người Cao tuổi lúc thành lập là 30%, đến nay hộ nghèo giảm xuống còn 19 %.

MTTQ các xã, thị trấn bằng nhiều hình thức kêu gọi con em xa quê ủng hộ vốn, vật nuôi, lương thực để các hộ nghèo tổ chức phát triển sản xuất xóa đói, giảm nghèo hiệu quả như: MTTQ xã Thiệu Giao trong 3 năm đã vận động được hơn 2 tỷ đồng, trong đó hơn 10 tấn gạo, 02 con bò; MTTQ xã Thiệu Minh vận động được hơn 300 triệu đồng vào Quỹ vì người nghèo của xã cho hộ nghèo vay không lãi và hỗ trợ các hộ nghèo làm vụ đông mỗi sào 100.000 đồng mua giống, vật tư sản xuất….

Qua 18 năm thực hiện, hàng nghìn hộ nghèo được hỗ trợ vay vốn phát triển sản xuất, trợ giúp khi khó khăn, hoạn nạn.Toàn huyện đã hỗ trợ làm mới được hơn 1000 nhà, hỗ trợ nâng cấp được gần 300 nhà Đại đoàn kết cho hộ nghèo; thường xuyên tổ chức thăm hỏi, các hộ nghèo, hộ khó khăn trong các dịp lễ, tết; hỗ trợ sách, v cho các học sinh nghèo đầu năm học, học sinh nghèo vượt khó, học giỏi; hỗ trợ khám chữa bệnh dài ngày. Từ năm 2001 đến nay MTTQ từ huyện đến cơ sở đã hỗ trợ cho các hoạt động “Vì người nghèo” và việc giảm nghèo trên địa bàn huyện với số tiền trị giá hơn 20 tỷ đồng.

Để thực hiện có hiệu quả việc hỗ trợ các hộ nghèo trong thời gian tới, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức thành viên cần đẩy mạnh công tác phối hợp, tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho nhân dân về ý nghĩa, mục tiêu xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh và giảm nghèo bền vững; trọng tâm là tuyên truyền, vận động nhân dân sáng tạo trong sản xuất, kinh doanh, tăng thu nhập cho gia đình, chi tiêu hợp lý, có kế hoạch, tiết kiệm để dành nguồn tích lũy để tái sản xuất và chỉnh trang nhà cửa; không tham gia các tệ nạn xã hội; đảm bảo vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm; tích cực học tập nâng cao trình độ dân trí, hiểu biết Pháp luật, nắm vững cơ chế, chính sách, khoa học kỹ thuật, phát triển kinh tế, quyết tâm thoát nghèo; xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc.

Lê Ngọc Hưng - UV Ban Thường trực UB MTTQ huyện

Tự hào ngôi trường mang tên tể tướng Nguyễn Quán Nho

Tháng 8 năm 1988 có một ngôi trường THPT được thành lập trên vùng đất nghèo của huyện Thiệu Hóa mang tên Tể tướng Nguyễn Quán Nho - Một Danh thần xứ Thanh thời Lê Trung Hưng. Trong suốt 30 năm xây dựng và trưởng thành các thế hệ cán bộ, giáo viên và học sinh trường THPT Nguyễn Quán Nho đã phấn đấu nỗ lực, dành được nhiều thành tích đáng trân trọng.

Trường THPT Nguyễn Quán Nho trước đây có tên gọi là Trường THPT Thiệu Yên 4 đặt tại xã Thiệu Quang, đáp ng nhu cầu học tập của con em 6 xã đông Bắc của huyện Thiệu Hóa và 3 xã Định Công, Định Thành và Định Hòa của huyện Yên Định. Những ngày đầu mới thành lập, nhà trường gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn, với 30 cán bộ, giáo viên, 12 lớp học, gần 400 học sinh. Đến nay nhà trường đã có 50 cán bộ, giáo viên và 880 học sinh. Cơ sở vật chất từng bước được quan tâm đầu tư. Hiện nhà trường có 23 phòng học kiên cố, 1 phòng máy, 1 phòng học tiếng anh đạt chuẩn. Từ năm 2016 đến nay, bằng nhiều nguồn vốn, nhà trường đã đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị, xây dựng khuôn viên... với tổng trị giá khoảng 2 tỷ đồng, đáp ứng nhu cầu dạy và học của giáo viên và học sinh. Nhà trường đã không ngừng tập trung củng cố, nâng cao chất lượng dạy và học. Đội ngũ giáo viên luôn tâm huyết, trách nhiệm với công việc, hết lòng vì học sinh thân yêu. Hiện nay, 100% giáo viên có trình độ đạt chuẩn và trên chuẩn; trong đó có 4 thạc sĩ, 3 giáo viên đang theo học cao học. Nhiều thầy cô đã đạt được những kết quả cao trong các cuộc thi giáo viên giỏi như: thầy Lê Hữu Thuấn có học sinh đạt giải nhất cấp Quốc gia, cô Lê Thị Phương nhiều năm liền có học sinh đạt giải cấp tỉnh, được Bộ GD&ĐT, CT UBND tỉnh tặng bằng khen, thầy Lê Minh Quang được Chính phủ tặng Bằng khen.

30 năm qua, với sự nỗ lực của thầy cô giáo và quyết tâm của các em học sinh, đến nay trường đã có hàng ngàn học sinh tốt nghiệp ra trường, đang công tác trên khắp mọi miền của Tổ quốc và nước ngoài. Nhiều người đã trở thành cán bộ quản lý các cấp, nhà nghiên cứu khoa học, doanh nhân thành đạt. Tiếp nối truyền thống, những năm gần đây, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT luôn đạt trên 99%. Hằng năm, nhà trường đều có từ 20 đến 70 học sinh đạt giải học sinh giỏi các môn văn hoá cấp tỉnh, xếp loại khá trong hơn 100 trường THPT trong tỉnh. Đặc biệt, năm 1994 có em Nguyễn Thị Phương đạt giải nhất cấp tỉnh và giải 3 Quốc gia môn sinh học lớp 11, năm 1995 đạt giải nhất quốc gia môn Sinh học lớp 12. Hằng năm, trường có hơn 60% học sinh lớp 12 đậu vào các trường ĐH, CĐ.

Với những nỗ lực và thành quả đạt được, nhiều năm liền, trường THPT Nguyễn Quán Nho và nhiều cá nhân được Bộ trưởng Bộ GD&ĐT, Sở GĐ- ĐT khen thưởng.

Phát huy truyền thống 30 năm qua. Trường THPT Nguyễn Quán Nho tiếp tục quán triệt sâu sắc và thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 29 về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT; thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, khắc phục mọi khó khăn, nỗ lực phấn đấu dạy tốt- học tốt để đạt thành tích cao hơn nữa, đóng góp vào sự nghiệp giáo dục và đào tạo chung, sớm đạt trường chuẩn quốc gia.

Trần Thanh Mai

Huyện Thiệu Hóa hoàn thành việc xây dựng xã đạt bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn đến năm 2020

Thực hiện Quyết định số 4667/2014/QĐ-BYT ngày 07/11/2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành “Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn đến năm 2020”; Quyết định số 1997/QĐ-UBND ngày 26/6/2012 của UBND tỉnh Thanh Hóa về phê duyệt Kế hoạch triển khai thực hiện “Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn 2011 - 2020” trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa; HĐND huyện đã ban hành Nghị quyết kích cầu hỗ trợ các xã, thị trấn xây dựng “Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn 2011 - 2016 và năm 2017 - 2018 với mức hỗ trợ 200 triệu đồng/địa phương; UBND huyện đã ban hành Quyết định số 3861/QĐ-UBND ngày 07/11/2012 về Kế hoạch triển khai thực hiện “Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn 2011 - 2020” trên địa bàn huyện Thiệu Hóa.

Được chỉ đạo của Sở Y tế, Thường trực Huyện ủy, HĐND, lãnh đạo UBND huyện, sự phối hợp của các ban, ngành, MTTQ và các đoàn thể, sự quyết tâm của đảng bộ và nhân dân các xã, thị trấn; sự cố gắng nỗ lực của cán bộ, nhân viên ngành y tế toàn huyện. Trong 6 năm qua, công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân và xây dựng Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã ở huyện Thiệu Hóa đã đạt được kết quả đáng kể.

Các hoạt động tuyên truyền đã huy động được sự tham gia của nhiều ban, ngành, đoàn thể và đông đảo nhân dân tại địa phương và con em xa quê góp phần xây dựng các tiêu chí đạt chuẩn.

Công tác đầu tư xây dựng, cải tạo nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị cho trạm y tế các xã, thị trấn từng bước được quan tâm. Từ tháng 11 năm 2012 đến tháng 11 năm 2018 đã đầu tư 51 tỷ 783 triệu đồng, trong đó: Ngân sách tỉnh 2,3 tỷ đồng; Ngân sách huyện 5,3 tỷ đồng; Sở y tế, Trung tâm y tế huyện 10 tỷ đồng; Ngân sách xã, thị trấn 32 tỷ 383 triệu đồng; Nguồn xã hội hóa khác 1 tỷ 800 triệu đồng. Một số địa phương dành nhiều kinh phí từ 1 tỷ đến trên 3 tỷ đồng đầu tư cho xây dựng mới, sửa chữa cơ sở hạ tầng trạm y tế như: Thiệu Hợp, Thiệu Nguyên, Thiệu Giao, Thiệu Quang, Thiệu Vận, Thiệu Thành, Thiệu Phúc, Thiệu Tâm… Một số địa phương huy động tốt nguồn kinh phí xã hội hóa, như: Thiệu Châu được Viện quân y 103 hỗ trợ 1 tỷ đồng; Thiệu Tân được Công ty Dầu khí Trung Trường Sơn Vũng Tàu hỗ trợ 400 triệu đồng; Thiệu Toán được con em sinh sống tại Thành Phố HCM hỗ trợ 400 triệu đồng mua sắm trang thiết bị y tế như máy Siêu âm, máy xét nghiệm nước tiểu, bộ tiểu phẩu, máy phát điện, giường bệnh, bàn nghế, xây dựng cơ sở vật chất…

Làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân: Phối hợp với Trường Đại học nữ EHA Hàn Quốc, Hội Thầy thuốc trẻ Việt nam, Hội cựu quân y của tỉnh, Cục quân y Hoa Kỳ, Hội Chữ thập đỏ các cấp, Hội tim mạch Hoa Kỳ, các doanh nghiệp, các đơn vị trong và ngoài tỉnh tham gia khám, chữa bệnh miền phí cho trên 5.500 lượt đối tượng nghèo, gia đình chính sách, gia đình có công với cách mạng…trị giá gần 2 tỷ đồng.

Các trạm y tế thực hiện tốt chức năng chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân; công tác quản lý nhà nước về y tế từng bước được thực hiện đồng bộ, chất lượng hoạt động khám, chữa bệnh cho nhân dân trong huyện ngày càng tốt hơn, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân trong tình hình mới. Công tác vệ sinh phòng dịch luôn đạt kết quả cao, không có các dịch bệnh lớn xảy ra.

Sau 6 năm, xây dựng "Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn đến năm 2020", đến nay 28/28 xã, thị trấn, đạt 100% kế hoạch, vượt tiến độ đề ra trước 2 năm, là một trong những huyện nằm trong tốp đầu toàn tỉnh.

Để thực hiện và duy trì Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã trong những năm tới, các cấp ủy, chính quyền ở huyện Thiệu Hóa tiếp tục quan tâm lãnh, chỉ đạo kiện toàn ban chăm sóc sức khỏe nhân dân, hàng năm đưa các chỉ tiêu y tế vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân. Tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, vệ sinh môi trường và an toàn thực phẩm; vệ sinh cá nhân và phòng chống dịch bệnh; nâng cao tỷ lệ người dân tham gia BHYT nhằm tiến tới BHYT toàn dân.

Ngành y tế tiếp tục thực hiện tốt quy chế chuyên môn, nêu cao tinh thần y đức cho cán bộ nhân viên, đổi mới và cải cách thủ tục hành chính trong khám chữa bệnh. Tiếp tục cử cán bộ đi đào tạo bác sĩ, đào tạo chuyên môn sâu trong thực hiện việc khám, điều trị cho nhân dân, nhất là tuyến cơ sở, đẩy mạnh công tác xã hội hóa y tế để công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân ngày càng được nâng lên.

Hách Xuân Thành - Trưởng Phòng Y tế huyện Thiệu Hóa

Lễ khai trương giai đoạn 1 Bệnh Vin Đa khoa Đại An

Sáng ngày 17/10, Bệnh viện đa khoa Đại An nằm trên QL 45, xã Thiệu Đô, huyện Thiệu Hóa đã chính thức khai trương đi vào hoạt động.

Tham dự buổi lễ có đồng chí Lê Xuân Đào - UVBTVHU, PCT UBND huyện, các đồng chí trong BTV Huyện ủy, lãnh đạo HĐND, UBND, UBMTTQ, trưởng các ban ngành đoàn thể huyện; lãnh đạo đảng ủy, UBND các xã, thị trấn; ông Lê Đình Hoàng – CTHĐQT – Giám đốc BVĐK Đại An và tập thể cán bộ công nhân viên của Bệnh viện.

Phát biểu tại buổi Lễ, đại diện Sở Y tế Thanh Hóa và đồng chí Phó chủ tịch UBND huyện nhấn mạnh: Nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của người dân ngày càng cao nhưng hệ thống khám chữa bệnh trên cả nước hiện chưa đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân. Do đó, Nhà nước kêu gọi mọi nguồn lực của xã hội, bao gồm nhà nước, tư nhân và các tổ chức xã hội khác cùng tham gia đóng góp công sức, vật chất để xây dựng hệ thống cơ sở khám chữa bệnh phục vụ người dân. Sự ra đời của Bệnh viện Đa khoa Đại An với trang thiết bị y tế hiện đại và đội ngũ cán bộ nhân viên y tế vững tay nghề sẽ đáp ứng tốt nhu cầu khám chữa bệnh của người dân trên địa bàn huyện, góp phần giảm tải cho các bệnh viện. Sở Y tế và huyện sẽ tạo điều kiện để bệnh viện phát triển, đáp ứng các yêu cầu về chuyên môn, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, tạo được uy tín với người dân. Đồng thời Sở Y tế và huyện yêu cầu Bệnh viện Đa khoa Đại An tổ chức hoạt động khám bênh theo quy định, đảm bảo các quy định về y đức; đẩy nhanh tiến độ xây dựng giai đoạn 2 của Bệnh viện để đồng thời thực hiện khám và điều trị bệnh nhân.

Bệnh Viện Đa khoa Đại An được Bộ Y tế cấp phép hoạt động từ ngày 10/10/2018 với mục đích khám, chữa bệnh. Bệnh Viện có các chuyên khoa và các dịch vụ kỹ thuật: Nội, Ngoại, Sản, Nhi; Tai - Mũi - Họng; Răng - Hàm - Mặt; Mắt; Da liễu; Phục hồi chức năng; Khám và tư vấn dinh dưỡng; Chẩn đoán ung thư sớm. Bệnh viện Đa Khoa Đại An hướng tới cung cấp dịch vụ chất lượng cao với đội ngũ bác sĩ, điều dưỡng, nhân viên hỗ trợ được đào tạo bài bản, có kinh nghiệm; phong cách phục vụ chuyên nghiệp, thân thiện; cơ sở vật chất khang trang, sạch sẽ; trang thiết bị hiện đại; kết quả khám, tư vấn điều trị chất lượng.

Phùng Thanh Tuyên

Lễ đón nhận danh hiệu Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Nghề đúc đồng cổ truyền làng Chè

Ngày 17/11/2018, UBND huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa đã long trọng tổ chức lễ đón nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Nghề đúc đồng cổ truyền làng Chè (Trà Đông). Về dự buổi lễ, có các đồng chí Nông Quốc Thành - Phó Cục trưởng, Cục Di sản văn hóa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Phạm Đăng Quyền - TUV, PCT UBND tỉnh; Hoàng Văn Toản - TUV, Bí thư HU - CT HĐND huyện; Đỗ Thị Toán - PBT Thường trực Huyện ủy; Trịnh Văn Súy PBT Huyện ủy - CT UBND huyện.

Nghề đúc đồng cổ truyền làng Chè có lịch sử hàng trăm năm lưu truyền qua nhiều thế hệ. Người làng Chè tôn vinh Thái sư Khổng Minh Không là ông tổ nghề đúc đồng. Trước năm 1945, hơn 80% số hộ trong làng làm nghề, cũng nhờ đó, nghề đúc đồng càng trở nên hưng thịnh và hình thành nhiều làng chuyên thu gom nguyên liệu phục vụ làng nghề, hoặc chuyên buôn bán, trao đổi các sản phẩm của làng nghề.Các sản phẩm được làm ra từ làng nghề rất đa dạng, phong phú, gồm đồ thờ cúng, tế lễ, đồ mỹ nghệ, tranh tứ linh, tứ quý... Đặc biệt, bằng sự tâm huyết, nỗ lực cố gắng của các nghệ nhân đúc đồng làng Chè đã nghiên cứu và đúc thành công trống đồng bằng phương pháp thủ công truyền thống, với nhiều kích cỡ khác nhau. Không chỉ có giá trị về mặt kinh tế, các sản phẩm thủ công truyền thống này còn có ý nghĩa đặc biệt trong việc bảo tồn về bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc. Nghề đúc đồng làng Chè với lịch sử lâu dài, truyền thống và kinh nghiệm sản xuất riêng, cùng trí tuệ dân gian được đúc kết qua nhiều thế hệ và vô số những sản phẩm thủ công tinh xảo... Cũng tại buổi lễ, đồng chí Nông Quốc Thành công bố Quyết định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận và đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Nghề đúc đồng cổ truyền tại Quyết định số 3325/QĐ-BVHTTDL, ngày 04/9/2018 cùng với 07 di sản văn hóa phi vật thể khác. Việc đón nhận danh hiệu di sản văn hóa phi vật thể nghề đúc đồng cổ truyền làng Chè là sự kiện có ý nghĩa to lớn đối với các nghệ nhân và nhân dân làng nghề. Qua đó ghi nhận giá trị văn hóa cổ truyền của cộng đồng địa phương, phản ánh sự đa dạng văn hóa, sáng tạo của con người. Đồng thời cũng đặt ra trách nhiệm lớn lao trong việc bảo tồn, gìn giữ và phát huy giá trị di sản này.

Phát biểu tại buổi lễ, đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh khẳng định nghề đúc đồng cổ truyền làng Chè có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc. Được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vinh danh di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, không chỉ là niềm tự hào của người dân làng Trà Đông, mà của cả tỉnh Thanh Hóa. Đồng thời cũng đặt ra cho người dân và chính quyền địa phương trách nhiệm lớn lao trong việc giữ gìn và phát huy giá trị di sản; giới thiệu, quảng bá sản phẩm văn hóa của làng nghề không chỉ khắp cả nước mà vươn xa đến nhiều nước trong khu vực và thế giới. Đồng chí PCT tỉnh nghị đề các sở, ngành, đơn vị liên quan và chính quyền huyện Thiệu Hóa, xã Thiệu Trung cần quan tâm và tạo mọi điều kiện cho các cơ sở đúc đồng, các nghệ nhân và nhân dân trong việc gìn giữ và phát triển nghề. tiếp tục phát huy để sản phẩm làng nghề nâng cao chất lượng giá trị văn hóa trở thành nền kinh tế quan trọng, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và là nơi thu hút khách hàng và khách tham quan du lịch

Trần Thanh Mai

HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

Xây dựng phong cách lãnh đạo của người đứng đầu theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về “Phong cách cách mạng, khoa học, năng động, sáng tạo”

Một yêu cầu quan trọng trong phong cách của người đứng đầu, người lãnh đạo là phải có sự thống nhất giữa tính đảng, tính nguyên tắc cao với tính năng động, sáng tạo, sự nhạy cảm với cái mới. “Trung với Đảng”, “trung với nước, hiếu với dân” là phẩm chất chính trị cơ bản, thể hiện trong mọi hoạt động của người lãnh đạo, quản lý. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, điều chủ chốt trong phong cách làm việc của cán bộ lãnh đạo là phải: “Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng. Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình.Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc”.

Nhiệt tình cách mạng là yếu tố cơ bản trong phẩm chất của người cán bộ đứng đầu, người lãnh đạo. Vì có nhiệt tình cách mạng, người cán bộ lãnh đạo mới say mê, tận tuỵ với công việc để tìm ra những phương án sáng tạo nhằm thực thi nhiệm vụ đạt hiệu quả cao. Tính cách mạng, lòng yêu nước, thương dân là động lực lớn thôi thúc người lãnh đạo, quản lý chuyên tâm, lo toan, tận tuỵ, say mê với công việc. Đồng thời, người lãnh đạo phải có sự tìm tòi sáng tạo, đề xuất được những ý kiến hay, những phương án tối ưu để thực thi nhiệm vụ đạt hiệu quả cao. Theo Hồ Chí Minh, cán bộ lãnh đạo, phải là những người vừa “hồng”, vừa “chuyên”, có đạo đức cách mạng, có tinh thần anh dũng, gương mẫu, chịu đựng gian khổ, hy sinh và có năng lực thực hiện nhiệm vụ được giao.

Hồ Chí Minh cho rằng, tính khoa học phải được đảm bảo bằng tri thức khoa học. Nhiệt tình cách mạng chỉ thực sự đem lại hiệu quả khi nó được thống nhất với các tri thức khoa học và trên cơ sở khoa học. Nhiệt tình cách mạng sẽ trở thành duy tâm, duy ý chí nếu thiếu tri thức khoa học. Thực tiễn cho thấy, có nhiệt tình mà thiếu tri thức khoa học sẽ dẫn tới sai lầm, chệch hướng, làm hỏng đường lối, chính sách, hành động trái quy luật, thậm chí dẫn đến phá hoại vô ý thức. Những chương trình, dự án, kế hoạch với những ý tưởng tốt đẹp, nhưng do thiếu tri thức dẫn đến thất bại, gây ra tổn thất nặng nề.

Để có tri thức khoa học, người cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu phải chịu khó học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ về chính trị, văn hoá, nghiệp vụ cũng như nắm được tình hình trong và ngoài nước. Chủ quan, tự mãn, ít nghiên cứu lý luận và thực tiễn nên gặp thuận lợi dễ lạc quan, gặp thành công sớm dễ mắc phải căn bệnh kiêu ngạo; khi gặp khó khăn thì dễ lúng túng, bị động, dẫn đến bi quan, dao động, lập trường cách mạng không vững… Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở cán bộ đảng viên nói chung, nhất là với cán bộ lãnh đạo: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”.

Học tập, nghiên cứu, “học và hành” theo tư tưởng Hồ Chí Minh chính là đảm bảo sự thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, nói đi đôi với làm. Cán bộ, đảng viên cần phải có lý luận lãnh đạo cần nắm chắc lý luận mới có thể hoàn thành nhiệm vụ của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định: “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”, “làm mà không có lý luận thì không khác gì đi mò trong đêm tối, vừa chậm chạp vừa hay vấp váp”.

Khẳng định vai trò của lý luận, Hồ Chí Minh chỉ rõ sự cần thiết phải biết liên hệ lý luận với thực tiễn trong công tác lãnh đạo. Vì: “Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”, nên lý luận mà xa rời thực tiễn thì sớm muộn sẽ dẫn tới bệnh giáo điều, sách vở, nên người cán bộ lãnh đạo phải nắm chắc lý luận, đồng thời qua kinh nghiệm làm việc, phải hiểu rõ sự vận động của các quan điểm lý luận trong thực tiễn, qua đó dự báo được những biến đổi của tình hình, của nhiệm vụ cách mạng, từ đó mới có thể thực hiện tốt vai trò lãnh đạo của mình.

Một trong những yêu cầu về phong cách làm việc của cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu là phải nắm chắc lý luận, nhưng không được “lý luận suông”, mà phải có năng lực vận dụng lý luận vào thực tiễn. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Học tập chủ nghĩa Mác - Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình; là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế ở nước ta”. Người chủ trương “phải gắn lý luận với công tác thực tế”. Mọi chủ trương, đường lối của Đảng một mặt phải xuất phát từ tình hình cụ thể, giải thích cho quần chúng hiểu và thực hiện các chủ trương, chính sách đó như thế “lý luận mới không tách rời thực tế”.

Trong mọi công tác, tùy theo hoàn cảnh cụ thể, người lãnh đạo có thể sử dụng nhiều hình thức, biện pháp khác nhau để hoàn thành chức trách, nhiệm vụ của mình. Tuy nhiên, cần có sự vững vàng, không thay đổi trong những vấn đề thuộc về nguyên tắc, đó là những vấn đề có tính chiến lược, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước là “bất biến, phải giữ vững như sắt đá”.

Cùng với kiên định về nguyên tắc, những vấn đề chiến lược, thì sách lược cách mạng, các hình thức, phương pháp, biện pháp, cách thức tiến hành phải mềm dẻo, linh hoạt, phù hợp với thực tế để có thể đạt kết quả cao nhất. Điều đó thuộc về bản lĩnh của người lãnh đạo, thực hiện “dĩ bất biến ứng vạn biến”, thể hiện sự linh hoạt trong hoạt động lãnh đạo của mình.

Theo Hồ Chí Minh, mục tiêu đặt ra phải được cụ thể trong từng giai đoạn. Tính bất biến, mục tiêu trong tất cả các giai đoạn của cách mạng là độc lập, thống nhất cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Trong bản Di chúc, Người nói lên mong muốn cuối cùng, cũng là mục tiêu chung của cuộc cách mạng là “xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”. Tuy nhiên, con đường đi đến mục tiêu đó là con đường đấu tranh lâu dài, đầy khó khăn, gian khổ. Người đứng đầu, người lãnh đạo cần sáng suốt, tỉnh táo, nhạy bén để xác định sách lược, hình thức, biện pháp thực hiện trong những hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể, trong mỗi bước đi, mỗi bước tiến lên của cách mạng.

Những nội dung xây dựng phong cách lãnh đạo nêu trên không nằm ngoài những quy định chung trong phong cách làm việc của cán bộ, đảng viên, đồng thời, có yêu cầu cao hơn, thể hiện vị trí, vai trò, trách nhiệm của người cán bộ, đảng viên trên cương vị lãnh đạo.

Nguyễn Thành Hưng

Thầy giáo Dương Văn Quang - Tấm gương sáng trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi

Nỗ lực tìm tòi, nghiên cứu để tìm ra phương pháp giảng dạy phù hợp với đối tượng học sinh, thầyDương Văn Quang - Giáo viêndạy môn Vật Lý,trường THCS Thiệu Hợpđã có nhiều thành tích trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, đạt nhiều giải cao trong các kỳ thi, đóng góp vào thành tích chung của Ngành giáo dục huyện nhà.

Năm 2005, tốt nghiệp Đại học sư phạm Vinh chuyên ngành Vật Lý, thầy giáo Quang được phân công về công tác tại trường THCS Thiệu Hợp.Là mộtngôi trường vùng nông thôn, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn; phụ huynh hầu hết đi làm ăn xa để con cái lại cho ông bà nên việc quan tâmđến chuyện học hành của con em còn hạn chế,phần nào ảnhhưởng đến chất lượng dạy học, nhất là việc phát hiện, bồi dưỡng học sinh giỏicủa nhà trường. Tuy nhiên, với lòng yêu nghề cùng tình thương yêu học sinh thầy Quang đãdành nhiều tâm huyết nghiên cứu, tìm tòi và đưa ra nhiều phương pháp giảng dạy khoa học để giúp học sinh hứng thú trong học tập, tiếp thu bài một cách tốt nhất.

Để rèn cho học sinh khả năng tự học, ở trên lớp thầy giảng những kiến thức cơ bản, còn lại gợi mở vấn đề cho các em về nhà tự đọc sách, tìm hiểu. Cách dạy không gò bó và vì tò mò muốn khám phá kiến thức, giúp các em học tập tốt hơn.Chia sẻ với chúng tôi về kinh nghiệm giảng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi, thầy Quang cho biết:Đối với công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, ngoài nền tảng kiến thức chuyên môn vững thì người làm công tác bồi dưỡng cần phát hiện sớm được những học sinh có tố chất tốt, thông minh và có niềm đam mê đối với môn học".

Từ phương pháp bồi dưỡng môn Vật Lý của thầy ngaynăm học đầu tiên trường có 5 học sinh tham gia học sinh giỏi thì có 4 em đạt giải và năm học nào thầy cũng có học sinh dự thi đạt giải. Nămhọc 2015-2016 thầy có 3 học sinh đạt giải cấp huyện, sau đó thi tỉnh cả 3 em đạt giải; năm học 2016-2017 trường đạt 4 giải; năm học 2017-2018 trường có 5 em đạt giải, trong đó có 1 giải nhì, 2 giải 3.

Vớinhững thành tích chuyên môn, thầy Quang nhiều năm đạt danh hiệu lao động tiên tiến, chiến sỹ thi đua cơ sở, giáo viên dạy giỏi các cấp, được các cấp tặng bằng khen, giấy khen.

Trần Thanh Mai

THÔNG TIN - TRAO ĐỔI KINH NGHIỆM

Thiệu Giang thực hiện tốt chuyển đổi ruộng đất theo nhóm hộ

Xã Thiệu Giang có 558 ha đất nông nghiệp, trước khi chuyển đổi ruộng đất, bình quân mỗi hộ có 2-3 thửa đất. Hiện trạng đó gây khó khăn cho công tác quy hoạch và ứng dụng các tiến bộ KHKT, cơ giới hóa vào sản xuất, chi phí sản xuất ở nhiều xứ đồng cao, ảnh hưởng đến thu nhập của nhân dân.

Giải quyết tình trạng trên, sau khi huyện Thiệu Hóa ban hành Nghị quyết 06 - NQ/HU, ngày 30/8/2016 của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện về tiếp tục vận động nhân dân chuyển đổi ruộng đất và chuyển đổi theo nhóm hộ, để nâng cao hiệu quả sử dụng đất, thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp (Nghị quyết 06), Đảng bộ xã Thiệu Giang cũng đã ban hành nghị quyết chuyên đề về lãnh đạo, chỉ đạo việc chuyển đổi ruộng đất gắn với xây dựng nông thôn mới. Xã tổ chức nhiều đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, tuyên truyền nghị quyết, quán triệt trong toàn Đảng bộ, chi bộ lấy ý kiến nhân dân, đồng thời tổ chức tuyên truyền thường xuyên, liên tục trên hệ thống đài truyền thanh, tạo sự đồng thuận trong nhân dân. Đảng ủy chỉ đạo UBND xã xây dựng Đề án “chuyển đổi ruộng đất” trên cơ sở điều tra chính xác hiện trạng đất đai, xác định đất quy hoạch giao thông nội đồng, tính toán khối lượng đào đắp, hệ số quy đổi cho toàn xã và từng địa bàn, đảm bảo hài hòa lợi ích của các gia đình và tập thể. Xã thành lập Ban chỉ đạo do đồng chí Bí thư Đảng ủy làm trưởng ban, UBND xã thành lập các tổ chuyên môn giúp việc: Tổ điều tra cơ bản, tổ quy hoạch, tổ chỉnh lý bản đồ.

Để chủ trương đến với người dân, UBND xã có văn bản hướng dẫn đến tận các thôn, thành lập các tiểu ban do đồng chí bí thư chi bộ trưởng thôn làm trưởng tiểu ban. Đồng thời, đảng ủy, phân công cấp ủy, thành viên Ban chỉ đạo của xã phụ trách các thôn. Đề án của xã được thực hiện theo quy trình 4 bước: Bàn thống nhất trong cấp ủy, chính quyền, ban chỉ đạo; họp UBND xã mở rộng đến các thôn làng; họp đảng ủy mở rộng đến các chi ủy, chi bộ; họp nhân dân các thôn phổ biến, quán triệt, bàn bạc thấu đáo, đảm bảo nguyên tắc dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra.

Với mục tiêu ruộng của nhân dân cơ bản đảm bảo tưới tiêu thuận lợi trong điều kiện bình thường và có đường giao thông nội đồng đủ rộng để máy móc nông nghiệp đến ruộng. Xã đã nâng cấp toàn bộ hệ thống thủy lợi nội đồng, đảm bảo cho nhân dân sản xuất ổn định, từng bước chuyển đổi cơ cấu cây trồng nâng cao hiệu quả kinh tế. Dựa trên kết quả phân loại từng nhóm đất đã được nhân dân thông qua, Ban chỉ đạo chuyển đổi của xã dự kiến hệ số chuyển đổi cho từng nhóm đất, ở từng xứ đồng, phương án làm thủy lợi nội đồng để nhân dân bàn bạc, thống nhất thực hiện.

Từ đó, nhân dân nhận thức được chuyển đổi ruộng đất theo nhóm hộ sẽ mang lại lợi ích trực tiếp, thiết thực, tạo được lòng tin và đồng thuận trong nhân dân. Trao đổi với chúng tôi, đồng chí Lê Văn Tình - Bí thư Chi bộ thôn Vĩnh Xuân cho biết thêm: “Chi bộ làm thông tư tưởng trong cán bộ, đảng viên, tổ chức họp dân phân tích để người dân hiểu rõ lợi ích lâu dài của chủ trương và được người dân đồng tình cao. Đồng thời các bước chuyển đổi ruộng đất đảm bảo công khai dân chủ, công bằng giữa các hộ nhận ruộng. Khi có nghị quyết của chi bộ thì đảng viên là người làm trước để quần chúng nhân dân noi theo".

Sau hơn một năm tích cực chuẩn bị thực hiện Nghị quyết 06, đến nay xã Thiệu Giang đã cơ bản sẵn sàng giao đất trên thực địa cho các hộ dân theo phương án đã thống nhất, khắc phục tình trạng manh mún, tạo ra các thửa ruộng có diện tích lớn để phát triển nông nghiệp theo hướng hàng hóa.

Đồng chí Lê Công Minh – Bí thư Đảng bộ xã Thiệu Giang cho biết thêm: “Cái được lớn nhất của chủ trương chuyển đổi ruộng đất theo nhóm hộ trên địa bàn xã là hình thành tư duy sản xuất mới cho bà con nông dân. Thông qua thực hiện nhiệm vụ này, Đảng ủy xã đã phát huy vai trò của cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể trong việc chuyển đổi ruộng đất, đồng thời đề ra phương án sản xuất mới sát với tình hình thực tế của địa phương”.

Phùng Thanh Tuyên

Sức sống làng nghề Trà Đông

Về làng Chè Đông (Trà Đông), xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa sẽ không khó bắt gặp hình ảnh những nghệ nhân mướt mồ hôi bên chiếc lò nung luôn đỏ lửa cùng những âm thanh của tiếng đục, tiếng mài, tiếng rũa bên những chiếc trống đồng, lư đồng vang lên khắp làng. Không khí nhộn nhịp ấy luôn được những con người giản dị, chất phát nơi đây gìn giữ từ đời này qua đời khác.

Sinh ra và lớn lên trong cái nôi có nghề đúc đồng nghệ nhân ưu tú Nguyễn Bá Châu đã vào nghề được 40 năm có lẻ. Ông đã từng gắn bó và chứng kiến những bước thăng trầm, biến cố của làng nghề nên luôn trăn trở, dành nhiều tâm huyết cho nghề đúc đồng, cho những tinh hoa của bao thế hệ trước đã gìn giữ và truyền lại. Nghệ nhân Bá Châu kể rằng, nghề đúc đồng là nghề “cha truyền con nối” trong gia đình ông tới cả chục đời, nên “lửa nghề” ngấm vào máu từ khi còn nhỏ. Nhưng những năm 80 của thế kỷ trước, nghề đúc đồng đã gần như không còn chỗ đứng. Nhiều gia đình phải chuyển đổi công việc khác. Bản thân ông cũng phải chuyển nghề làm thợ mộc, thợ may để mưu sinh nuôi gia đình. Với mong muốn khôi phục lại nghề đúc đồng, đến năm 2000, sau quá trình miệt mài nghiên cứu và sáng tạo, ông Châu đã đúc thành công chiếc trống đồng với chiều cao 12cm, đường kính 15cm. Chiếc trống này sau đó được tặng cho UBND tỉnh Thanh Hóa. Ông chính là nghệ nhân đầu tiên ở Thanh Hóa đúc thành công chiếc trống đồng bằng phương pháp thủ công. Hiện các con trai, con gái, dâu và rể của Nghệ nhân Nguyễn Bá Châu cũng đều theo nghề của gia đình, trong đó có anh Nguyễn Bá Quý (sinh năm 1987), tuy còn rất trẻ nhưng đã được tặng danh hiệu Nghệ nhân. Công ty của ông đang tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 20 lao động,

Dẫn chúng tôi đi thăm các sản phẩm của gia đình, nghệ nhân Lê Văn Bảy chia sẻ: Nghề đúc đồng ở Thiệu Trung cũng có những khác biệt so với một số nơi khác, người thợ ở đây có tay nghề, kinh nghiệm, không chỉ đơn thuần là làm theo quy trình sẵn có mà còn phải thổi vào từng sản phẩm nét văn hóa truyền thống. Để có được một sản phẩm đúc đồng đạt tiêu chuẩn cần phải trải qua một quy trình kỹ thuật phức tạp bao gồm các làm khuôn, pha chế hợp chất, nấu đồng, đúc sản phẩm, người thợ phải chú tâm, cẩn thận chau chuốt từng chi tiết. Toàn bộ quy trình vẫn được các nghệ nhân làm bằng phương pháp thủ công. Cơ sở đúc đồng của nghệ nhân ưu tú Lê Văn Bảy và Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đúc đồng truyền thống Đông Sơn - Chè Đông của nghệ nhân Nguyễn Bá Châu đã xác lập nhiều kỷ lục về đúc thành công trống đồng bằng phương pháp thủ công: Chiếc trống đồng nặng 8 tấn, có đường kính 2,7m và cao 2m; đúc 1.000 pho tượng Mẹ Âu Cơ làm quà tặng các nguyên thủ, chính khách của 21 nền kinh tế đến dự Hội nghị Cấp cao APEC tổ chức tại Đà Nẵng (tháng 11/2017); kỷ lục đúc đôi tượng đồng phiên bản “cây đèn hình người quỳ” lớn nhất Việt Nam; kỷ lục “người thực hiện đúc trống đồng đánh nganh hai mặt bằng phương pháp thủ công đầu tiên ở Việt Nam”...

Nghề đúc đồng ở Thiệu Trung có từ lâu đời và nghề này không phân biệt độ tuổi lớn nhỏ. Sản phẩm do người thợ đúc đồng Trà Đông làm ra hết sức đa dạng, phong phú song chủ yếu là hàng dân dụng truyền thống, các loại đồ thờ cúng, chuông, tượng, Đại tự, Cồng, chiêng, hay các tác phẩm nghệ thuật khác như đồng hồ, tranh bằng đồng. Đặc biệt là chiếc trống đồng là sản phẩm chủ đạo của làng nghề được nhiều du khách mua để trung bày tại gia đình, nơi làm việc, dùng để biếu, tặng, làm quà cho khách gần xa… Người thợ đúc đồng Trà Đông ngày nay còn có khả năng làm ra các loại chi tiết máy móc đảm bảo yêu cầu kỹ thuật. Sản phẩm của làng Trà Đông rất được ưa chuộng đảm bảo độ bền, sáng bóng, mẫu mã đẹp và không bị “rỉ đồng”. Ông Trần Công Lạc – Chủ tịch UBND xã Thiệu Trung cho biết: Xã đã quy hoạch 5,7 héc ta cho cụm làng nghề, có 32 hộ tham gia, trung bình mỗi hộ từ 10-20 lao động. Nhìn chung thu nhập từ nghề đúc đồng chiếm hơn 50% tổng thu nhập trên địa bàn, tạo điều kiện cho hàng trăm người có công ăn, việc làm và làm giàu chính đáng.

Nhằm phục vụ du khách tham quan, mua sắm, cùng với sự hỗ trợ của chính quyền địa phương, các hộ dân làng nghề đã cùng nhau đóng góp xây dựng Trung tâm giới thiệu và quảng bá sản phẩm làng nghề đúc đồng truyền thống, đồng thời thành lập ra Ban quản lý làng nghề. Và mới đây nghề đúc đồng cổ truyền của làng Chè Đông được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Đây sẽ một cơ hội lớn để quảng bá, xây dựng thương hiệu cho làng nghề; phát triển nơi đây trở thành điểm đến hấp dẫn của loại hình du lịch làng nghề.

Tuy nhiên, để nơi đây trở thành điểm đến du lịch làng nghề còn rất nhiều vấn đề đặt ra, đó là: hiện nay, quy mô sản xuất của các hộ còn nhỏ, chỉ quy mô gia đình và trong làng, khách du lịch ít có cơ hội để tiếp cận, tìm hiểu và trải nghiệm với các sản phẩm của làng nghề, chưa tạo ra nhiều sản phẩm đẹp, lạ. Mặt khác, việc kết nối giữa các làng nghề truyền thống với các doanh nghiệp, đơn vị lữ hành còn nhiều hạn chế, chưa xây dựng tour du lịch làng nghề; công tác quảng bá, xúc tiến du lịch tại các làng nghề cũng chưa được quan tâm đúng mức.

Chính vì vậy, để trở thành điểm đến du lịch làng nghề, trong thời gian tới huyện Thiệu Hóa cần xây dựng lộ trình, kết nối tuyến, điểm du lịch; hướng dẫn du khách tham quan, tham gia trực tiếp vào một số công đoạn sản xuất, hoàn thiện sản phẩm; hình thành dịch vụ ăn uống, lưu trú; tổ chức các trò chơi dân gian; quan tâm, không ngừng thay đổi kiểu dáng, mẫu mã sản phẩm. Mặt khác, các làng nghề và các doanh nghiệp du lịch, nhất là các doanh nghiệp du lịch lữ hành cần có sự kết hợp chặt chẽ để thúc đẩy, quảng bá hình ảnh, sản phẩm làng nghề tới đông đảo bạn bè, du khách trong và ngoài nước.

Trần Thanh Mai

LỊCH SỬ - VĂN HÓA - NGHỆ THUẬT

Hầm kháng chiến Thiệu Trung - Di tích lịch sử kháng chiến

Thiệu Trung là một vùng đất cổ có lịch sử lâu đời, nơi có truyền thống cách mạng, nhân dân cần cù lao động. Từ những ưu điểm đó, trước cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ; Thường trực Ủy ban hành chính tỉnh Thanh Hóa đã chọn thôn Phủ Lý Nam, xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa làm nơi xây dựng hầm trú ẩn - làm việc thời chiến, giai đoạn 1965 – 1972.

Ngày 07/02/1965, lấy cớ “trả đũa” quân Mỹ chính thức gây ra cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân lần thứ nhất đối với miền Bắc.

Nắm vững được những âm mưu và thủ đoạn của đế quốc Mỹ, Đảng ta đã kịp thời chỉ thị các địa phương sẵn sàng chiến đấu, đồng thời chuẩn bị mọi cơ sở cho hoạt động thời chiến. Thanh Hoá trở thành trọng điểm đánh phá, nên việc Sơ tán khỏi thị xã (thành phố Thanh Hóa ngày nay) của các cơ quan trong tỉnh nhằm tránh sự phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ là điều cần thiết.

Đầu năm 1965 Chủ tịch Ủy ban hành chính tỉnh Thanh Hoá giao cho Ủy ban huyện Thiệu Hoá, Ủy ban xã Thiệu Trung xây dựng hầm chỉ huy, trong thời gian ngắn nhất phải hoàn thành, để kịp thời phục vụ cho cán bộ trú ẩn và làm việc, sẵn sàng chỉ huy chiến đấu khi có giặc. Những người con ưu tú của quê hương Thiệu Hóa đã gấp rút ngày đêm tổ chức triển khai xây dựng công trình hầm làm việc và trú ẩn cho Thường trực Ủy ban hành chính tỉnh. Tham gia đào và xây hầm có:

- Tổ thợ xây gồm các ông: Trần Văn Trì, Trần Văn Phường, Trần Văn Dưỡng, Lê Doãn Lanh, Trần Văn Thỉnh, Trần Văn Đàm, Lê Duy Giúp.

- Cán bộ đoàn tham gia đào hầm và phụ xây gồm các ông, bà: Ông Trần Văn Hoàn, Nguyễn Văn Lạp, Vũ Đình Huê, Trương Trọng Dích; Bà Lê Thị Tiểu, Lê Thị Chính.

- Phụ nữ xã: Bà Trần Thị Lự.

- Công an xã: Ông Lê Xuân Dậu.

- Dân quân tự vệ đào và phụ xây gồm các ông bà: Ông Nguyễn Văn Trưởng, Trần Thái Mật, ông Lê Xuân Tiệp, Lê Văn Búp, Lê Xuân Tỵ, Lê Đăng Khoa, Lê Xuân Hân; Bà Trần Thị Thêu, Trần Thị Thoa, Lê Thị Phiến, Phạm Thị Phường.

Công việc tiến hành từ ngày 15/3 đến ngày 01/4/1965 hoàn thành. Khu vực hầm có diện tích gần 100m2 với khối lượng đào 40m3 đất, xây 20 m3 gạch, đắp 100m3 đất, sau đó trồng cây bao phủ lên bề mặt hầm. Bàn giao cho Thường trực Ủy ban hành chính tỉnh sử dụng trong cuộc kháng chiến chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Trong hầm thường xuyên có một bộ đàm đặt trên một cái bàn nhỏ rộng 0,35m; dài 0,8m; cao 0,8m. Một cái ghế để làm việc khi có báo động. Giúp việc cho lãnh đạo thường xuyên có hai đồng chí (bảo vệ, thư ký).

Các đồng chí đã từng làm việc ở hầm có: Đồng chí Lê Thế Sơn - Chủ tịch Ủy ban hành chính tỉnh Thanh Hoá từ năm 1961 đến tháng 12/1962 và từ năm 1966 đến tháng 3 năm 1967, đồng chí Võ Nguyên Lượng - Bí thư Tỉnh uỷ kiêm Chủ tịch Ủy ban hành chính tỉnh Thanh Hoá từ tháng 3/1967 - 12/1969.

Ở phía Bắc hầm là khu nhà làm việc của cán bộ Thường trực Ủy ban hành chính tỉnh Thanh Hoá (nhà tạm). Phía Nam hầm là gò Mã Dòm cũng có một lán là nơi làm việc của Uỷ ban hành chính. Phía Tây có một nhà khung bằng sắt, trong nhà có máy phát điện phục vụ cho Ủy ban hành chính. Thường thường trong hầm có 5 đến 6 người vừa trú ẩn và làm việc khi có báo động. Trong làng Phủ Lý Nam lúc này có rất nhiều hầm trú ẩn, tuy nhiên chỉ là hầm tạm. Duy nhất, chỉ có hầm chỉ huy của Thường trực Ủy ban hành chính tỉnh là kiên cố và chắc chắn hơn cả.

Di tích hầm trú ẩn, nơi làm việc của Thường trực Ủy ban hành chính tỉnh Thanh Hóa được Ủy ban nhân dân tỉnh xếp hạng di tích lịch sử cách mạng tại quyết định số 2620/QĐ – UBND, ngày 30/8/2007; đây là chứng tích lịch sử ghi nhận những sự kiện đã diễn ra trong thời kỳ chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở Thanh Hoá. Là chứng tích còn lại khá ít ỏi của một thời ác liệt vừa làm việc, vừa sẵn sàng chiến đấu của quân và dân xứ Thanh.

Trần Ngọc Tùng

Thơ: Tình đời

Mừng ngày Nhà giáo Việt Nam

Tự hào biết mấy muôn vàn kính yêu!

Miệt mài chăm chút sớm chiều

Ươm bao hạt giống, ủ nhiều ước mơ

Lặng thầm như những chuyến đò

Chở bao thế hệ học trò qua sông

Chắp bao đôi cánh sổ lồng

Nuôi bao măng lớn nối dòng tre pheo

Trải bao sóng gió ngặt nghèo

Thầy cô chẳng quản gieo neo thác ghềnh

Tình yêu dành cả môn sinh

Bao la biển cả, thắm tình mẹ cha

Ngày vui kính tặng đóa hoa

Chút lòng thơm thảo – cùng là nghĩa ân

Mong thầy cô mãi thanh xuân

Cho chồi đâm lộc vang ngân tình đời.

Nguyễn Thị Thúy (St)

Nguồn tuyển tập thơ "Quê hương Núi Đọ sông Chu, tập IV" NXB Thanh Hóa năm 2010.

0 bình luận
(Bấm vào đây để nhận mã)

CÔNG KHAI TIẾN ĐỘ GIẢI QUYẾT TTHC

CHI TIẾT